Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG PHÚ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 25/2025/HNGĐ - ST.

Ngày: 14 - 3 - 2025.

“V/v Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Thạch Thanh Tâm.

Ông Nguyễn Thanh Rực.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Hồng Như - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 238/2024/TLST - HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2024 về “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thúy C, sinh năm 1994; địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
  2. Bị đơn: Ông Đoàn Hoàng T, sinh năm 1988; địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện lập ngày 20/12/2024 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị Thúy C trình bày: Nguyên vào năm 2012, bà Trần Thị Thúy C và ông Đoàn Hoàng T tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Sóc Trăng, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 44/2012 ngày 22/7/2012. Sau khi kết hôn bà C và ông T chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, đời sống vợ chồng không hạnh phúc. Trong thời gian chung sống bà C và ông T có hai người con chung là Đoàn Thị Anh T1, sinh ngày 25/3/2017 và Đoàn Thị Anh T2, sinh ngày 27/01/2015. Về tài sản chung và nợ chung, bà C và ông T không có.

Tại phiên tòa, bà Trần Thị Thúy C yêu cầu ly hôn với ông Đoàn Hoàng T; về con chung: Bà Trần Thị Thúy C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Đoàn Thị Anh T1, sinh ngày 25/3/2017 và giao cháu Đoàn Thị Anh T2, sinh ngày 27/01/2015 cho ông Đoàn Hoàng T trực tiếp nuôi dưỡng. Bà C và ông T không ai cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung bà C không yêu cầu gì. về nợ chung không có nên bà C không yêu cầu gì.

Đối với bị đơn ông Đoàn Hoàng T: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông T, nhưng ông T không có ý kiến phản đối gì. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông T 02 lần để tham gia tố tụng tại phiên hòa giải nhưng ông T vắng mặt nên Tòa án đã lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được. Bị đơn ông Đoàn Hoàng T đã được triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tham gia phiên tòa trình bày ý kiến: Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định Tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật; việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Đối với bị đơn ông Đoàn Hoàng T chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra các chứng cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa xét thấy tình trạng của vợ chồng bà Trần Thị Thúy C và ông Đoàn Hoàng T đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà C; giao cháu tên Đoàn Thị Anh T1, sinh ngày 25/3/2017 cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi, ông T không cấp dưỡng cho cháu T1. Đồng thời giao cháu tên Đoàn Thị Anh T2, sinh ngày 27/01/2015 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi, bà C không cấp dưỡng cho cháu T2; về tài sản chung và nợ chung không có nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 20/12/2024, nguyên đơn bà Trần Thị Thúy C và ông Đoàn Hoàng T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Sóc Trăng, giấy chứng nhận kết hôn số số: 44/2012 ngày 22/7/2012. Về con chung: Bà C yêu cầu xin được ly hôn với ông Đoàn Hoàng T, bà C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Đoàn Thị Anh T1, sinh ngày 25/3/2017 và giao cháu Đoàn Thị Anh T2, sinh ngày 27/01/2015 cho ông Đoàn Hoàng T trực tiếp nuôi dưỡng. Bà C và ông T không ai cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung bà C không yêu cầu gì. về nợ chung không có nên bà C không yêu cầu gì. Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng thụ lý vụ án và xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giải quyết “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về thẩm quyền giải quyết: Trong vụ án, bị đơn ông Đoàn Hoàng T hiện đang cư trú tại ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Sóc Trăng nên Tòa án nhân dân huyện Long Phú thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]. Bị đơn ông Đoàn Hoàng T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông T.

[4]. Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, bà Trần Thị Thúy C và ông Đoàn Hoàng T tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Sóc Trăng, giấy chứng nhận kết hôn số: 44/2012 ngày 22/7/2012 nên quan hệ hôn nhân giữa bà C và ông T là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình, bà C có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Xét lý do yêu cầu ly hôn của bà C, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong thời gian chung sống ông, bà luôn xảy ra bất đồng ý kiến trong cuộc sống nên vợ chồng thường cãi vã qua lại, mâu thuẫn kéo dài, từ đó cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc, luôn bất hòa. Ông T và bà C đã sống ly thân với nhau từ năm 2019 cho đến nay và sau khi sống ly thân thì ông T và bà C có gặp nhau nhưng không hàn gắn tình cảm được. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên hòa giải để động viên vợ chồng ông T và bà C đoàn tụ với nhau nhưng ông T vẫn vắng mặt và bà C vẫn kiên quyết ly hôn với ông T vì tình cảm vợ chồng không còn. Như vậy, tình trạng của vợ chồng ông T và bà C đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét yêu cầu xin ly hôn của bà C là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà C được ly hôn với ông T.

[5]. Về con chung: Bà Trần Thị Thúy C xác định trong thời gian chung sống, bà C và ông T có 02 người con chung là Đoàn Thị Anh T1, sinh ngày 25/3/2017 và giao cháu Đoàn Thị Anh T2, sinh ngày 27/01/2015, hiện cháu T1 đang sống chung với bà C và cháu T2 đang sống với ông T; bà C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1 đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi và giao cháu T2 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng cháu T2 đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi. Xét thấy, từ khi bà C và ông T không sống chung với nhau cho đến nay cháu T1 do bà C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và cháu T2 do ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Đồng thời trong quá trình giải quyết vụ án cháu T1 có nguyện vọng sống chung với bà C và cháu T2 có nguyện vọng sống chung với ông T. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu T1 và cháu T2, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải giao cháu T1 cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng và cháu T2 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình. Ngoài ra, căn cứ vào Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử dành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho bà Trần Thị Thúy C và ông Đoàn Hoàng T mà không ai được cản trở.

[6]. Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà Trần Thị Thúy C và ông Đoàn Hoàng T không yêu cầu cấp dưỡng cho con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7]. Về tài sản chung: Bà Trần Thị Thúy C xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[8]. Về nợ chung: Bà Trần Thị Thúy C xác định trong thời gian chung sống bà C và ông Đoàn Hoàng T không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[9]. Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10]. Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bà Trần Thị Thúy C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Đoàn Hoàng T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thúy C.
    1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thúy C được ly hôn với ông Đoàn Hoàng T.
    2. Về con chung: Giao cháu Đoàn Thị Anh T1, sinh ngày 25/3/2017 cho bà Trần Thị Thúy C trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi; ông Đoàn Hoàng T không cấp dưỡng cho cháu T1.

      Giao cháu Đoàn Thị Anh T2, sinh ngày 27/01/2015 cho ông Đoàn Hoàng T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi; bà Trần Thị Thúy C không cấp dưỡng cho cháu T2.

      Dành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho bà Trần Thị Thúy C và ông Đoàn Hoàng T mà không ai được cản trở.

    3. Về tài sản chung: Bà Trần Thị Thúy C xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
    4. Về nợ chung: Bà Trần Thị Thúy C xác định trong thời gian chung sống bà C và ông Đoàn Hoàng T không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Thúy C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009202 ngày 23/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng; như vậy, bà Trần Thị Thúy C đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm. Ông Đoàn Hoàng T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Long Phú;
  • - UBND xã P;
  • - Chi cục THADS huyện Long Phú;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng (P. TT,KT&THA);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Trần Ngọc Ánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HNGĐ - ST. ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn và tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 25/2025/HNGĐ - ST.
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger