Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG LA

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HNGĐ-ST

Ngày 03-3-2025.

V/v: Ly hôn giữa chị Của và anh Lụ.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1 – Bà Nguyễn Thị Hương.
  • 2 – Bà Quàng Thị Hỏa.

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Trà My – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên tòa: Ông Lường Văn Hoan - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 13/02 và 03/3/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 30/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2025 về việc: Tranh chấp ly hôn, giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Thào Thị C, sinh năm 1996.

Trú tại: Bản P, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lò Văn Đ, Luật sư. Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp viên pháp lý nhà nước, tỉnh Sơn La. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Sùng A L, sinh năm 1997.

Trú tại: Bản P, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa, vắng mặt khi tuyên án.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ngân hàng C1, xã hội huyện M, tỉnh Sơn La.

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Đào Trọng D – Giám đốc là người đại diện theo pháp luật. Có đề nghị xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 13/12/2024 trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Thào Thị C trình bày:

Chị và anh Sùng A L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, ngày 21/8/2020 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện M, tỉnh Sơn La. Cuộc sống chung không hạnh phúc, đến năm 2021 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Mặc dù đã được gia đình hai bên khuyên giải nhưng không khắc phục được. Từ nhiều năm hai người sống không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Chị Thào Thị C xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu được ly hôn anh Sùng A L.

Về con chung: Có hai con là Sùng A D1, sinh ngày 06/02/2014 và Sùng Thị N, sinh ngày 08/5/2015. Chị có nguyện vọng nuôi con gái, nhất trí để anh Sùng A L nuôi con trai. Tùy vào nguyện vọng của các con. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Thào Thị C để lại cho anh Sùng A L tất cả nhà, đất, ruộng, nương, trâu, bò và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản riêng: Chị Thào Thị C có 02 chiếc máy khâu, chị xin được lấy về.

Về nợ: Có nợ Ngân hàng C1 huyện M số tiền 30.000.000, đồng. Số nợ trên vay về mua trâu, sau anh Sùng A L bán đi và giữ tiền. Do chị để lại cho anh Sùng A L tất cả nhà, đất, ruộng, nương, trâu, bò nên anh Sùng A L phải có trách nhiệm thanh toán trả cho Ngân hàng khoản nợ trên.

Chị Thào Thị C trình bày về yêu cầu đòi tiền sính lễ cưới của anh Sùng A L như sau: Trong số tiền 12.700.000, đồng là tiền thách cưới giữa hai bên bố mẹ chị, cho cho rằng đây là việc hai gia đình thỏa thuận theo phong tục tập quán. Nay anh Sùng A L đòi số tiền 12.700.000, đồng chị không nhất trí.

Tại phiên tòa chị yêu cầu Tòa án giải quyết nếu anh Sùng A L đòi tiền sính lễ cưới và tiền nợ ngân hàng chính sách thì đòi chia một phần tài sản là nhà, đất ruộng, bò.

Bị đơn anh Sùng A L trình bày: Anh xác nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Thào Thị C và anh Sùng A L. Xác nhận nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do nguyên đơn chị Thào Thị C đi làm ăn nên thay đổi tình cảm và không về từ năm 2021 đến nay. Anh xác định nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng không khắc phục được và không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Có hai con là Sùng A D1, sinh ngày 06/02/2014 và Sùng Thị N, sinh ngày 08/5/2015. Anh Sùng A L có nguyện vọng nuôi hai con và tùy vào nguyện vọng của hai con. Nếu hai con ở với anh thì chị Thào Thị C phải cấp dưỡng nuôi con, mỗi tháng 2.000.000, đồng.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản riêng: Chị Thào Thị C có 02 chiếc máy khâu, chị xin được lấy về, anh đồng ý.

Về nợ: Có nợ Ngân hàng C1 huyện M số tiền 30.000.000, đồng. Số nợ trên vay về mua trâu, anh Sùng A L yêu cầu chia đôi mỗi người trả Ngân hàng khoản nợ trên một nửa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng C1, xã hội huyện M, tỉnh Sơn La trình bày: Căn cứ số vay vốn mã khách hàng 7080644023, ngày 19/4/2022 Ngân hàng cho gia đình anh Sùng A L và chị Thào Thị C vay theo chương trình hộ nghèo, số tiền gốc vay là 30.000.000, đồng. Số nợ trên Ngân hàng yêu cầu anh Sùng A L có trách nhiệm trả nợ gốc và lãi phát sinh.

Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:

Căn cứ Điều 37; khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 228; Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Toà án.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho chị Thào Thị C được ly hôn anh Sùng A L. Giao cho anh Sùng A L trực tiếp nuôi con Sùng A D1, sinh ngày 06/02/2014, chị Thào Thị C trực tiếp nuôi con Sùng Thị N, sinh ngày 08/5/2015. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Không giải quyết về tài sản chung do nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu. Về tài sản riêng: Chấp nhận thỏa thuận của đương sự anh Sùng A L trả lại 02 chiếc máy khâu cho chị Thào Thị C. Về nợ: Anh Sùng A L có trách nhiệm trả nợ gốc 30.000.000, đồng và lãi phát sinh cho Ngân hàng chính sách, xã hội huyện M, tỉnh Sơn La. Không chấp nhận yêu cầu anh Sùng A L về việc yêu cầu chị Thào Thị C phải trả lại số tiền sính lễ cưới (thách cưới) 12.700.000, đồng. Do nguyên đơn rút yêu cầu Tòa án giải quyết về chia tài sản là nhà, đất ruộng, bò. Căn cứ theo quy định Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu trên. Nguyên đơn chị Thào Thị C thuộc hộ nghèo được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của Kiểm sát viên: Việc áp dụng pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng quy định.

Về nội dung:

Căn cứ Điều 37; khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 228; Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Toà án:

Có căn cứ để xử cho chị Thào Thị C được ly hôn anh Sùng A L.

Con chung: Giao cho anh Sùng A L trực tiếp nuôi con Sùng A D1, sinh ngày 06/02/2014, chị Thào Thị C trực tiếp nuôi con Sùng Thị N, sinh ngày 08/5/2015. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản riêng: Chấp nhận thỏa thuận của đương sự: Anh Sùng A L trả lại 02 chiếc máy khâu cho chị Thào Thị C.

Không chấp nhận yêu cầu anh Sùng A L về việc yêu cầu chị Thào Thị C phải trả lại số tiền sính lễ cưới (thách cưới) 12.700.000, đồng.

Về nợ: Anh Sùng A L có trách nhiệm trả nợ gốc 30.000.000, đồng và lãi phát sinh cho Ngân hàng chính sách, xã hội huyện M, tỉnh Sơn La.

Do nguyên đơn rút yêu cầu Tòa án giải quyết về chia tài sản là nhà, đất ruộng, bò. Căn cứ theo quy định Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu trên.

Chị Thào Thị C được miễn án phí dân sự sơ thẩm do là hộ nghèo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà và các quy định của pháp luật. Tòa án phân tích, đánh giá, nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Thào Thị C có đơn đề nghị xử vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ theo quy định khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự có đủ căn cứ xử vắng mặt chị Thào Thị C.

Anh Sùng A L có mặt tại phiên tòa, nhưng vắng mặt khi tuyên án. Căn cứ theo quy định Điều 267 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử tuyên án.

[1.2] Về xem xét việc bổ sung yêu cầu của đương sự: Tại phiên tòa chị Thào Thị C yêu cầu Tòa án giải quyết nếu anh Sùng A L đòi tiền sính lễ cưới và tiền nợ ngân hàng chính sách thì đòi chia một phần tài sản là nhà, đất ruộng, bò. Tòa án đã yêu cầu chị Thào Thị C cung cấp: Chứng cứ tài liệu giấy tờ liên quan đến đất đai, nhà, tài sản khác. Nhưng nguyên đơn không cung cấp được, nên không có căn cứ xem xét giải quyết. Đồng thời nguyên đơn rút yêu cầu Tòa án giải quyết về chia tài sản là nhà, đất, ruộng, bò. Căn cứ theo quy định Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu trên.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Thào Thị C và anh Sùng A L có đăng ký kết hôn, có tìm hiểu, tự nguyện là đúng pháp luật. Cuộc sống chung hoà thuận thời gian đầu, mâu thuẫn vợ chồng chủ yếu do hai người bất đồng quan điểm sống. Hai người sống ly thân đến nay không quan tâm đến cuộc sống của nhau, xét mâu thuẫn vợ chồng không khắc phục được là có căn cứ.

Xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng chị Thào Thị C và anh Sùng A L đã được gia đình và chính quyền khuyên giải, đã kéo dài, trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nay chị Thào Thị C yêu cầu được ly hôn là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Cần chấp nhận xử cho chị Thào Thị C được ly hôn anh Sùng A L.

[3] Về con chung: Có hai con là Sùng A D1, sinh ngày 06/02/2014 và Sùng Thị N, sinh ngày 08/5/2015. Căn cứ vào nguyện vọng của con Sùng A D1 muốn ở với bố, con Sùng Thị N muốn ở với mẹ. Nên cần chấp nhận giao cho anh Sùng A L trực tiếp nuôi con Sùng A D1. Chị Thào Thị C trực tiếp nuôi con Sùng Thị N. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con, theo quy định của các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Về tài sản chung: Đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về tài sản riêng: Chấp nhận thỏa thuận của đương sự anh Sùng A L trả lại 02 chiếc máy khâu cho chị Thào Thị C.

[6] Về yêu cầu đòi tiền sính lễ cưới: Nguyên đơn anh Sùng A L yêu cầu khi hai bên cưới con có giao cho bên nhà gái tiền sính lễ cưới 12.700.000, đồng. Nay hai người ly hôn thì yêu cầu phải trả lại số tiền trên cho anh Sùng A L.

Tại lời khai của chị Thào Thị C về nguồn gốc số tiền chi phí thách cưới theo phong tục tập quán, bản thân chị và anh Sùng A L đều không được cầm mà là tiền do hai gia đình (bố mẹ hai bên) thống nhất để chi phí cho đám cưới là đúng phong tục tập quán khi về nhà chồng.

Hội đồng xét xử xét: Đối với số tiền chi phí thách cưới theo phong tục tập quán là do hai bên tự nguyện thỏa thuận, đã được chi phí là đúng phong tục tập quán, nên yêu cầu đòi lại của anh Sùng A L là không có căn cứ chấp nhận.

[7] Về nợ chung: Căn cứ sổ vay vốn mã khách hàng 7080644023, ngày 19/4/2022 Ngân hàng cho gia đình anh Sùng A L và chị Thào Thị C vay theo chương trình hộ nghèo, số tiền gốc vay là 30.000.000, đồng. Nay anh Sùng A L yêu cầu chia đôi mỗi người một nửa. Chị Thào Thị C cho rằng số nợ trên vay về mua trâu, sau anh Sùng A L bán đi và giữ tiền. Do chị để lại cho anh tất cả nhà, đất, ruộng, nương, trâu, bò nên anh Sùng A L phải có trách nhiệm thanh toán trả cho Ngân hàng khoản nợ trên. Đồng thời Ngân hàng yêu cầu anh Sùng A L có trách nhiệm trả nợ gốc và lãi phát sinh. Có căn cứ chấp nhận buộc anh Sùng A L có trách nhiệm trả nợ gốc 30.000.000, đồng và lãi phát sinh cho Ngân hàng chính sách xã hội huyện C1, tỉnh Sơn La.

[8] Về ý kiến đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Xử cho chị Thào Thị C được ly hôn anh Sùng A L; Giao cho anh Sùng A L trực tiếp nuôi con Sùng A D1, sinh ngày 06/02/2014, chị Thào Thị C trực tiếp nuôi con Sùng Thị N, sinh ngày 08/5/2015. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con; Không giải quyết về tài sản chung do nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu; Về tài sản riêng: Chấp nhận thỏa thuận của đương sự anh Sùng A L trả lại 02 chiếc máy khâu cho chị Thào Thị C; Về nợ: Anh Sùng A L có trách nhiệm trả nợ gốc 30.000.000, đồng và lãi phát sinh cho Ngân hàng chính sách, xã hội huyện M, tỉnh Sơn La; Không chấp nhận yêu cầu anh Sùng A L về việc yêu cầu chị Thào Thị C phải trả lại số tiền sính lễ cưới (thách cưới) 12.700.000, đồng; Do nguyên đơn rút yêu cầu Tòa án giải quyết về chia tài sản là nhà, đất ruộng, bò. Căn cứ theo quy định Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu trên. Nguyên đơn chị Thào Thị C thuộc hộ nghèo được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ chấp nhận.

[9] Về án phí: Chị Thào Thị C được miễn án phí dân sự sơ thẩm do là hộ nghèo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 37; khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 228; Điều 244; Điều 267 của Bộ luật Tố tụng dân sự của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Toà án:

  1. Xử cho chị Thào Thị C được ly hôn anh Sùng A L.
  2. Về con chung: Giao cho anh Sùng A L trực tiếp nuôi con Sùng A D1, sinh ngày 06/02/2014. Chị Thào Thị C trực tiếp nuôi con Sùng Thị N, sinh ngày 08/5/2015. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

  1. Về tài sản chung: Đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Không chấp nhận yêu cầu của anh Sùng A L về việc yêu cầu chị Thào Thị C phải trả lại số tiền sính lễ cưới (thách cưới) 12.700.000, đồng.
  3. Về tài sản riêng: Chấp nhận thỏa thuận của đương sự anh Sùng A L trả lại 02 chiếc máy khâu cho chị Thào Thị C.
  4. Về nợ: Anh Sùng A L có trách nhiệm trả nợ gốc 30.000.000, đồng (ba mươi triệu đồng) và lãi phát sinh cho Ngân hàng chính sách xã hội huyện C1, tỉnh Sơn La. Theo sổ vay vốn mã khách hàng 7080644023, ngày 19/4/2022.
  5. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu giải quyết về chia tài sản là nhà, đất ruộng, bò của chị Thào Thị C.

Các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu này bằng vụ án khác khi có đủ điều kiện.

  1. Về án phí: Chị Thào Thị C được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Chị Thào Thị C, anh Sùng A L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Mường La (2);
  • - Chi cục THADS huyện Mường La;
  • - UBND xã Ngọc Chiến, huyện Mường La, tỉnh Sơn La (để vào sổ hộ tịch);
  • - Các đương sự (3);
  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

(đã ký)

Nguyễn Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HNGĐ-ST ngày 03/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 25/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bản án TCLH giữa chị Thào Thị Của và anh Sùng A Lụ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger