Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ LỘC

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 03/3/2025.

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, THÀNH PHỐ HUẾ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Lâm và bà Đặng Hoàng Ái Thụy.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hiền, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lợi - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 28 tháng 02 và ngày 03 tháng 3 năm 2025, Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 232/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024, về việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/12/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn P, xã L, huyện P, thành phố H, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1999; địa chỉ: Thôn P, xã L, huyện P, thành phố H, vắng mặt lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 22/10/2024 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là anh Nguyễn Văn H trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị N tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị ngày 01/02/2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận và hạnh phúc được khoảng 3 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị N có tình cảm với người khác, dẫn đến vợ chồng cãi vã, không còn quan tâm nhau. Anh H và chị N sống ly thân từ tháng 4 năm 2022 cho đến nay, cuộc sống của ai thì tự người đó lo liệu. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên anh Nguyễn Văn H yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị N.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị N có một người con chung là Nguyễn Anh V, sinh ngày 19/12/2018. Theo đơn khởi kiện, anh H yêu cầu Tòa án giao cháu V cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi; không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con. Trong quá trình, Tòa án giải quyết vụ án, anh H thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết giao cháu V cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi con chung trưởng thành. Tuy nhiên, ngày 13/02/2025, anh H thay đổi ý kiến, yêu cầu Tòa án giao cháu V cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi; không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con với lý do chị N đang đi làm công ty, không trực tiếp chăm sóc con mà giao cho bà ngoại chăm sóc.

Về tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản: Anh Nguyễn Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập và các Thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho chị N nhưng trong thời hạn luật định chị N không có văn bản trình bày ý kiến và không đến Toà án để làm việc.

Tại biên bản xác minh ngày 17/12/2024, chính quyền địa phương cho biết: Chị N có hộ khẩu thường trú tại thôn P, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H). Gia đình chị Nguyễn Thị N cho biết: Chị N đã nhận biết việc anh H xin ly hôn và cũng đồng ý vì anh H hiện đã có tình cảm với người phụ nữ khác nên vợ chồng có ghen tuông dẫn đến cãi vã, xúc phạm nhau. Thông qua gia đình, chị N trình bày có nguyện vọng được nuôi cháu V và yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi con chung trưởng thành. Chị N đi làm công ty nên không đến Tòa án để tham gia tố tụng được.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng bị đơn vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa lần thứ nhất do bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa và đồng thời tống đạt Quyết định hoãn phiên tòa cho chị N. Tuy nhiên, chị N vẫn vắng mặt không có lý do tại phiên tòa lần thứ 2.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành các quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành pháp luật, không tham gia các phiên hoà giải và phiên toà làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh H, cho anh H ly hôn chị N; về con: giao con chung của vợ chồng cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, thấy rằng:

[1] Về thủ tục tố tụng: Theo Điều 175, Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự, thì việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án nêu trên là hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do chính đáng. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị N tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị ngày 01/02/2018. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh H và chị N là hợp pháp. Quá trình sống chung, giữa hai người đã xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do cả hai đều nghi ngờ nhau có mối quan hệ tình cảm với người khác dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau. Anh H và chị N sống ly thân từ tháng 6 năm 2022 cho đến nay, không quan tâm chăm sóc gì nhau, cuộc sống của ai người đó tự lo liệu. Chị N biết anh H xin ly hôn nhưng cũng bỏ mặc, không có ý kiến. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn của vợ chồng đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Nguyễn Văn H.

[3] Về con chung: Xét yêu cầu nuôi con của anh H, thấy rằng: Hiện anh H có công việc ổn định, đủ điều kiện nuôi con. Gia đình chị N có trình bày chị N có nguyện vọng nuôi con nhưng bản thân chị N không có ý kiến chính thức về việc nuôi con, Tòa án nhiều lần triệu tập chị N đến để hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng chị N vẫn bỏ mặc, không có ý kiến gì. Điều này chứng tỏ chị N không tha thiết nuôi con chung. Do đó, cần giao con cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi như yêu cầu của anh H là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn H không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

[4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh Nguyễn Văn H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/NQ/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn H, anh Nguyễn Văn H được ly hôn chị Nguyễn Thị N.

2. Về con chung: Giao con chung của vợ chồng là Nguyễn Anh V, sinh ngày 19/12/2018 cho anh Nguyễn Văn H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Chị Nguyễn Thị N không cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Nguyễn Thị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, anh H đã nộp theo biên lai số 0003686, ngày 22/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lộc. Anh Nguyễn Văn H đã nộp đủ.

4. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Huế;
  • - VKSND thành phố Huế;
  • - VKSND huyện Phú Lộc;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Lộc;
  • - UBND xã Hải Tân, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HNGĐ-ST ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, THÀNH PHỐ HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 25/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger