Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HS-ST

Ngày 07-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

  • - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

    Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Ánh

    Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thu Hoài - cán bộ nghỉ hưu

    Ông Vũ Anh Tuấn - Cán bộ nghỉ hưu

  • - Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Lan Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Xuân Luyện - Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 18/02/2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Bùi Quốc C (Tên gọi khác: không); sinh ngày 05/01/1996 tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ F, khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: lớp 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Bùi Văn N sinh năm 1962 và bà Kiều Thị N1 sinh năm 1958; vợ là Nguyễn Thị T sinh năm 1995; có 01 con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: chưa; Nhân thân: ngày 27/4/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 18 tháng tù về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy", ngày 15/5/2019 chấp hành xong hình phạt tù. Bị cáo bị giữ khẩn cấp, bị bắt và bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam ngày 13/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.
  2. Họ và tên: Trần Đức H (tên gọi khác: không), sinh ngày 28/9/1995 tại tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: tổ G, khu H, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: Lớp 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Trần Đức M sinh năm 1969 và Phạm Thị N2 sinh năm 1971; vợ là Lương Thiên T1 sinh năm 1991 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: chưa; Bị cáo bị giữ khẩn cấp và bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam ngày 12/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.
  3. Họ và tên: Đặng Tuấn A (tên gọi khác: không), sinh ngày 28/12/1991 tại tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: tổ A, khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: Lớp 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Đặng Văn Q sinh năm 1964 và bà Phạm Thị Đ sinh năm 1972; vợ là Hoàng Thị Ngọc T2 sinh năm 1991; có 01 con sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: chưa; Bị cáo bị giữ khẩn cấp và bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam ngày 12/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.
  • - Người bào chữa cho bị cáo Bùi Quốc C: bà Trần Thị Minh H1 – Luật sư của Công ty L thuộc Đoàn luật sư tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

  • - Những người tham gia tố tụng khác:

    Người làm chứng: anh Đinh Quang M1, chị Hoàng Phương T3, anh Nguyễn Ngọc T4, anh Cao Ngọc P, anh Đỗ Trung H2, chị Đoàn Thị Thu D, đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 23 giờ 20 phút ngày 12/5/2024, tại khu vực sảnh chung cư T ở tổ A, khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, phòng Cảnh sát điều tra tội phạm ma túy Công an tỉnh Q phối hợp với Đoàn Đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 1 - Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển, Công an phường H tiến hành kiểm tra xe ô tô biển kiểm soát (BKS) 14A-818.24 có Đặng Tuấn A đang ngồi trên ghế lái và Trần Đức H đang ngồi trên ghế phụ của xe ô tô. Quá trình kiểm tra đã phát hiện, bắt quả tang Trần Đức H và Đặng Tuấn A đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ tại mặt đất cạnh cánh cửa bên phụ của xe ô tô: 01 phong bì bên trong có 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng có khối lượng 0,652 gam theo kết quả giám định là ma túy Ketamine và 03 viên nén màu xám có tổng khối lượng 1,596 gam theo kết quả giám định là ma túy MDMA.

Tại Cơ quan điều tra Trần Đức H khai nhận: số ma túy trên H mua của Đặng Tuấn A và Bùi Quốc C. Căn cứ vào lời khai của Trần Đức H và Đặng Tuấn A, ngày 13/5/2024, Cơ quan điều tra đã bắt khẩn cấp Bùi Quốc C và tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của C tại tổ F, khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vật chứng thu giữ tại ngăn kéo tủ trong phòng ngủ của C 01 túi nylon chứa chất tinh thể mầu trắng có khối lượng 0,908 gam theo kết quả giám định là ma túy Ketamine, thu tại cửa sổ phòng ngủ 01 túi nylon chứa 02 viên nén mầu xám có tổng khối lượng 1,058 gam theo kết quả giám định là ma túy MDMA.

(Kết luận giám định số 686 ngày 19/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q).

Quá trình điều tra xác định được hành vi phạm tội của các bị cáo như sau:

Chiều ngày 12/5/2024, Trần Đức H đến khu vực ngõ vào nhà Bùi Quốc C ở tổ F, khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh mua của C 02 túi ma túy Ketamine với giá 3.000.000 đồng. Sau đó H đến khu vực quán L1 ở phường H, thành phố H mua của Đặng Tuấn A 05 viên ma túy MDMA với giá 400.000 đồng/1 viên. Do Tuấn A chỉ còn 04 viên ma túy MDMA nên Tuấn A chở H đến gần nhà C mua thêm của C 1 viên ma túy để bán lại cho H. Mua ma túy của Tuấn A xong, H nhờ Tuấn A điều khiển xe ô tô BKS 14A-818.24 chở H đến cổng trào khu F, phường Y, thành phố H để H bán ma túy cho khách, Tuấn A đồng ý. Trên đường đi H chia số ma túy mua được của C và Tuấn A vào 02 phong bì, trong đó có 01 phong bì chứa 03 viên ma túy MDMA, 01 túi ma túy Ketamine và 01 phong bì chứa 02 viên ma túy MDMA và 01 túi ma túy Ketamine. Khi Tuấn A chở H đến cổng trào khu F, phường Y, thành phố H, H đã bán 01 phong bì chứa 02 viên ma túy MDMA và 01 túi ma túy Ketamine cho Đinh Quang M1 (sinh năm 1990, cư trú tại tổ H, khu A, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh) với giá 450.000 đồng/01 viên ma túy MDMA và 1.800.000 đồng/01 túi ma túy Ketamine. Sau đó Tuấn A lái xe đến khu vực sảnh chung cư T ở tổ A, khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh thì bị lực lượng chức năng khám xét thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Trước lần phạm tội này, Bùi Quốc C, Trần Đức H và Đặng Tuấn A đã có nhiều lần mua bán ma túy với nhau và với những đối tượng khác nhau, tuy nhiên do số lượng ma túy Ketamine và viên ma túy MDMA mà các bị cáo đã bán không thu giữ được, nên theo nguyên tắc có lợi cho các bị cáo, xác định 01 túi ma túy các bị cáo đã bán không thu giữ được có khối lượng bằng khối lượng thấp nhất của 01 túi ma túy đã thu giữ được là 0,652 gam; 01 viên ma túy MDMA không thu giữ được có khối lượng bằng khối lượng trung bình của 01 viên ma túy MDMA đã thu giữ được là 0,53 gam. Hành vi phạm tội cụ thể của các bị cáo như sau:

  1. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Bùi Quốc C như sau:
  2. Từ ngày 05/3/2024 đến ngày 02/5/2024, Bùi Quốc C đã 03 lần đến thành phố Hải Phòng mua ma túy Ketamine và thuốc lắc (ma túy MDMA) với số lượng khác nhau. Sau khi mua được ma túy, C mang về chia nhỏ ma túy Ketamine thành nhiều túi. Trong thời gian từ đầu tháng 3/2025 cho đến khi bị bắt ngày 12/5/2024, C đã nhiều lần bán ma túy cho các đối tượng khác nhau nhưng trong đó xác định được một số đối tượng cụ thể như sau:

    • Khoảng đầu tháng 3/2024, tại khu vực Trạm đăng kiểm xe ô tô ở phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, C đã 04 lần bán ma túy cho Hoàng Phương T3 (sinh năm 1993, trú tại tổ A, khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, mỗi lần C bán cho T3 01 túi ma túy Ketamine đều với giá 1.800.000 đồng/1 túi. Tiếp tục đến khoảng đầu tháng 5/2024, cũng tại khu vực Trạm đăng kiểm xe ô tô ở phường H, thành phố H, C đã nhiều lần bán ma túy cho T3 tổng cộng 04 túi ma túy Ketamine với giá 1.800.000 đồng/1 túi và 10 viên ma túy MDMA với giá 400.000 đồng/1 viên. Trong đó có có một lần vào tối ngày 08/5/2024, C giao cho Tuấn A 02 viên ma túy MDMA và 01 túi ma túy Ketamine để Tuấn A mang đến trạm đăng kiểm bán cho T3 và trả công cho Tuấn A 400.000 đồng. Như vậy C đã nhiều lần bán trái phép chất ma túy cho Hoàng Phương T3 tổng cộng 10 túi ma túy Ketamine có tổng khối lượng: 10x0,652=6,52 gam và 10 viên ma túy MDMA có tổng khối lượng: 10x0,53=5,3 gam.
    • Vào tối ngày 07/3/2024, tại khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Bùi Quốc C bán cho Nguyễn Ngọc T4 (sinh năm 1980, trú tại tổ C, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh) 03 túi ma túy Ketamine với giá 5.400.000 đồng. Sau đó, khoảng 01 giờ ngày 14/3/2024, cũng tại khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, C bán cho Nguyễn Ngọc T4 01 túi ma túy Ketamine với giá 1.800.000 đồng. 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Ngọc T4 tổng cộng 04 túi ma túy Ketamine có tổng khối lượng: 04x06,52=2,60 gam
    • Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 12/5/2024, tại sảnh chung cư GREEN DAIMOND, ở phường Y, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Bùi Quốc C đã bán cho Cao Ngọc P (sinh năm 1991, trú tại khu N, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ) 02 túi ma túy Ketamine với giá 4.100.000 đồng. P đã chuyển trả tiền mua ma túy vào tài khoản mang tên BUI QUOC CONG mở tại ngân hàng B của C. 01 lần bán 02 túi ma túy Ketamine có tổng khối lượng: 02x0,652=1,304 gam cho Cao Ngọc P.
    • Ngoài các đối tượng trên C có quan hệ bạn bè với Trần Đức H và Đặng Tuấn A nên C thỏa thuận bán ma túy cho H và Tuấn A với giá 1.500.000 đồng/1 túi ma túy Ketamine và 400.000 đồng/1 viên ma túy MDMA, để H và Tuấn A vừa sử dụng và vừa bán lại cho khách. Từ đầu tháng 3/2024 đến ngày 12/5/2024, C đã nhiều lần bán ma túy cho Trần Đức H, Đặng Tuấn A. Do thời gian mua bán đã lâu và mua bán nhiều lần, nên C, H và Tuấn A không nhớ được từng lần cụ thể. Công xác định đã bán cho H nhiều lần tổng cộng 24 túi ma túy loại Ketamine có tổng khối lượng là: 24x 0,652= 15,648 gam và 25 viên ma túy MDMA có tổng khối lượng là: 25x0,53=13,25 gam với tổng số tiền là 46.000.000 đồng. Đồng thời đã bán cho Đặng Tuấn A tổng cộng 30 túi ma túy Ketamine có tổng khối lượng: 30x0,652=19,56 gam và 40 viên ma túy MDMA có tổng khối lượng: 40x0,53=21,2 gam với tổng số tiền là 61.000.000 đồng.

    Ngoài ra Công còn có hành vi tàng trữ trái phép 01 túi ma túy Ketamine có khối lượng 0,908 gam và 02 viên ma túy MDMA có tổng khối lượng 1,058 gam nhằm mục đích để bán.

    Tổng cộng Bùi Quốc C có hành vi mua bán trái phép 46,53 gam ma túy Ketamine và 42,39 gam ma túy MDMA (đã bao gồm 3 viên thuốc lắc giúp sức cho Đặng Tuấn A bán cho Đoàn Thị Thu D sẽ được nêu trong hành vi của Tuấn A và phần ma túy).

  3. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Trần Đức H:
  4. Trong thời gian từ đầu tháng 3/2024 cho đến khi bị bắt, Trần Đức H mua được của Bùi Quốc C tổng cộng 24 túi ma túy Ketamine và 25 viên ma túy MDMA, H đã sử dụng một phần cho bản thân và bán lẻ cho các đối tượng khác để kiếm lời như sau:

    • Vào khoảng cuối tháng 4/2024, tại khu vực L phường C, thành phố H, Trần Đức H đã bán cho Đỗ Trung H2 (sinh năm 1998, cư trú tại tổ B, khu E, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh) 03 viên ma túy MDMA với giá 1.200.000 đồng. Tiếp tục vào đầu tháng 5/2024, cũng tại khu vực L phường C thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Trần Đức H bán cho Đỗ Trung H2 01 viên ma túy MDMA với giá 400.000 đồng. Toàn bộ số ma túy mua được của H, H2 đã sử dụng hết cho bản thân. Cả 2 lần mua ma túy H2 đều trả tiền mua ma túy cho H và nhận ma túy từ H. Số ma túy mua được của H, H2 đã sử dụng hết cho bản thân. 02 lần bán tổng cộng 04 viên ma túy MDMA có tổng khối lượng: 04x0,53=2,12 gam cho Đỗ Trung H2.
    • Tối ngày bị bắt giữ 12/5/2024, Trần Đức H nhờ Đặng Tuấn A chở H đến cổng trào khu F, phường Y, thành phố H. Tại đây H đã bán cho Đinh Quang M1 02 viên ma túy thuốc lắc và 01 túi ma túy Ketamine như đã nêu ở phần trên.
    • H còn khai nhận nhiều lần bán ma tuý cho các đối tượng không biết tên và địa chỉ tổng cộng 12 túi ma tuý Ketamine có tổng khối lượng là: 12x0,652=7,824 gam và 13 viên ma tuý MDMA có tổng khối lượng là: 13x0,53=6,89 gam.

    Ngoài ra H còn có hành vi tàng trữ trái phép 01 túi ma túy Ketamine có khối lượng 0,652 gam và 03 viên ma túy MDMA có tổng khối lượng 1,596 gam.

    Tổng cộng Trần Đức H mua bán trái phép 11,666 gam chất ma túy MDMA và 9,128 gam ma túy Ketamine. Số ma túy mua của C còn lại Trần Đức H đã sử dụng hết cho bản thân.

  5. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Đặng Tuấn A:
  6. Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 3/2024 cho đến khi bị bắt số ma túy Đặng Tuấn A mua được của Bùi Quốc C gồm 30 túi ma túy Ketamine và 40 viên ma túy MDMA, Tuấn A hầu hết đã sử dụng cho bản thân và một lần cho Đoàn Thị Thu D như sau:

    Khoảng 19 giờ ngày 12/5/2024, Đoàn Thị Thu D, sinh năm 1984, trú tại tổ A, khu F, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh gọi điện cho Bùi Quốc C đặt mua 03 viên ma túy MDMA. Do C không có ở nhà nên C gọi điện cho Đặng Tuấn A bảo Tuấn A mang ma túy đi bán cho D và cho Tuấn A số điện thoại của D để Tuấn A tự liên lạc với D. Tuấn A gọi điện cho D thỏa thuận giá 03 viên ma túy MDMA có khối lượng là 03x0,53=1,59 gam với giá 1.300.000 đồng và yêu cầu D chuyển tiền mua ma túy vào tài khoản của Tuấn A. Sau khi nhận được tiền mua ma túy của D, Tuấn A đã mang 03 viên ma túy MDMA đến khu vực trường Đ1 thuộc phường C, thành phố H bán cho D.

    Đặng Tuấn A 01 lần bán 03 viên ma túy MDMA có tổng khối lượng: 03x0,53=1,59 gam cho Đoàn Thị Thu D. 01 lần giúp sức cho Bùi Quốc C bán 01 túi ma túy Ketamine có khối lượng 0,652 gam và 02 viên ma túy MDMA có tổng khối lượng 02x0,53=1,06 gam cho Hoàng Phương T3. 01 lần bán trái phép cho Trần Đức H 05 viên ma túy MDMA, trong đó có 02 viên không thu giữ được có tổng khối lượng: 02x0,53=1,06 gam và 03 viên ma túy đã thu giữ được có tổng khối lượng 1,596 gam. Tuấn A còn 01 lần giúp sức cho H bán 01 túi ma túy Ketamine có khối lượng 0,652 gam và 02 viên ma tuý MDMA có tổng khối lượng 1,06 gam cho Đinh Quang M1.

    Tuấn A còn 01 lần giúp sức cho H tàng trữ trái phép 01 túi ma túy Ketamine có khối lượng 0,652 gam và 03 viên ma tuý MDMA có tổng khối lượng 1,596 gam mục đích để bán. Tổng cộng Đặng Tuấn A có hành vi mua bán trái phép 6,902 gam ma túy MDMA và 1,956 gam ma túy Ketamine.

Tại Cơ quan điều tra Bùi Quốc C, Trần Đức H và Đặng Tuấn A đều khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của các bị cáo đều phù hợp với lời khai của Cao Ngọc P, Hoàng Phương T3, Nguyễn Ngọc T4, Đoàn Thị Thu D, Đỗ Trung H2, Đinh Quang M1. Về nguồn gốc ma túy Công khai nhận: khoảng đầu tháng 3/2024, C quen biết Cố Nải C1 (sinh năm 1987, cư trú tại: số B đường H, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng). C1 bảo với C là C1 có bạn có ma túy bán với giá 22.000.000 đồng/25 gam ma túy Ketamine và 220.000 đồng/01 viên ma túy MDMA, nếu C muốn mua thì C1 giới thiệu cho C mua. Từ ngày 05/3/2024 đến ngày 02/5/2024 C đã 03 lần đến thành phố Hải Phòng mua ma túy của C1, tổng cộng 105 gam ma túy Ketamine và 90 viên ma túy MDMA (trong đó: lần 1 mua 25 gam ma túy Ketamin; lần 2 mua 30 gam ma túy Ketamine và 30 viên ma túy MDMA, lần 3 mua 50 gam ma túy Ketamine và 60 viên ma túy MDMA). Cơ quan điều tra đã lấy lời khai của Cố Nải C1 và cho C1 đối chất với C nhưng C1 không thừa nhận bán ma túy cho C.

Vật chứng và tài sản, đồ vật tạm giữ gồm:

  • 01 phong bì niêm phong số 686 của Phòng K công an tỉnh Q hoàn lại sau giám định, 01 phong bì thư;
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphne vỏ màu xanh + sim số 0794132428 tạm giữ của Trần Đức H:
  • 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone vỏ màu xanh + sim số 0862488338 tạm giữ của Đặng Tuấn A.
  • 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone vỏ màu xanh + sim số 0878338001; 02 cân điện tử tạm giữ của Bùi Quốc C được chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh để quản lý theo quy định của pháp luật.

Tại cơ quan Điều tra, các bị cáo: Bùi Quốc C, Trần Đức H, Đặng Tuấn A đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Bản Cáo trạng số: 1162/CT-VKSQN-P1 ngày 22/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh truy tố các bị cáo: Bùi Quốc C, Trần Đức H, Đặng Tuấn A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Trong đó Bùi Quốc C theo quy định tại điểm h khoản 3; Trần Đức H và Đặng Tuấn A theo quy định tại các điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Quốc C. Các điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Đức H. Các điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với và Đặng Tuấn A. Đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Quốc C từ 15 năm tù đến 16 năm tù; Trần Đức H từ 08 năm đến 09 năm tù; Đặng Tuấn A từ 07 năm đến 08 năm tù.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 phong bì thư, 02 cân điện tử thu giữ của Bùi Quốc C.

Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphne vỏ màu xanh + sim số 0794132428 thu giữ của Trần Đức H: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone vỏ màu xanh + sim số 0862488338 thu giữ của Đặng Tuấn A; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone vỏ màu xanh + sim số 0878338001; 02 cân điện tử thu giữ của Bùi Quốc C.

Truy thu số tiền thu lời bất chính của các bị cáo: Bùi Quốc C, Trần Đức H, Đặng Tuấn A để sung quỹ Nhà nước.

Các bị cáo Bùi Quốc C, Trần Đức H, Đặng Tuấn A không tranh luận gì.

Các bị cáo nói lời sau cùng xin được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình Điều tra và tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho bị cáo xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; các bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Quá trình Điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội của mình, cụ thể:

    Bùi Quốc Công khai nhận đã có hành vi nhiều lần bán trái phép chất ma túy cho Trần Đức H, Đặng Tuấn A, Hoàng Phương T3, 2 lần bán trái phép chất ma tuý cho Nguyễn Ngọc T4, 01 lần bán trái phép chất ma tuý cho Cao Ngọc P và 1 lần giúp sức cho Đặng Tuấn A bán trái phép chất ma túy cho Đoàn Thị Thu D, tổng khối lượng chất ma túy Bùi Quốc C đã bán trái phép cho các đối tượng nêu trên là 45,622 gam ma túy Ketamine và 41,332 gam ma túy MDMA. Ngày 12/5/2024, Bùi Quốc C còn tàng trữ trái phép 1,058 gam ma túy MDMA và 0,908 gam ma túy Ketamine mục đích để bán thì bị khám xét thu giữ. Tổng khối lượng Bùi Quốc C đã mua bán trái phép 46,53 gam ma túy Ketamine và 42,39 gam ma túy MDMA.

    Trần Đức H khai nhận đã 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Đỗ Trung H2, 01 lần bán trái phép chất ma tuý cho Đinh Văn M2, tổng khối lượng 10,07 gam ma tuý MDMA và 8,476 gam ma tuý Ketamine. Ngày 12/5/2024, H còn tàng trữ trái phép 0,652 gam ma tuý Ketamine và 1,596 gam ma tuý MDMA nhằm mục đích để bán. Tổng khối lượng ma túy H đã mua bán 11,666 gam chất ma túy MDMA và 9,128 gam ma túy Ketamine.

    Đặng Tuấn A có hành vi 01 lần bán trái phép chất ma túy cho Đoàn Thị Thu D; 01 lần bán trái phép chất ma tuý cho Trần Đức H; 01 lần giúp sức cho Bùi Quốc C bán trái phép 02 viên ma túy MDMA và 01 túi ma túy Ketamine cho Hoàng Phương T3; 01 lần giúp sức cho Trần Đức H bán trái phép 02 viên ma túy MDMA và 01 túi ma túy Ketamine cho Đinh Văn M2. Tổng khối lượng chất ma túy Tuấn A đã bán và giúp sức cho C, H bán là 6,366 gam ma tuý MDMA và 1,304 gam ma tuý Ketamine. Ngoài ra ngày 12/5/2024 Tuấn A còn giúp sức cho H tàng trữ trái phép phép 1,596 gam ma tuý MDMA và 0,652 gam ma túy Ketamine mục đích để bán. Tổng khối lượng ma túy Tuấn A đã mua bán trái phép 7,962 gam ma túy MDMA và 1,956 gam ma túy Ketamine.

  3. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan Điều tra, phù hợp nội dung bản cáo trạng; phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp lời khai của người làm chứng: anh Đinh Quang M1, chị Hoàng Phương T3, anh Nguyễn Ngọc T4, anh Cao Ngọc P, anh Đỗ Trung H2, chị Đoàn Thị Thu D; phù hợp kết luận giám định số 686/GĐMT ngày 19/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q; Phù hợp với các vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, cụ thể:
  4. Tại kết luận giám định số: 686/KL-KTHS ngày 19/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Vật chứng thu giữ của Trần Đức H ngày 12/5/2024 gồm: 01 túi nilon kích thước (3x3)cm chứa chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M1) gửi giám định là ma túy loại Ketamine, khối lượng 0,652 gam (không phẩy sáu trăm năm mươi hai gam); 01 3 viên nén màu xám không rõ hình dạng, kích thước, không rõ logo in trên mặt mỗi viên nén (kí hiệu M2) gửi giám định là ma túy loại MDMA, khối lượng 1,596 gam (Một phẩy năm trăm chín mươi sáu gam). Vật chứng thu giữ khi khám xét chỗ ở của Bùi Quốc C ngày 13/5/2024 gồm: 02 viên nén màu xám không rõ hình dạng, kích thước, không rõ logo in trên mặt mỗi viên nén (kí hiệu M3) gửi giám định là ma túy loại MDMA, khối lượng 1,058 gam (Một phẩy không trăm năm mươi tám gam); 01 túi nilon kích thước (2,5x2,5)cm chứa chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M4) gửi giám định là ma túy loại Ketamine, khối lượng 0,908 gam (không phẩy chín trăm linh tám gam).
  5. Người làm chứng:

    Anh Hoàng Thanh M3 khai khoảng 23 giờ 20 phút ngày 12/5/2024, khi anh đang làm nhiệm bảo vệ tại sảnh chung cư The Sapphire được chứng kiến các anh Công an kiểm tra xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, sơn màu đen, biển kiểm soát 14A – 818.24 đang dừng tại sảnh. Anh M4 nhìn thấy người đàn ông ngồi ở ghế phụ xe ô tô ném ra 01 phong bì thư, rơi ngay dưới vị trí ô tô đang dừng. Các anh Công an khống chế những người nồi trên xe, thu giữ phong bì thư, tiến hành kiểm tra bên trong phong bì thư có: 01 túi nilon. Kích thước khoảng (3 x 3)cm, có khóa kẹp, có viền màu xanh, bên trong túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng; 03 (ba) viên nén màu xám, không rõ hình rạng, kích thước. Người ngồi ghế phụ xe ô tô khai tên Trần Đức H, túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng và 03 (ba) viên nén màu xám H vừa vứt ra là chất ma túy và thuốc lắc H cất giấu, mục đích để bán kiếm lời.

    Chị Đoàn Thị Thu D khai từ khoảng cuối tháng 3/2024, chị D đã nhiều lần mua ma túy của C để sử dụng cho bản thân. Khoảng 19 giờ ngày 12/5/2024, chị D điện thoại cho C để hỏi mua 03 viên ma túy thuốc lắc, C bảo không có sẵn và sẽ bảo Tuấn A bán cho. Sau đó Tuấn A gọi điện thoại cho D và thống nhất bán 03 viên thuốc lắc giá 1.200.000đ cộng thêm 100.000đ tiền xe. Tuấn A yêu cầu chị D thanh toán tiền trước vào tài khoản ngân hàng của Tuấn A. Sau khi đã chuyển 1.300.000đ vào tài khoản của Tuấn A, chị D bảo Tuấn A mang ma túy đến khu vực trường T7 - Trung học cơ sở Đ2 thuộc phường C, thành phố H để giao cho chị D. Sau khi nhận được ma túy, chị D mang về nhà và sử dụng cho bản thân hết trong đêm.

    Chị Hoàng Phương T3 khai xác nhận vào khoảng thời gian từ tháng 3/2024 đến nửa giữa tháng 5/2024 chị T3 đã nhiều lần mua ma túy của Bùi Quốc C để sử dụng cho bản thân. Cụ thể tháng 3/2024 chị T3 04 lần, mỗi lần mua 01 túi Ketamine của C; tháng 4/2024, 02 lần, mỗi lần mua 01 túi Ketamine của C; tháng 5/2024 mua nhiều lần tổng cổng cộng 04 túi ketamine và 10 viên thuốc lắc.

    Anh Nguyễn Ngọc T4 khai xác nhận tối ngày 07/3/2024 mua của C 03 gam ma túy Ketamine, ngày 14/3/2024 mua của C 01 gam ma túy ketamine, mục đích mua để sử dụng cho bản thân.

    Anh Đỗ Trung H2 khai xác nhận đã nhiều lần mua ma túy thuốc lắc của Trần Đức H để sử dụng cho bản thân, nhưng hiện tại chỉ nhớ 02 lần gần đây nhất là: tối một ngày cuối tháng 4/2024 mua của H 03 viên ma túy thuốc lắc, tối một ngày đầu tháng 5/2024 mua của H 01 viên ma túy thuốc lắc; cả hai lần mua đều ở tại khu vực khu đô thị L phường C, thành phố H.

    Anh Cao Ngọc P khai xác nhận chiều tối ngày 12/5/2024, có nhu cầu sử dụng ma túy cho bản thân nên đã gọi điện thoại cho Bùi Quốc C để hỏi mua 02 gam ma túy ketamine và yêu cầu Công ship đến chung cư G khu vực gần chân cầu B. C đồng ý và bảo anh P chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng B của C số tiền 4.100.000đ. Sau khi anh P chuyển tiền cho C thì C đã mang 02 gam ma túy Ketamine đến trước cửa sảnh phụ chung cư Green D1 để giao cho anh P. Anh P cầm số ma túy này mang lên nhà dùng hết cho bản thân.

  6. Hành vi của các bị cáo Bùi Quốc C, Trần Đức H, Đặng Tuấn A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
  7. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Việc các bị cáo mua bán trái phép chất ma túy là nguyên nhân trực tiếp làm gia tăng các tệ nạn xã hội, gây mất trật tự trị an địa phương, gây dư luận xấu trong nhân dân. Vì vậy cần xử các bị cáo nghiêm minh theo quy định của pháp luật mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
  8. Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án:

    Bị cáo Bùi Quốc C là người cung cấp ma túy cho Trần Đức H và Đặng Tuấn A, nên C giữ vai trò đầu, tiếp đến là bị cáo H và Tuấn A giữ vai trò đồng phạm giúp sức. Ngoài ra các bị cáo Bùi Quốc C, Trần Đức H, Đặng Tuấn A còn thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy độc lập. Đối với bị cáo Đặng Tuấn A ngoài việc thực hiện 01 lần bán trái phép chất ma túy cho Đoàn Thị Thu D và 01 lần bán trái phép chất ma tuý cho Trần Đức H; Tuấn A còn có hành vi 01 lần giúp sức cho Bùi Quốc C bán trái phép chất ma túy cho Hoàng Phương T3; 01 lần giúp sức cho Trần Đức H bán trái phép chất ma túy cho Đinh Văn M2; ngoài ra ngày 12/5/2024 Tuấn A còn có hành vi giúp sức cho Trần Đức H tàng trữ trái phép phép 1,596 gam ma tuý MDMA và 0,652 gam ma túy Ketamine mục đích để bán.

  9. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

    Các bị cáo Bùi Quốc C, Trần Đức H, Đặng Tuấn A đều không có tiền án, tiền sự. Bị cáo Bùi Quốc Công nhân T5 ngày 27/4/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 18 tháng tù về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy", ngày 15/5/2019 chấp hành xong hình phạt tù. Bị cáo Bùi Quốc C nhiều lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy nên phải chịu tỉnh tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên cũng xét các bị cáo sau khi bị bắt, tại cơ quan Điều tra và tại phiên tòa đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nên xét cho các bị cáo Bùi Quốc C, Trần Đức H, Đặng Tuấn A được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Bị cáo Trần Đức H tích cực giúp cơ quan Điều tra phát hiện người phạm tội mới nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Bị cáo Bùi Quốc C có thành tích xuất sắc trong phong trào thể thao, các năm 2010, 2011, 2012; bị cáo C liên tiếp đạt giải nhất hạng cân 49kg giải Pencak silat trẻ tỉnh Quảng Ninh năm 2010; giải nhất nội dung đối kháng nam hạng cân dưới 46 tuổi giải Pencak silat thanh, thiếu niên tỉnh Quảng Ninh năm 2011; giải nhất nội dung đối kháng, hạng 51kg lứa tuổi 17-19 giải vô địch trẻ Pencak silat các câu lạc bộ tỉnh Quảng Ninh năm 2012; vì vậy được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội có thành tích xuất sắc trong học tập, công tác” quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Bị cáo Đặng Tuấn A có ông ngoại là Phạm Văng C2 được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng nhất; có bà ngoại là Hà Thị N3 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba; vì vậy được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

  10. Về hình phạt bổ sung:

    Các bị cáo Bùi Quốc C, Trần Đức H, Đặng Tuấn A đều không có nghề nghiêp, không có thu nhập ổn định nên miễn phạt tiền đối với các bị cáo C, H, Tuấn A.

  11. Về vật chứng:
    • 01 (một) phong bì niêm phong số 686 của Phòng K công an tỉnh Q hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
    • 01 (một) phong bì thư, 01 (một) cân điện tử màu ghi, 01 (một) cân điện tử màu nâu thu giữ của Bùi Quốc C không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
    • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphne vỏ màu xanh + sim số 0794132428 thu giữ của Trần Đức H: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone vỏ màu xanh + sim số 0862488338 thu giữ của Đặng Tuấn A; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone vỏ màu xanh + sim số 0878338001 thu giữ của Bùi Quốc C do các bị cáo dùng vào việc liên lạc mua bán ma tuý, nên tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước.

    Truy thu số tiền thu lời bất chính của các bị cáo: Bùi Quốc C 1.500.000đ, Trần Đức H 300.000đ, Đặng Tuấn A 500.000đ để sung quỹ Nhà nước.

  12. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: các bị cáo Bùi Quốc C, Trần Đức H, Đặng Tuấn A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm h khoản 3 Điều 251; các điểm s, v khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Bùi Quốc C 15 (mười lăm) năm 06 (S) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 13/5/2024.

Áp dụng: các điểm b, p khoản 2 Điều 251; các điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Trần Đức H 08 (T6) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 12/5/2024.

Áp dụng: các điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Đặng Tuấn A 07 (Bẩy) năm 06 (S) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, ngày 12/5/2024.

Áp dụng: khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong số 686 của Phòng K công an tỉnh Q hoàn lại sau giám định số: 686/KL-KTHS; 01 (một) phong bì thư, 01 (một) cân điện tử màu ghi, 01 (một) cân điện tử màu nâu (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 56 ngày 23/01/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh).

Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphne vỏ màu xanh + sim số 0794132428 thu giữ của Trần Đức H: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone vỏ màu xanh + sim số 0862488338 thu giữ của Đặng Tuấn A; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone vỏ màu xanh + sim số 0878338001 thu giữ của Bùi Quốc C (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 56 ngày 23/01/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh).

Truy thu của các bị cáo: Bùi Quốc C 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng); Trần Đức H 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng); Đặng Tuấn A 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước.

Áp dụng: khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo: Bùi Quốc C, Trần Đức H, Đặng Tuấn A, mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, có mặt các bị cáo: Bùi Quốc C, Trần Đức H, Đặng Tuấn A. Báo cho các bị cáo: C, H, Tuấn A biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • VKSND tỉnh QN;
  • THADS tỉnh QN;
  • Công an tỉnh QN;
  • Trại tạm giam Công an tỉnh QN;
  • Những người tham gia tố tụng;
  • Lưu HS - VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Ánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 25/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Bùi Quốc Công cùng đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger