Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 25/2025/HS-PT

Ngày 27 tháng 02 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Xuân Oanh

Các Thẩm phán: 1. Ông Võ Đình Phương

2. Ông Trần Văn Thật

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Biên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Thành – Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 193/2024/TLPT – HS ngày 11 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Bùi Thị T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 203/2024/HS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

- Bị cáo có kháng cáo:

Bùi Thị T, sinh ngày: 01/01/1953 tại Quảng Ngãi; Nơi cư trú: I Đồng Nai, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Đình D và bà Mai Thị L (đều đã chết); Có chồng, Nguyễn Thành V, sinh năm: 1952 và 02 con (lớn sinh năm: 1980 và nhỏ sinh năm: 1992); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt phiên tòa.

- Bào chữa cho bị cáo: Bà Lục Thị T1 - Luật sư văn phòng L1 thuộc đoàn luật sư tỉnh K; Địa chỉ: 7 L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng từ tháng 01 năm 1993 đến tháng 06 năm 1995, do cần tiền để làm ăn nên Bùi Thị T tổ chức cho nhiều người tham gia chơi “Huê hụi” tại địa bàn phường P, thành phố N. T vay mượn tiền, vàng của 07 người với tổng số tiền 208.000.000 đồng và 50 chỉ vàng 96%, bằng các hình thức thỏa thuận miệng và viết giấy vay mượn tiền, vàng cụ thể như sau: Ngày 12/01/1993 và ngày 20/3/1993, bà T viết giấy mượn số tiền 45.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị S. Các ngày 30/11/1993, ngày 01/01/1994 và ngày 02/3/1994, bà T có viết giấy vay mượn số tiền 4.000.000 đồng và 40 chỉ vàng y 96% của bà Phạm Thị Diễm. Các ngày 20/12/1993, ngày 02/4/1995, ngày 01/5/1995 và ngày 10/5/1995, bà T có viết giấy vay mượn số tiền 62.500.000 đồng và 10 chỉ vàng y 96% của Lê Thị Hồng N. Năm 1995, bà T thỏa thuận miệng việc vay mượn số tiền 16.000.000 đồng của bà Trương Thị T2 (không viết giấy vay tiền) được bà T thừa nhận. Ngày 16/5/1995, Bùi Thị T có viết giấy mượn tiền 40.000.000 đồng của bà Ngô Thị T3. Ngày 15/6/1995, bà T có viết giấy mượn số tiền 30.000.000 đồng của bà Võ Thị B. Tháng 6/1995, bà T có thỏa thuận miệng vay mượn số tiền 10.500.000 đồng của bà Bạch Thị T4 (không viết giấy vay tiền) được bà T thừa nhận. Sau đó, bà T cho bà Nguyễn Thị T5 vay số tiền 198.000.000đ; đến tháng 7 năm 1995, bà T5 vỡ nợ bỏ trốn khỏi địa phương, dẫn đến việc bà T không có khả năng chi trả rồi bà T bỏ trốn khỏi địa phương, nhằm chiếm đoạt số tiền vay mượn của 07 bị hại nêu trên.

Từ năm 2009 đến năm 2011, Bùi Thị T cùng gia đình đã chủ động trả lại cho các bị hại tổng cộng số tiền 133.500.000 đồng và 40 chỉ vàng y (96%) cụ thể sau: Ngày 15/7/2009, trả cho bà Bạch Thị T4 số tiền 6.500.000 đồng; ngày 13/7/2011, trả cho bà Võ Thị B số tiền 10.000.000 đồng; ngày 17/7/2011, trả cho bà Nguyễn Thị S số tiền 15.000.000 đồng; ngày 15/7/2011, trả cho bà Phạm Thị Diễm toàn B1 số tiền, vàng (quy đổi thành tiền) đã mượn và chiếm đoạt trước đó; Ngày 01/8/2011, trả cho bà Ngô Thị T3 số tiền đã mượn và chiếm đoạt trước đó; Ngày 03/8/2011, trả cho bà Lê Thị Hồng N số tiền 58.000.000 đồng.

Ngày 05/9/2023, Bùi Thị T đã đến Công xã Ea H'leo, huyện E, tỉnh Đắk Lắk để đầu thú. Quá trình điều tra đến nay không thu giữ được số vàng mà các bị hại đã cho Bùi Thị T vay mượn nên không thể tiến hành giám định số vàng trên.

Tại Cáo trạng số 137/CT-VKSNT ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đã truy tố Bùi Thị T về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 158 Bộ luật hình sự 1985.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 203/2024/HS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 158 Bộ luật Hình sự năm 1985; Điểm b, o, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Bùi Thị T.

- Xử phạt: Bị cáo Bùi Thị T 02 (Hai) năm tù, về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, giam thi hành án nhưng được trừ vào thời gian bắt tạm giữ trước đó ngày 05/9/2023 – 08/9/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đều không yêu cầu dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

- Kiến nghị: Cơ quan Công an thành phố N tiếp tục xác minh nhân thân, lai lịch của Đinh Thị Ngọc H, sinh năm 1959; Địa chỉ: Số C H, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa là người cho bà Bùi Thị T vay mượn số tiền 10.000.000 đồng và 10 chỉ vàng y 96%; Đề xem xét xử lý trách nhiệm đối với Bùi Thị T nếu có đủ căn cứ.

Ngày 05/9/2024, bị cáo Bùi Thị T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa phát biểu tại phiên tòa phúc thẩm: Mức án cấp sơ thẩm đã tuyên 02 năm tù là phù hợp với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử y án sơ thẩm và giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo.

- Ý kiến của luật sư Lục Thị T1 bào chữa cho bị cáo Bùi Thị T: Thống nhất với tội danh và hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết phạm tội nhiều lần là chưa phù hợp. Hiện nay, các bị hại đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 và 65 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai trái và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị cáo Bùi Thị T kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định, nên kháng cáo của các bị cáo được cấp phúc thẩm xem xét.

[2] Xét nội dung kháng cáo:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Bùi Thị T thừa nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện như nội dung bản án sơ thẩm số 203/2024/HS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, lợi dụng tín nhiệm nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác đó là một trong những khách thể được luật hình sự bảo vệ. Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 158 Bộ luật Hình sự năm 1985 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Bị cáo Bùi Thị T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Xét thấy, bị cáo phạm tội nhiều lần nhưng bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường 01 phần cho bị hại, bị cáo là người già, sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú, các bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, cần áp dụng thêm mức hình phạt dưới khung của khung liền kề theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo nên sửa bản án sơ thẩm, giảm mức hình phạt cho bị cáo.

[3] Về án phí: Bị cáo Bùi Thị T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

[4] Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điểm a khoản 2 Điều 158 Bộ luật Hình sự năm 1985; điểm b, o, s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, bổ sung sửa đổi năm 2017; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo Bùi Thị T.

- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Thị T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt thi hành án. Thời gian bắt tạm giữ từ ngày 05/9/2023 đến ngày 08/9/2023 được tính trừ vào thời gian chấp hành án.

2. Về án phí: Bị cáo Bùi Thị T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1- TANDTC;
  • - TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa;
  • - TAND TP. Nha Trang;
  • - VKSND TP. Nha Trang;
  • - Cơ quan điều tra – Công an TP. Nha Trang;
  • - Chi cục THADS TP. Nha Trang
  • - Bị cáo; người TGTT;
  • - Lưu hồ sơ.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Huỳnh Thị Xuân Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HS-PT ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự phúc thẩm (lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 25/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BÙI THỊ TUẤN - LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger