|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2025/HS-PT Ngày 27 tháng 02 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Hà Giang;
Các Thẩm phán: bà Nguyễn Thị Hằng và bà Trần Thị Hà;
Thư ký tòa án ghi biên bản phiên toà: bà Trịnh Ngọc Mai - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: bà Phan Thị Diễm Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 27/02/2025, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 313/TLPT-HS ngày 30 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Đặng Quốc H, do có kháng cáo của bị cáo Đặng Quốc H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 238/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
Bị cáo có kháng cáo: Đặng Quốc H, sinh năm 1982; Nơi thường trú: số A, đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Nơi cư trú: số A, ngõ A, đường N, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông Đặng Đình H1, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1965; Vợ Nguyễn Thị Bích H2, sinh năm 1983 (đã ly hôn); bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2014. Gia đình có 04 anh em, bị cáo là thứ nhất; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt truy nã và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1965 (có mặt);
Địa chỉ: số B đường T, phường T, thành phố B.
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến năm 2016, Đặng Quốc H có hành vi thuê xe ô tô của anh Nguyễn Hữu G và anh Hoàng Văn C sau đó nảy sinh ý định chiếm đoạt và mang đi cầm cố lấy tiền chi tiêu cá nhân. Cụ thể:
1. Chiếm đoạt chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA, Biển kiểm soát 984-003.84 của anh Nguyễn Hữu G:
Ngày 17/5/2015, Đặng Quốc H đến cửa hàng cho thuê xe ô tô tự lái của anh Nguyễn Hữu G tại số H đường T, phường L, thành phố B thuê của anh G chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA, màu sơn vàng, Biển kiểm soát 98A-003.84 làm phương tiện đi lại. Khi thuê xe, H ký hợp đồng thuê xe tự lái với anh G đề ngày 17/5/2015, thời hạn thuê là 10 ngày với giá 600.000 đồng/1 ngày. Sau đó, anh G giao cho H đầy đủ giấy tờ xe. Đến thời hạn trả xe, H tiếp tục gọi điện cho anh G để thuê xe thì anh G đồng ý. Khoảng 04 tháng sau, do không có tiền chi tiêu cá nhân nên H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe ô tô trên và mang đi cầm cố cho anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1967, trú tại thôn H, xã Đ, huyện Y để lấy số tiền 200.000.000 đồng. H làm hợp đồng cầm cố xe rồi đưa cho anh Trọng giữ. Do vay phải trả lãi suất cao nên H đã liên hệ với anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1976, trú tại tiểu khu A, thị trấn N, huyện Y (nay là tổ dân phố số A, thị trấn N) đặt vấn đề cầm cố chiếc xe ô tô trên cho anh C1 để vay 200.000.000 đồng. Đồng thời, H bảo chiếc xe ô tô trên đang cầm cố cho anh T thì anh C1 đồng ý. Ngày 09/12/2015, anh C1 cùng H đến nhà anh T, anh C1 đưa cho H 200.000.000 đồng để trả cho anh T rồi H lấy xe ô tô trên cầm cố cho anh C1. Theo yêu cầu của anh C1, H đã viết giấy bán xe ô tô BKS 98A-003.84 cho anh C1 với số tiền 200.000.000 đồng. Sau khi cầm cố chiếc xe trên cho anh C1, H không có tiền trả cho anh C1 để chuộc xe trả cho anh G.
2. Chiếm đoạt chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, Biển kiểm soát 29A-707.97 của anh Hoàng Văn C
Ngày 16/7/2016, Đặng Quốc H đến xưởng sửa chữa và cho thuê xe tự lái của anh Hoàng Văn C tại xã H, huyện V (nay là phường H, thị xã V) thuê xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, màu sơn ghi, Biển kiểm soát 29A-707.97 để làm phương tiện đi lại. Khi thuê xe, giữa H và anh C có lập hợp đồng cho thuê xe tự lái, thời hạn thuê là 01 tháng với giá 18.000.000 đồng. Sau khi thuê được xe ô tô của anh C, do không có tiền ăn tiêu nên H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe ô tô trên và mang đi cầm cố cho chị Hà Thị N để vay số tiền 150.000.000 đồng. Để tạo lòng tin, H đã nhờ
chị Đào Thị T1 đứng ra nhận chiếc xe trên là của chồng chị T1. Khi nhận cầm cố xe, chị N yêu cầu chị T1 viết giấy nhận tiền. Sau đó, H sử dụng số tiền cầm cố xe có được để chi tiêu cá nhân hết nên không có khả năng chuộc lại xe trả cho anh C.
Lần lượt các ngày 09/10/2016 và 18/10/2016, anh Nguyễn Hữu G và anh Hoàng Văn C làm đơn trình báo và đề nghị xử lý đối với hành vi của Đặng Quốc H.
Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh B đã trưng cầu giám định đối với các tài liệu gồm: Hợp đồng cho thuê xe tự lái, hợp đồng thuê xe, giấy nhận tiền do anh Nguyễn Hữu G, Hoàng Văn C, chị Hà Thị N giao nộp. Tại bản Kết luận giám định số 293/KL-PC54 ngày 06/3/2017 và Kết luận giám định số 749/KL-PC54 ngày 19/5/2017, Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Chữ ký, chữ viết trên các tài liệu cần giám định là chữ ký, chữ viết của Đặng Quốc H.
Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh B đã tiến hành định giá 02 chiếc xe ô tô trên, kết quả:
- - 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia Morning, màu sơn vàng, Biển kiểm soát 98A-003.84 (xe của anh Nguyễn Hữu G) có giá trị 250.000.000 đồng.
- - 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, màu sơn ghi, Biển kiểm soát 29A-707.97 (xe của anh Hoàng Văn C) có giá trị 220.000.000 đồng.
Căn cứ vào kết quả điều tra, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh B đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Đặng Quốc H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 3 Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Quá trình điều tra, do H bỏ trốn khỏi địa phương, ngày 26/6/2017, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh B đã ra Quyết định truy nã số 08 đối với Đặng Quốc H. Ngày 09/10/2017, do thời hạn điều tra vụ án đã hết, Cơ quan điều tra đã ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án và quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can.
Ngày 27/6/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh B bắt được Đặng Quốc H và phục hồi điều tra vụ án. Tại cơ quan điều tra, H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra thu giữ 02 chiếc xe ô tô do anh C1 và anh Nguyễn Thế T2, sinh năm 1974, trú tại số G, ngõ H, phường N, thành phố B giao nộp (anh T2 mượn xe của chị N). Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho anh Hoàng Văn C chiếc xe ô tô Biển kiểm soát 29A-707.97, trại lại cho anh Nguyễn Hữu G xe ô tô Biển kiểm soát 98A-003.84.
Quá trình điều tra, truy tố bị cáo H đã khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.
Với nội dung trên, Bản án hình sự sơ thẩm số: 238/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã căn cứ vào khoản 3 và khoản 5 Điều 175; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 và khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Quốc H 04 (Bốn) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 27/6/2024. Phạt bổ sung 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để nộp Ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra bản ản còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Ngày 25/11/2024, bị cáo Đặng Quốc H kháng cáo phần hình phạt bản án sơ thẩm đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Đặng Quốc H giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và trình bày: Bản án sơ thẩm xử bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là đúng, không oan, hành vi của bị cáo như bản án sơ thẩm xác định là đúng. Tuy nhiên bản án xử phạt bị cáo 04 (Bốn) năm 03 (Ba) tháng tù là nặng. Do vậy, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, bị cáo đang phải nuôi hai con nhỏ, bị cáo đã tác động để gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và người liên quan và tác động để mẹ bị cáo nộp cho bị cáo toàn bộ tiền phạt bổ sung và án phí (bà O là mẹ bị cáo đã xuất trình biên lai nộp án phí hình sự sơ thẩm và tiền phạt), đề nghị Hội đồng xem xét.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án sơ thẩm xét xử bị cáo 04 năm 03 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội và không oan. Tuy nhiên tại cấp phúc thẩm, bị cáo đã tác động để mẹ bị cáo nộp tiền án phí 200.000 đồng và tiền phạt 10.000.000 đồng. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Căn cứ vào mức độ, tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của BLTTHS chấp nhận kháng cáo của bị cáo H, sửa bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù; bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo không tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo rất ăn năn hối lỗi, hữa sẽ cải tạo tốt và mong được nhận sự khoan hồng của pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tội danh, HĐXX thấy: từ ngày 17/5/2015 đến ngày 16/7/2016, bị cáo Đặng Quốc H đã có hành vi thuê 02 (hai) chiếc xe ô tô tự lái gồm: 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA, màu sơn vàng, Biển kiểm soát 98A-003.84 trị giá 250.000.000 đồng của anh Nguyễn Hữu G và 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, màu sơn ghi, Biển kiểm soát 29A-707.97, trị giá 220.0000 đồng của anh Hoàng Văn C để làm phương tiện đi lại. Do không có tiền chi tiêu cá nhân, H đã mang 02 (hai) chiếc xe ô tô trên đi cầm cố lấy tiền chi tiêu dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản cho chủ sở hữu. Tổng giá trị tài sản bị cáo H chiếm đoạt là 470.000.000 đồng (Bốn trăm bảy mươi triệu đồng). Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên. Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 238/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử đối với bị cáo H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản " theo quy định tại khoản 3 Điều 175 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về hình phạt: Bị cáo là người đủ tuổi, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Tại cấp sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chủ động khắc phục bồi thường hậu quả, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để xử phạt 04 năm 03 tháng tù là có căn cứ.
[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, HĐXX thấy: tại cấp phúc thẩm, bị cáo đã tác động để mẹ bị cáo nộp án phí sơ thẩm và tiền phạt với tổng số tiền 10.200.000 đồng, bị cáo có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tại cấp phúc thẩm có tình tiết giảm nhẹ mới
nên Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa.
[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
[6] Án phí hình sự sơ thẩm và tiền phạt bổ sung do bị cáo H đã tác động để bà Nguyễn Thị O là mẹ đẻ của bị cáo nộp thay. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà O trình bày không yêu cầu bị cáo trả lại. Xác nhận bị cáo Đặng Quốc H đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 10.000.000 đồng tiền phạt bổ sung theo Biên lai thu tiền số 0001373 ngày 09/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
[7] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử: chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đặng Quốc H. Sửa bản án sơ thẩm.
2. Căn cứ khoản 3 và khoản 5 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 và khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Đặng Quốc H 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 27/6/2024. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước. Xác nhận bị cáo Đặng Quốc H đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 10.000.000 đồng tiền phạt bổ sung theo Biên lai thu tiền số 0001373 ngày 09/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Đặng Quốc H không phải chịu.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hà Giang |
Bản án số 25/2025/HS-PT ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 25/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
