Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HNGĐ-PT

Ngày 06-12-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Tuyến
Các Thẩm phán: Bà Bùi Thị Thúy Hà
Bà Trần Thị Vân Thúy

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thủy Anh - Thư ký của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 21/2024/TLPT-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.

Do Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số 34/2024/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 30/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1995; nơi ĐKHKTT: Thôn Q, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Nhà trọ Lê Thị C, thôn A, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; có mặt;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Trần Thị Thùy L – là Luật sư của Công ty L1; có mặt;

- Bị đơn: Anh Phạm Minh Đ, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn Q, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Người kháng cáo: Chị Hoàng Thị T là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ vào hồ sơ vụ án và Bản án sơ thẩm, nội dung vụ án như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị T và anh Phạm Minh Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 05/01/2018 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng bố mẹ đẻ anh Đ sau đó ra ở riêng vào năm 2023. Quá trình chung sống, anh chị xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có sự tin tưởng nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị T khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Minh Đ. Quá trình tham gia tố tụng, bị đơn là anh Phạm Minh Đ đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của chị T.

- Về con chung: Chị T và anh Đ có một con chung là cháu Phạm Minh A, sinh ngày 01/6/2020. Hai bên đương sự tranh chấp về việc nuôi con chung và không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Hai bên đương sự đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Với nội dung trên, Bản án sơ thẩm số 34/2024/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng đã quyết định:

- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Thị T và anh Phạm Minh Đ.

- Về con chung: Giao con Phạm Minh A, sinh ngày 01/6/2020 cho anh Phạm Minh Đ trực tiếp nuôi dưỡng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo đối với các đương sự.

Ngày 10/9/2024, chị Hoàng Thị T kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm. Yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết giao con chung là cháu Phạm Minh A, sinh ngày 01/6/2020 cho chị Hoàng Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, chị Hoàng Thị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không thay đổi, bổ sung kháng cáo. Chị Hoàng Thị T và anh Phạm Minh Đ không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn tranh luận: Chị T và anh Đ đều có công việc và thu nhập ổn định. Tuy nhiên, chị T làm giáo viên tiểu học nên có sự hiểu biết và kiến thức trong việc nuôi, dạy con chung, mặt khác về thời gian làm việc, chị T làm việc theo giờ hành chính và trong tuần chỉ làm việc từ thứ hai đến thứ sáu, còn anh Đ công tác trong ngành Công an nên thời gian làm việc có phần thụ động do yêu cầu công tác. Do vậy, chị Hoàng Thị T có điều kiện nuôi con tốt hơn anh Phạm Minh Đ. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của chị Hoàng Thị T, giao con chung cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tại phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm, Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của chị Hoàng Thị T. Sửa Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số 34/2024/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng: Giao con chung là cháu Phạm Minh A, sinh ngày 01/6/2020 cho chị Hoàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn kháng cáo. Xét, kháng cáo của nguyên đơn trong thời hạn luật định, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng thụ lý xét xử phúc thẩm vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

[2] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: Người kháng cáo là chị Hoàng Thị T kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm về việc nuôi con chung, căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chỉ xem xét bản án sơ thẩm về phần con chung và những nội dung có liên quan đến xem xét nội dung kháng cáo.

- Về nội dung kháng cáo:

[3] Anh Đ có nghề nghiệp là Công an hiện công tác tại Công an huyện A, chị T là giáo viên trường tiểu học A1, huyện A. Do vậy, bản án sơ thẩm nhận định: Anh Đ và chị T đều có điều kiện để nuôi con chung là có căn cứ.

[4] Xét thấy, trách nhiệm nuôi dưỡng con chung thuộc về bố, mẹ. Do vậy, sau khi vợ chồng ly hôn, việc giao con chung cho ai nuôi dưỡng cần xem xét đến điều kiện cụ thể của bố mẹ để đảm bảo cho con chung được chăm sóc, nuôi dưỡng trong điều kiện tốt nhất. Tại giai đoạn sơ thẩm, do chị T chưa có chỗ ở ổn định nên cấp sơ thẩm giao con chung cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ. Tuy nhiên, tại giai đoạn phúc thẩm, cho T đã giao nộp tài liệu thể hiện chị đã có nơi ở ổn định và điều kiện để tạo lập nơi ở riêng (chị T được bố mẹ đẻ cho 1,1 tỷ đồng để mua nhà). Chị T có nghề nghiệp là giáo viên tiểu học, làm việc theo giờ hành chính từ thứ hai đến thứ sáu hàng tuần, hiện chị đang công tác tại Trường tiểu học A1, huyện A là nơi chị đang cư trú. Đối với anh Đ đang công tác trong ngành Công an nên phải trực đêm và thực hiện các nhiệm vụ đột xuất theo yêu cầu công tác, do vậy nếu anh Đ trực tiếp nuôi con chung thì cần phải có sự trợ giúp của gia đình. Như vậy, về điều kiện thời gian để chăm sóc, nuôi dưỡng con thì chị T có điều kiện tốt hơn anh Đ. Mặt khác, do chị T công tác trong ngành Giáo dục nên có sự hiểu biết về tâm, sinh lý của trẻ em, vì vậy chị T trực tiếp nuôi con sẽ thuận lợi trong việc dạy dỗ, giáo dục con. Đối với con chung Phạm Minh A mới hơn 04 tuổi, đang học mẫu giáo nên việc thay đổi người nuôi dưỡng không gây ảnh hưởng nhiều đến tâm, sinh lý và học tập của con chung.

[5] Từ các nhận định trên, có căn cứ chấp nhận kháng cáo của chị Hoàng Thị T, cần sửa Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số 34/2024/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng theo hướng giao con chung là cháu Phạm Minh A cho chị Hoàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng.

[6] Tại giai đoạn sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, cả chị T và anh Đ đều không yêu cầu xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, chị T có khả năng và điều kiện nuôi dưỡng con và việc chị T không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung là tự nguyện nên không xem xét, giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Yêu cầu kháng cáo của chị Hoàng Thị T được chấp nhận nên chị T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[8] Các quyết định khác của bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên không xem xét, giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình,

Căn cứ khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

1. Chấp nhận kháng cáo của chị Hoàng Thị T. Sửa Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số 34/2024/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng:

Về con chung: Giao con chung Phạm Minh A, sinh ngày 01/6/2020 cho chị Hoàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Việc cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn do không có yêu cầu nên Toà án không xem xét giải quyết.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị Hoàng Thị T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại cho chị Hoàng Thị T 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão, thành phố Hải Phòng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007524 ngày 13 tháng 9 năm 2024.

3. Các quyết định khác của bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - TAND huyện An Lão, TP. Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS huyện An Lão, TP. Hải Phòng;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Xuân Tuyến

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Bùi Thị Thúy Hà        Trần Thị Vân Thúy

Nguyễn Xuân Tuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/HNGĐ-PT ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 25/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger