TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2025/HS-ST
Ngày: 05/3/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Xuân Trinh;
- Bà Hồ Thị Lệ Thu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh - Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuynh - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại phòng Xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 223/2024/HSST ngày 26 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HS ngày 23/01/2025, đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Trọng N (tên gọi khác: không); giới tính: N2; sinh năm 1999 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số D Xóm C, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: không có nơi cư trú ổn định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: không; là con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị H; bị cáo chưa có vợ con; tiền án; tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/9/2024, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Trần Mạnh Đ (tên gọi khác: không); giới tính: N2; sinh năm 1999 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: A B, Phường H, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: không có nơi cư trú rõ ràng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 07/12; nghề nghiệp: rửa xe; là con ông Nguyễn Văn B và bà Trần Ngọc T1; vợ là Lê Thị Út N1; có 01 người con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Ngày 16/8/2016 Trần Mạnh Đ bị Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 (năm) tháng tù theo bản án số 107/2016/HSST về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản". Trần Mạnh Đ được trả tự do tại phiên tòa.
- Ngày 10/9/2020, Trần Mạnh Đ bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 740/QĐ-TA.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/9/2024, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại:
- Bà Phương Thanh M, sinh năm 2005; địa chỉ: 5 Khu phố A, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt
- Ông Đặng Hoàng N2, sinh năm 2004; địa chỉ: Căn hộ C chung cư V, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt
- Ông Nguyễn Vũ Đ1, sinh năm 1991; Địa chỉ: Căn hộ A Block C, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Lê Thị Ngọc T2, sinh năm 1979; Địa chỉ: 5 Khu phố A, thị trân N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh; Vắng mặt
- Bà Nguyễn Đoàn Yến N3, sinh năm 2002; Địa chỉ: Căn hộ A Block C, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ ngày 26/8/2024, Nguyễn Trọng N điều khiển xe máy hiệu Wave Trung Quốc, biển số: 60L7-3580, từ thị trấn N, huyện N qua Quận G tìm tài sản trộm cắp, khi đến trước nhà số H L, phường P, Quận G, N phát hiện xe máy Honda Wave, biển số: 59Z1-628.40 của chị Phương Thanh M, để dưới lề đường không có người trông coi. N chạy xe của mình để cách vị trí xe của chị M khoảng 200 mét rồi đi bộ lại lén lút lấy trộm xe máy Honda Wave, biển số: 59Z1-628.40. Đến khoảng 18 giờ 15 phút cùng ngày, N đẩy bộ xe vừa trộm cắp đến Nhà sách N4 trên đường H, phường P, Quận G gửi, rồi gọi điện thoại qua ứng dụng M1 cho Trần Mạnh Đ nói có xe vừa trộm được cần bán. Đ yêu cầu N gửi hình xe cho Đ xem và đồng ý mua với giá 6.600.000 đồng. Đình đặt xe bán tải chở hàng Lalamove đến địa chỉ A H, phường P, Quận G gặp N để giao tiền và nhận xe. Sau đó Đ đăng ảnh xe máy Honda Wave, biển số: 59Z1-628.40, lên mạng xã hội bán cho đối tượng tên D (không rõ lai lịch) với giá 7.600.000 đồng, D yêu cầu Đ giao xe tại khu vực T, Tây Ninh và trả tiền cho Đ.
Kết luận định giá tài sản số 243/KL-HĐ ĐGTTHS ngày 04/9/2024 qủa Hội đồng định giá tài sản Tố tụng Hình sự - Ủy ban nhân dân Quận G kết luận: 01 (một) xe máy Honda Wave, biển số 59Z1-628.40, đăng ký tháng 7/2023 có giá 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).
Qua truy xét, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đưa Nguyễn Trọng N và Trần Mạnh Đ về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra, N và Đ khai nhận: Nguyễn Trọng N và Trần Mạnh Đ quen biết nhau qua mạng xã hội Facebook "Hội Xe Không Giấy Hồ Chí M2" trước khi bị phát hiện được khoảng 01 tháng. Đ biết N đăng bài bán xe gắn máy do trộm cắp mà có trên mạng này nên Đ chủ động nhắn tin hỏi mua, nên quen nhau. Từ ngày 11/8/2024 đến khi bị phát hiện cũng cách thức, thủ đoạn thực hiện hành vi trộm cắp và trao đổi mua bán xe như trên. N thực hiện nhiều vụ trộm cắp và bán lại cho Đ, cụ thể:
Khoảng 19 giờ ngày 11/8/2024, tại bãi đất trống trước Block A Chung cư Đ, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Nghĩa trộm 01 (một) xe máy Honda Future, biển số: 43C2-073.10, của anh Đặng Hoàng N2. Sau đó N gọi điện và đồng ý bán cho Đ với giá 5.800.000 đồng, tại trước chung cư Đ, phường P, Quận G. Đ đồng ý mua và bán lại cho một thanh niên qua mạng xã hội (không rõ lai lịch) với giá 6.800.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 270/KL-HĐĐGTS ngày 17/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng Hình sự - Ủy ban nhân dân Quận G kết luận: 01 (một) xe máy hiệu Honda Future, biển số: 43C2-07310, màu xanh đen, sản xuất năm 2022, có giá 26.000.000 đồng.
Khoảng 22 giờ ngày 24/8/2024, tại trước Block A Chung cư Đ, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. N trộm 01 xe máy Honda Vision, biển số 83P4-433.54 của anh Nguyễn Vũ Đ1. Sau đó N gọi điện và đồng ý bán cho Đ với giá 6.300.000 đồng. Đ đồng ý mua và bán lại cho một thanh niên qua mạng xã hội (không rõ lai lịch) với giá 7.400.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 268/KL-HĐĐGTS ngày 17/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng Hình sự - Ủy ban nhân dân Quận G kết luận: 01 (một) xe máy hiệu honda Vision, biển số: 83P4-43354, màu trắng đen, sản xuất năm 2021, có giá 30,000.000 đồng.
Ngoài ra, Nguyễn Trọng N còn khai nhận trộm 01 xe máy Honda Vision, biển số: 59C4-263.76 tại Block A, phường P, Quận G và 01 xe máy Yamaha Sirius (không rõ biển số) tại khu vực hẻm H, đường N, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, bán cho Đ. Tuy nhiên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q truy tìm, thông báo nhưng không có bị hại trình báo nên chưa có căn cứ xử lý.
Vật chứng thu giữ:
- 01 xe máy Honda Wave, biển số 60L7-3580; Số khung: VTMPCG0012T017995; Số máy: VTMZS150FMG200013544 (Xe máy Nguyễn Trọng N sử dụng đi trộm cắp);
- 01 điện thoại Iphone 7 màu trắng; Số IMEI: 355323086288260 (điện thoại N sử dụng liên lạc với Trần Mạnh Đ để giao bán xe);
- 01 (một) nón kết lưỡi trai màu đen, trên nón có ghi dòng chữ Gucci (trang phục N đội thực hiện hành vi trộm cắp ngày 26/8/2024);
- 01 điện thoại Iphone 11 Pro Max màu vàng đen; Số IMEI: 353890109684412 (điện thoại Trần Mạnh Đ sử dụng liên lạc với Nguyễn Trọng N để mua xe);
Về dân sự: Bị hại anh Đặng Hoàng N2 yêu cầu bồi thường 26.000.000 đồng; bị hại Nguyễn Vũ Đ1 yêu cầu bồi thường số tiền 40.000.000 đồng; bị hại Phương Thanh M yêu cầu bồi thường số tiền 20.000.000 đồng.
Bản Cáo trạng số 06/CT-VKS-Q7 ngày 24/12/2024 Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 truy tố bị cáo Nguyễn Trọng N đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo Trần Mạnh Đ đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c Khoản 2 Điều 173, điểm s Khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 52 điểm g Khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng N từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng Khoản 1 Điều 323, điểm s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51, điểm g Khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Mạnh Đ từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Trần Mạnh Đ từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật;
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 2 Điều 51 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo do hoàn cảnh của các bị cáo khó khăn, đối với bị cáo N có 01 người mẹ già bị bệnh chỉ có bị cáo là con để nương tựa, bị cáo Đ còn con nhỏ 02 tuổi cần chăm sóc.
Tại phiên tòa trong phần tranh luận người bị hại ông Nguyễn Vũ Đ1 trình bày: Không thể nói hoàn cảnh của các bị cáo khó khăn thì các bị cáo có quyền lấy tài sản của người khác. Ông là người vừa bị mất tài sản lại còn bị mất thời gian, chiếc xe không những là tài sản mà còn là công cụ kiếm sống của ông và những người khác. Do vậy ông đề nghị Hội đồng xét xử xem xét một mức án đúng quy định đối với các bị cáo và buộc bị cáo N phải bồi thường cho ông số tiền 30.000.000 đồng.
Các Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản Cáo trạng đã được tóm tắt như trên, không tự bào chữa, không tranh luận, và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Xét thấy tại phiên tòa, các bị hại bà Phương Thanh M, ông Đặng Hoàng N2 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt; tuy nhiên lời khai của họ đã được thể hiện tại hồ sơ vụ án. Xét việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng trên không ảnh hưởng đến việc xét xử, giải quyết vụ án, căn cứ vào Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, các đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định:
[3.1] Với mục đích tìm tài sản để trộm cắp, vào khoảng 13 giờ, ngày 26/8/2024 tại trước số nhà H L, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Trọng N thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 xe máy Honda Ware, biển số 59Z1-628.40 của bà Phương Thanh M, tội phạm đã hoàn thành. Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 243/KL-HĐĐGTS ngày 04/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận G, kết luận: “01 (một) xe máy Honda Ware, biển số 59Z1-628.40, đăng ký tháng 07/2023 có giá trị 15.000.000 đồng (mười lăm triệu).
Tại cơ quan điều tra N còn khai từ tháng 8 đến tháng 9 năm 2024 với các thủ đoạn như trên N và Đ đã thực hiện nhiều vụ trộm khác, cụ thể:
Khoảng 19 giờ ngày 11/8/2024, tại bãi đất trống trước Block A Chung cư Đ, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Nghĩa trộm 01 (một) xe máy Honda Future, biển số: 43C2-073.10, của anh Đặng Hoàng N2, có giá theo định giá là 26.000.000 đồng.
Khoảng 22 giờ ngày 24/8/2024, tại trước Block A Chung cư Đ, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. N trộm 01 xe máy Honda Vision, biển số 83P4-433.54 của anh Nguyễn Vũ Đ1, có giá theo định giá là 30.000.000 đồng.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong quá trình điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân Quận 7 Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố. Với hành vi như đã nêu trên bị cáo Nguyễn Trọng N đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3.2] Trần Mạnh Đ thừa nhận là đã biết được các xe gắn máy mà N bán cho mình đều là xe trộm cắp nhưng vẫn đồng ý mua và đem xe về tiêu thụ, bị cáo đã thu lợi bất chính được 3.100.000 đồng. Hành vi của bị cáo cấu thành tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Tội phạm và hình phạt quy định tại Khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3.3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là cố ý, táo bạo và liều lĩnh, xuất phát từ động cơ tham lam tư lợi để có tiền tiêu xài. Hành vi này của các bị cáo là nguy hiểm vì đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản hợp pháp của công dân; ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội. Do đó, phải xử lý nghiêm minh nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thực hiện việc trộm cắp và tiêu thụ tài sản 02 lần trở lên, nên áp dụng điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để lượng hình.
T3 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại s Khoản 1 Điều 51, của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Đối với lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giả nhẹ hình phạt cho các bị cáo do các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo không đủ diều kiện để được áp dụng, bị cáo Đ còn có nhân thân xấu.
Hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều là những người không có thu nhập, bị cáo N còn có nghĩa vụ bồi thường cho các bị hại, bị cáo Đ có con nhỏ, vợ bị cáo chưa có việc làm ổn định do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Những người bị hại gồm: ông Đặng Hoàng N2 yêu cầu bồi thường 26.000.000 đồng, ông Nguyễn Vũ Đ1 yêu cầu bồi thường số tiền 30.000.000 đồng, bà Phương Thanh M yêu cầu bồi thường 20.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo N đồng ý bồi thường cho những người bị hại, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[6] Xử lý vật chứng:
- 01 xe máy Honda Wave, biển số 60L7-3580; Số khung: VTMPCG0012T017995; Số máy : VTMZS150FMG200013544 là phương tiện bị cáo Nguyễn Trọng N sử dụng đi trộm cắp tài sản nên tịch thu sung quỹ nhà nước;
- 01 điện thoại Iphone 7 màu trắng; Số IMEI: 355323086288260 là phương tiện N liên lạc với Trần Mạnh Đ để giao bán xe nên tịch thu sung quỹ Nhà Nước;
- 01 (một) nón kết lưỡi trai màu đen, trên nón có ghi dòng chữ Gucci (trang phục N đội thực hiện hành vi trộm cắp ngày 26/8/2024); bị cáo N không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại Iphone 11 Pro Max màu vàng đen; Số IMEI: 353890109684412 là phương tiện bị cáo Trần Mạnh Đ sử dụng liên lạc với bị cáo Nguyễn Trọng N để mua xe trộm nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
- Buộc bị cáo Trần Mạnh Đ nộp lại số tiền thu lợi bất chính 3.100.000 đồng
[7] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Trọng N còn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Các bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trọng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo Trần Mạnh Đ đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- Áp dụng điểm c Khoản 2 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng N 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/9/2024.
- Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Trần Mạnh Đ 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/9/2023.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên:
- Buộc Bị cáo Trần Mạnh Đ nộp lại số tiền thu lợi bất chính 3.100.000 đồng để sung quỹ Nhà nước nhưng được trừ vào số tiền bị cáo đã nộp tại cơ quan Công an Q số tiền 5.800.000 đồng. Trả lại cho bị cáo Trần Mạnh Đ 2.700.000 đồng. (Theo lệnh thanh toán kho bạc ngày 28/11/2024).
- Buộc bị cáo Nguyễn Trọng N bồi thường cho ông Đặng Hoàng N2 26.000.000 đồng, bồi thường cho ông Nguyễn Vũ Đ1 30.000.000 đồng và bồi thường cho bà Phương Thanh M 20.000.000 đồng ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày Cơ quan Thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án về khoản tiền bị cáo phải bồi thường nếu bị cáo chưa thi hành khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành theo lãi suất theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành tại thời điểm thi hành.
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) nón kết lưỡi trai màu đen, trên nón có ghi dòng chữ Gucci;
Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 xe máy Hon da Wave, biển số 60L7-3580; Số khung: VTMPCG0012T017995; Số máy : VTMZS150FMG200013544 ; 01 điện thoại Iphone 7 màu trắng; Số IMEI: 355323086288260; 01 điện thoại Iphone 11 Pro Max màu vàng đen; Số IMEI: 353890109684412.
(Theo Biên bản về việc giao, nhận vật chứng tài sản 040 ngày 16/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí, lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng); Bị cáo Nguyễn Trọng N phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 3.800.000 đồng (ba triệu tám trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Thu Trang |
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 09/2025/TB-TA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Quận 7, ngày 01 tháng 4 năm 2025 |
THÔNG BÁO
SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN
Căn cứ các Điều 44, Điều 260 và Điều 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Xét thấy Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2025/HS-ST ngày 05/3/2025 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh có lỗi chính tả, nhầm lẫn cần được sửa chữa, bổ sung như sau:
- Về nội dung:
Dòng 09 từ dưới lên của trang 01 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi:
“.......nơi đăng ký thường trú: A B, Phường H, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh...."
Dòng 03 từ dưới lên của trang 06 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi:
“ Thời hạn tù tính từ ngày 06/9/2023"
Nay được sửa chữa, bổ sung như sau:
“.........nơi đăng ký thường trú: A B, Phường H, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh..."
“ Thời hạn tù tính từ ngày 06/9/2024"
- Phần được sửa chữa, bổ sung là một phần của nội dung Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2025/HS-ST ngày 05/3/2025 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Trang |
Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 25/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 03 năm tù
