Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THỐT NỐT

THÀNH PHỐ CẦN THƠ


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 25/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 20-03-2025

“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, TP. CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Đông.
  2. Ông Nguyễn Hữu Đức.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Kiều Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 22/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2025/QÐST-HNGĐ ngày 07/3/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị Kim N, sinh năm 1984 (Có mặt)
  2. Địa chỉ: Khu vực TA1, phường TA, quận TN, thành phố C.

  3. Bị đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1982 (Vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Khu vực TA1, phường TA, quận TN, thành phố C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Phan Thị Kim N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phạm Văn T tiến đến hôn nhân vào năm 2004 trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thới Thuận, huyện Thốt Nốt (cũ) theo số đăng ký 27 ngày 28/01/2005. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn do ông T không lo làm ăn, chăm sóc tốt cho gia đình và cả hai luôn bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cự cãi làm hạnh phúc gia đình đỗ vỡ, không thể hàn gắn được và trong năm 2024 thì vợ chồng ly thân cho đến nay. Nay bà nhận thấy tình trạng hôn nhân không thể kéo dài, không còn tình cảm với ông T nên bà yêu cầu ly hôn.

Về con chung: Ông bà có hai con chung tên Phạm Quốc T (giới tính: nam), sinh ngày 03/8/2005 và Phạm Ngọc Thúy Y (giới tính: nữ), sinh ngày 05/4/2011. Hiện nay con chung Phạm Ngọc Thúy Y do bà N chăm sóc, nuôi dưỡng do vậy khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi con, bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung Phạm Quốc T đã trưởng thành và có khả năng lao động nên bà không có yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung bà xác định không có nên không yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án và triệu tập ông Phạm Văn T tham gia tố tụng theo quy định pháp luật nhưng ông T đều vắng mặt và cũng không nộp cho Tòa án văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa là đúng theo quy định pháp luật, đồng thời phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: Về hôn nhân chấp nhận cho bà Phan Thị Kim N được ly hôn với ông Phạm Văn T. Về con chung: giao con chung Phạm Ngọc Thúy Y cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con; Đối với con chung Phạm Quốc T đã trưởng thành, đương sự không yêu cầu nên không đặt vấn đề giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung - Không giải quyết trong cùng vụ án, khi đương sự có yêu cầu sẽ khởi kiện thành vụ án khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn ông Phạm Văn T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần hai nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt ông.

[2] Về hôn nhân: Xét bà Phan Thị Kim N và ông Phạm Văn T tiến tới hôn nhân vào năm 2004, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống giữa ông bà phát sinh mâu thuẫn, bà N cho rằng ông T không chăm lo gia đình, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng nhưng vợ chồng không khắc phục được, bà không thể tiếp tục chung sống với ông T nên bà cương quyết yêu cầu ly hôn, riêng ông T dù đã được Tòa án thông báo về việc yêu cầu ly hôn của bà N nhưng ông không có ý kiến. Từ đó, cho thấy mong muốn ly hôn của bà N là có nhưng ông T không có ý kiến và không có biện pháp gì hàn gắn gia đình. Xét vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng nay bà N xác định hạnh phúc gia đình không có, không thể tiếp tục chung sống với ông T, ông T lại không đưa ra biện pháp hàn gắn gia đình cho thấy hôn nhân của ông bà lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận cho bà Phan Thị Kim N được ly hôn với ông Phạm Văn T.

[3] Về con chung: Ông bà có hai con chung tên Phạm Quốc T (giới tính: nam), sinh ngày 03/8/2005 và Phạm Ngọc Thúy Y (giới tính: nữ), sinh ngày 05/4/2011. Khi ly hôn bà N yêu cầu tiếp tục nuôi con Phạm Ngọc Thúy Y, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con; về phía ông T từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay ông không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án cũng như không có bất cứ văn bản ghi ý kiến nào về các yêu cầu của nguyên đơn. Xét hiện con chung do bà N nuôi dưỡng, con có nguyện vọng được sống với bà N và qua xác minh ở địa phương không xảy ra vụ việc về bạo lực gia đình. Do vậy, nếu thay đổi người nuôi con có thể ảnh hưởng đến tâm lý của con nên Hội đồng xét xử xét thấy giao con chung cho bà N tiếp tục nuôi con là phù hợp. Ngoài ra, xét vấn đề cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của cha mẹ, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên người được quyền yêu cầu cấp dưỡng không có yêu cầu ông T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định nên Hội đồng xét xử không buộc ông T phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp. Đối với con chung Phạm Quốc T đã trưởng thành, đương sự không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết trong cùng vụ án, khi đương sự có yêu cầu sẽ khởi kiện thành vụ án khác.

[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Phan Thị Kim N phải chịu theo quy định pháp luật.

[6] Xét đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 266, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

* Tuyên án:

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phan Thị Kim N và ông Phạm Văn T.
  2. Về con chung: Ông bà có hai con chung tên Phạm Quốc T (giới tính: nam), sinh ngày 03/8/2005 và Phạm Ngọc Thúy Y (giới tính: nữ), sinh ngày 05/4/2011. Giao con chung Phạm Ngọc Thúy Y cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung cho ông T không ai được quyền cản trở. Ông T, bà N có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con vì lợi ích của con.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết trong cùng vụ án, khi đương sự có yêu cầu sẽ khởi kiện thành vụ án khác.

- Về án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm: Bà Phan Thị Kim N phải chịu tiền án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đông mà bà đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ theo biên lai thu tiền số 0005904 ngày 03/01/2025 được chuyển thành án phí.

Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự văng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND quận Thốt Nốt;
  • - UBND phường Thới Thuận;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hoàng Thị Kim Hưng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Đông

Nguyễn Hữu Đức

Hoàng Thị Kim Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HNGĐ-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 25/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 20 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 22/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2025/QĐST–HNGĐ ngày 07/3/2025 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị Kim N, sinh năm 1984 (Có mặt) Địa chỉ: Khu vực TA1, phường TA, quận TN, thành phố C. 2. Bị đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1982 (Vắng mặt) Địa chỉ: Khu vực TA1, phường TA, quận TN, thành phố C.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger