Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁI THỤY

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HS-ST

Ngày: 11/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy Dung;

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Hoàng Văn Tuấn – Phó Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình;

- Bà Vũ Thị Thúy - Phó hiệu trưởng Trường Tiểu học và THCS Thụy Hà, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình;

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nhật Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Tô Tuấn Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST- HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 đối với:

Bị cáo Đặng Hữu P, sinh ngày 15/6/2007; Nơi cư trú: Thôn B Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Đặng Minh T, sinh năm 1979 và bà Đặng Thị C, sinh năm 1987; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; Triệu tập có mặt tại phiên tòa.

Những người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Đặng Minh T, sinh năm 1979 và bà Đặng Thị C, sinh năm 1987 (Đều có mặt)

Đều có nơi cư trú: Thôn B Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình;

* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Phan Thị Minh H – Trợ giúp viên pháp lý tại Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (Có mặt)

* Bị hại: Cháu Đặng Đức T1, sinh ngày 20/7/2007 (Có mặt)

Những người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Đặng Văn T2, sinh năm 1978 (vắng mặt) và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1981 (Có mặt)

Đều có nơi cư trú: Thôn C Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình;

* Đại diện Đoàn thanh niên: Bà Bùi Thị P1 – Bí thư Đoàn xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; (Có mặt)

* Người làm chứng:

- Anh Phạm Đức T3, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 25/11/2024, Đặng Hữu P đi bộ đến nhà bạn là cháu Đặng Đức T1 chơi nhưng cháu T1 và gia đình không có ai ở nhà, khoá cửa. Do biết chìa khoá nhà cháu T1 thường để ở dưới viên gạch trên bức tường bao trước cửa nhà, P tìm và tự lấy chìa khoá rồi mở cửa đi vào trong nhà ngồi chơi, hút thuốc lào, bật tivi xem. Khoảng 15 phút sau, thấy tiếng chuông điện thoại di động trong phòng ngủ của cháu T1, P đi vào thấy chiếc điện thoại Iphone 11 pro màu xanh, trị giá 3.933.000 đồng của cháu T1 để ở đầu giường, dưới chiếc áo nên nảy sinh ý định lấy điện thoại của cháu T1 đem bán, lấy tiền chi tiêu cá nhân. Trước đó, đã nhiều lần mượn điện thoại của cháu T1 sử dụng nên P biết mật khẩu là “207007” nên mở được điện thoại, tháo sim điện thoại vứt đi và thoát tài khoản Icloud rồi cho vào trong túi áo khoác đang mặc, đi ra khỏi nhà cháu T1, khoá cửa lại, cất chìa khóa vào chỗ cũ. Khi về nhà, P lấy xe mô tô của mẹ đi đến cửa hàng điện thoại của anh Phạm Đức T3 bán được 3.000.000 đồng. Số tiền này, P đã chi tiêu cá nhân hết.

Bản kết luận định giá tài sản số 45/KL-HĐĐGTS ngày 06/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: “01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 11Pro màu xanh, bản 64GB, số Imei 353241102802454, số máy MW9F2LL/A (đã qua sử dụng) trị giá 3.933.000 đồng”.

Bản cáo trạng số 39/CT-VKSTT ngày 21/02/2025 truy tố bị cáo Đặng Hữu P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trong bản Cáo trạng và xin HĐXX xem xét cho bị cáo được tự cải tạo tại địa phương

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị tuyên bố bị cáo Đặng Hữu P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; 38; 91; 98; 101; 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đặng Hữu P từ 06 đến 09 tháng nhưng cho hưởng án treo. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra bị cáo còn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Đặng Hữu P phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo P là vi phạm pháp luật, bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội, tuy nhiên đề nghị HĐXX xem xét bị cáo là người chưa thành niên, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Ngoài những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng, trợ giúp viên pháp lý đề nghị HĐXX xem xét tình tiết bị cáo đã bồi thường số tiền 3.000.000 đồng cho anh Phạm Đức T3 để áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo mức án thấp nhất, cho bị cáo được tự cải tạo tại địa phương. Bị cáo P và những người đại diện hợp pháp của bị cáo nhất trí với quan điểm của người bào chữa.

Bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến tranh luận gì thêm và đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị HĐXX xem xét tình tiết bị cáo đã bồi thường số tiền 3.000.000 đồng cho anh T3 là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không tranh luận gì và nói lời sau cùng: Bị cáo thấy việc làm của mình là sai, bị cáo rất ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để sớm trở thành người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Tại phiên toà, bị cáo Đặng Hữu P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã xác định. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, và còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ như: Đơn trình báo và biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; biên bản xác định hiện trường; sơ đồ hiện trường; bản ảnh hiện trường; kết luận định giá tài sản số 45/KL,...cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 25/11/2024, khi đến nhà cháu Đặng Đức T1 chơi, lợi dụng lúc gia đình cháu T1 không có ai ở nhà, Đặng Hữu P đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11Pro màu xanh, trị giá 3.933.000 đồng để bán lấy tiền tiêu xài.

Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”

Do đó, hành vi của bị cáo Đặng Hữu P đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự.

[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Tại giai đoạn điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gây thiệt hại không lớn, tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi ngay và trả lại cho bị hại và gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo cũng đã bồi thường số tiền 3.000.000 đồng cho anh Phạm Đức T3, người mua chiếc điện thoại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được Hội đồng xét xử áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Thời điểm phạm tội, bị cáo P 17 tuổi 5 tháng 10 ngày nên được áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại Điều 90, 91 Bộ luật Hình sự và những quy định có lợi của Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[5] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy rằng không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà buộc bị cáo phải cải tạo, giáo dục dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi cư trú là phù hợp. Bị cáo là người dưới 18 tuổi, không có tài sản riêng giá trị, không có việc làm ổn định nên không khấu trừ thu nhập và áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và vẫn còn nguyên vẹn, gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên vấn đề trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng không đặt ra giải quyết.

[7] Anh Phạm Đức T3 là người mua lại chiếc điện thoại từ Đặng Hữu P nhưng khi mua không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.

[8] Về án phí: Bị cáo P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa, bị hại và những người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Hữu P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 36; Điều 90, Điều 91; Điều 100 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Đặng Hữu P 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ, không khấu trừ thu nhập đối với Đặng Hữu P. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an tỉnh T nhận được Quyết định thi hành án. Giao bị cáo Đặng Hữu P cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình và gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo.

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Đặng Hữu P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 11/3/2025. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND h. Thái Thụy;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS h. Thái Thụy;
  • - Công an tỉnh Thái Bình;
  • - TAND tỉnh Thái Bình;
  • - UBND xã Thụy Phong;
  • - Những người tham gia TT;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
  • - Lưu HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Vũ Thị Thùy Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 25/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Hữu P phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger