Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ PHONG ĐIỂN

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 18/3/2025

“V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHONG ĐIỂN, THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Anh Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hồ Văn Nhân.
  2. Bà Nguyễn Thị Diệu Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phong Điền.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phong Điền, thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Phong Điền, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 138/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2024, về việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lê Thu P, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn L, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
  2. Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1975; Địa chỉ Thôn G, xã Đ, thị xã P, thành phố H. Vắng mặt lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 05/9/2024, đơn khởi kiện bổ sung ngày 04/11/2024 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Lê Thu P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thu P và anh Trần Văn Tương tự N đăng ký kết hôn ngày 05/4/2011 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau, anh T nhiều lần uống rượu say xỉn chửi mắng, đánh đập chị P. Từ năm 2015 đến nay, vợ chồng sống ly thân, không quan tâm chăm sóc cho nhau, mặc ai người đó sống. Nay chị P xác định mâu thuẫn vợ chồng không khắc phục được, tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

Về con chung: Chị Lê Thu P trình bày vợ chồng có 01 người con chung là cháu Trần Văn T1, sinh ngày 22/4/2012 hiện đang ở với anh T. Chị P yêu cầu giao cháu T1 cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi, do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên chị không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kèm theo đơn khởi kiện, nguyên đơn đã nộp các tài liệu, chứng cứ gồm: Giấy chứng nhận kết hôn; bản sao Giấy khai sinh cháu Trần Văn T1, bản sao căn cước công dân của chị Lê Thu P, anh Trần Văn T.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh Trần Văn T nhưng quá thời hạn luật định, anh T không có bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vắng mặt tại các phiên họp, phiên hòa giải.

Kết quả xác minh: Anh Trần Văn T và chị Lê Thu P đăng ký kết hôn ngày 05/4/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, mười năm nay vợ chồng sống ly thân. Chị P sinh sống ở Quảng Bình; anh T và cháu Trần Văn T1 sống cùng với gia đình anh T tại tổ dân phố G, phường P, thị xã P. Anh T đã nhận các văn bản tố tụng của Toà án tống đạt nhưng do bận công việc làm ăn nên không đến Toà án được, đề nghị Toà án giải quyết vụ án vắng mặt anh.

Tại phiên tòa ngày 11/3/2025, anh T vắng mặt lần thứ nhất nên Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa; tống đạt hợp lệ quyết định hoãn phiên toà, giấy triệu tập cho anh T. Tại phiên toà lần thứ hai, anh T tiếp tục vắng mặt.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng, vắng mặt tại các phiên tòa.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí xử buộc nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên toà, nhận định:

[1] Về tố tụng:

1.1. Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn bị đơn anh Trần Văn T có địa chỉ cư trú tại: phường P, thị xã P, thành phố H. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thị xã Phong Điền.

1.2. Về thủ tục tố tụng: Theo quy định tại Điều 175, Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự, việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn là hợp lệ. Tại phiên tòa lần thứ nhất ngày 11/3/2025, bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa, tống đạt quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập cho bị đơn. Tại phiên tòa lần thứ hai, bị đơn tiếp tục vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thu P và anh Trần Văn Tương tự N đăng ký kết hôn ngày 05/4/2011 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, do đó quan hệ hôn nhân giữa hai người là hợp pháp. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng do tính tình không hợp, thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau; anh T nhiều lần uống rượu chửi mắng, đánh đập chị P. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay, không quan tâm, chăm sóc cho nhau. Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã nhiều lần tổ chức phiên hoà giải nhưng anh T đều vắng mặt nên không tiến hành hoà giải được. Tại phiên toà chị P giữ nguyên yêu cầu ly hôn. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị P, anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị P.

[2.2] Về việc nuôi con chung:

Xét yêu cầu của nguyên đơn thấy rằng: Trong thời gian vợ chồng sống ly thân từ năm 2015 đến nay, cháu Trần Văn T1, sinh ngày 22/4/2012 do anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù anh T không có ý kiến gì về việc nuôi con sau khi ly hôn nhưng hiện tại anh T đang là người chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1; cháu T1 cũng có nguyện vọng được ở với anh T. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống của cháu T1 cần chấp nhận yêu cầu của chị P về việc nuôi con sau khi ky hôn, giao cháu T1 cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[2.4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thu P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thu P. Chị Lê Thu P được ly hôn anh Trần Văn T.
  2. Về việc nuôi con chung:

    Giao cháu Trần Văn T1, sinh ngày 22/4/2012 cho anh Trần Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.

    Chị Lê Thu P không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

    Chị Lê Thu P có quyền thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thu P phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000978 ngày 06/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phong Điền. Chị P đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Huế;
  • - VKSND thị xã Phong Điền;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS thị xã Phong Điền;
  • - UBND xã Vĩnh Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, ĐKKH số 24, quyền số 1/2011;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Anh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HNGĐ-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHONG ĐIỂN, THÀNH PHỐ HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 25/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHONG ĐIỂN, THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn chị Lê Thu P yêu cầu ly hôn anh Trần Văn T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger