|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN TỈNH LONG AN Bản án số: 25/2025/DS-ST Ngày: 25-02-2025 “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN - TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Kim Loan
Các Hội thẩm nhân dân.
- 1/ Ông Lê Văn Tuấn
- 2/ Ông Nguyễn Văn Sở
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thùy Trang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 507/2024/TLST – DS ngày 25 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-DS ngày 16/01/2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QĐST-DS này 07/02/2025, giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn: Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn một thành viên S (tên gọi cũ Ngân hàng thương mại cổ phần Đ1).
Trụ sở chính: số G L, phường T, Quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Hữu Đ, chức vụ : chủ tịch Hội đồng thành viên.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Ngô Hoàng V, chức vụ: Phó phòng phát triển kinh doanh - Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn một thành viên S – Chi nhánh L, địa chỉ: số B đường H nối dài, phường B, thành phố T, tỉnh Long An, theo quyết định ủy quyền số 25/QĐ-LAN ngày 18/02/2025 (có mặt).
-
- Bị đơn: Ông Đặng Quốc T, sinh năm 1967 (vắng mặt) và bà Hồ Thị Phương T1, sinh năm 1967 (vắng mặt).
-
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Phú T2, sinh năm 1992 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: khu phố D, phường B, thị xã K, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 02/10/2024 và các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn một thành viên S (viết tắt V1) (tên gọi cũ Ngân hàng thương mại cổ phần Đ1 - viết tắt D) do ông Ngô Hoàng V đại diện trình bày:
Ngày 15/03/2023, D - Chi nhánh L và ông Đặng Quốc T, bà Hồ Thị Phương T1 có ký Hợp đồng tín dụng hạn mức số K.0007/HM23 với hạn mức cấp tín dụng tối đa là 1.000.000.000đ, thời hạn duy trì hạn mức: 12 tháng đến hết ngày 13/03/2024.
Theo đó, ngày 17/01/2024 D và ông Đặng Quốc T, bà Hồ Thị Phương T1 có ký Hợp đồng tín dụng cụ thể kiêm giấy nhận nợ số 003K.0007/HM23, số tiền vay 1.000.000.000đ, lãi suất 7,5%/năm, thời hạn vay 05 tháng, từ ngày 17/01/2024 đến 17/06/2024, mục đích vay: bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh lúa, gạo. Lịch trả gốc: cuối kỳ, lãi vay được trả theo định kỳ vào ngày 15 hàng tháng.
Tài sản bảo đảm:
Ngày 15/03/2023, giữa D và ông Đặng Phú T2 có ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số K.0005/TC23, số công chứng 182, quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C chứng nhận giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Đ1 – Chi nhánh L với ông Đặng Phú T2, được đăng ký biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã K, tỉnh Long An vào ngày 16/03/2023.
Trong quá trình vay, từ ngày 17/01/2024 đến ngày 22/5/2024, ông T và bà T1 trả được tiền lãi trong hạn là 24.452.055đ. Do ông T và bà T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên từ ngày 30/7/2024, D đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn.
Nay Ngân hàng V1 (tên gọi cũ Ngân hàng D) yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc Đặng Quốc T và bà Hồ Thị Phương T1 thanh toán toàn bộ số vốn gốc và lãi vay tính đến ngày 25/02/2025, trong đó vốn: 1.000.000.000đ, lãi trong hạn: 6.780.822đ, lãi quá hạn: 77.979.452đ, tổng cộng: 1.084.760.274đ, yêu cầu trả ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Nếu ông Đặng Quốc T và bà Hồ Thị Phương T1 không thực hiện theo yêu cầu thì Ngân hàng V1 (tên gọi cũ Ngân hàng D) có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi các tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho Ngân hàng V1 (tên gọi cũ Ngân hàng D).
Trường hợp tài sản đảm bảo không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì ông Đặng Quốc T và bà Hồ Thị Phương T1 tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng V1 (tên gọi cũ Ngân hàng thương mại cổ phần Đ1).
Bị đơn ông Đặng Quốc T, bà Hồ Thị Phương T1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đặng Phú T2 vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng:
Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa, thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do V2 xuất trình là hợp đồng tín dụng số K.0007/HM23 ngày 15/3/2023; hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số 003K.0007/HM23 ngày 17/01/2024 có chữ ký của ông T, bà T1. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T và bà T1 nhưng ông T và bà T1 vẫn không có mặt để làm việc, không có lời khai thể hiện ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của V1. Xét thấy, hợp đồng tín dụng, hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ như trên được ký kết giữa V1 với ông T, bà T1 là hoàn toàn tự nguyện, hợp đồng đảm bảo về nội dung và hình thức theo quy định tại các Điều 117, 119, Điều 463 Bộ luật Dân sự nên hợp đồng tín dụng đã ký giữa hai bên có hiệu lực bắt buộc thực hiện. Quá trình thực hiện các hợp đồng tín dụng, ông T, bà T1 không thanh toán đúng hạn là vi phạm phương thức trả nợ theo Điều 5 của hợp đồng tín dụng hạn mức; Điều 5, Điều 9 điều khoản và điều kiện cấp tín dụng; vi phạm quyền, nghĩa vụ bên vay theo Điều 11 điều khoản và điều kiện cấp tín dụng; vi phạm Điều 466 Bộ Luật dân sự nên V2 khởi kiện yêu cầu ông T, bà T1 trả nợ gốc các hợp đồng tín dụng với số tiền 1.000.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.
Về số tiền lãi: Ông T, bà T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán với V1 nên có nghĩa vụ thanh toán lãi suất theo quy định tại Điều 3, Điều 5 điều khoản và điều kiện cấp tín dụng; mục 6, 10 hợp đồng tín dụng cụ thể kiêm giấy nhận nợ mà ông, bà đã ký với ngân hàng V1. Do đó, V2 yêu cầu ông T, bà T1 trả lãi trong hạn 6.780.822 đồng và lãi quá hạn 77.979.452 đồng là phù hợp tại Điều 468 Bộ luật dân sự, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng nên có căn cứ chấp nhận.
Về tài sản đảm bảo: Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa V1 với ông T, bà T1, ông Đặng Phú T2 và V1 có ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số K.0005/TC23, số công chứng 182, quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C thực hiện. Hợp đồng thế chấp có chữ ký của ông T2. Xét thấy, hợp đồng thế chấp như trên được ký kết giữa V1 với ông T2 là hoàn toàn tự nguyện, hợp đồng được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm đầy đủ nên đảm bảo về nội dung và hình thức theo quy định tại các Điều 117, 119, Điều 298, 317 Bộ luật Dân sự nên Hợp đồng thế chấp đã ký giữa hai bên có hiệu lực bắt buộc thực hiện. Quá trình thực hiện các Hợp đồng tín dụng, do ông T, bà T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán với ngân hàng vì vậy nếu ông T, bà T1 không trả nợ đúng thì ngân hàng được yêu cầu phát mãi các tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 607164, thửa số 3589, diện tích: 100 m², tờ bản đồ số 3, địa chỉ: Phường A, thị xã K, tỉnh Long An.
Về án phí: Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326, ông T, bà T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền:
Ngân hàng V1 (tên gọi cũ Ngân hàng D) có đơn khởi kiện yêu cầu ông Đặng Quốc T và bà Hồ Thị Phương T1 thanh toán số tiền nợ gốc, nợ lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Tân An thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.
[1.2] Về xét xử vắng mặt đương sự:
Đối với bị đơn ông Đặng Quốc T và bà Hồ Thị Phương T1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đặng Phú T2 vắng mặt, Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục niêm yết, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định cho ông T, bà T1, ông T2 nhưng ông T, bà T1, ông T2 vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng V1 (tên gọi cũ Ngân hàng D) yêu cầu ông Đặng Quốc T và bà Hồ Thị Phương T1 trả số tiền nợ gốc 1.000.000.000đ. Xét thấy, để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện có căn cứ, ngân hàng cung cấp Hợp đồng tín dụng cụ thể kiêm giấy nhận nợ số 003K.0007/HM23 ngày 17/01/2024 đều có chữ ký của ông T và bà T1 và đã quá hạn thanh toán. Do vậy, cần buộc ông Đặng Quốc T và bà Hồ Thị Phương T1 phải thanh toán số tiền nợ gốc 1.000.000.000đ cho Ngân hàng V1 (tên gọi cũ Ngân hàng D) là phù hợp theo quy định tại Điều 463, 466 Bộ luật dân sự.
[2.2] Xét yêu cầu tính lãi suất:
Ngân hàng V1 (tên gọi cũ Ngân hàng D) yêu cầu ông Đặng Quốc T và bà Hồ Thị Phương T1 thanh toán số tiền lãi phát sinh thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng cụ thể kiêm giấy nhận nợ. Xét thấy: việc tính lãi và cả lãi nợ quá hạn đối với các khoản vay của tổ chức tín dụng, ngân hàng phải theo đúng hợp đồng đã ký kết. Xét, yêu cầu tính lãi của Ngân hàng V1 (tên gọi cũ Ngân hàng D) là phù hợp. Vì vậy, cần chấp nhận theo yêu cầu tính lãi của Ngân hàng V1 (tên gọi cũ Ngân hàng D) tính đến ngày 25/02/2025 gồm nợ lãi trong hạn 6.780.822đ, nợ lãi quá hạn 77.979.452đ. Ông Đặng Quốc T và bà Hồ Thị Phương T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
[2.3] Xét hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số K.0005/TC23 ngày 15/03/2023, HĐXX thấy rằng:
Để bảo đảm cho khoản vay theo Hợp đồng tín dụng cụ thể kiêm giấy nhận nợ số 003K.0007/HM23 ngày 17/01/2024 của ông T và bà T1. Ngày 15/03/2023, ông Đặng Phú T2 đã thế chấp quyền sử dụng đất tại thửa đất số 3586, tờ bản đồ số 3, diện tích 100m², vị trí thửa đất tại phường A, thị xã K, tỉnh Long An, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 09/4/2021 cho ông Đặng Phú T2, theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số K.0005/TC23, số công chứng 182, quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C chứng nhận ngày 15/03/2023 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Đ1 – Chi nhánh L với ông Đặng Phú T2. Hợp đồng được đăng ký biện pháp bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã K, tỉnh Long An vào ngày 16/03/2023, hợp đồng thế chấp này được công chứng và đăng ký thế chấp theo đúng quy định của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 17/12/2024 Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, hiện trạng thửa đất số 3586: một phần thửa có 01 nhà kho kết cấu: trụ cột bê tông, vách tole, mái tole thiếc của ông Đặng Quốc T. Tại khoản 3 Điều 3 của hợp đồng thế chấp quy định: “Toàn bộ hoa lợi, lợi tức và các quyền tài sản khác phát sinh từ tài sản thế chấp (viết tắt TSTC) (bao gồm cả vật phụ, cây trồng, trang thiết bị kèm theo, diện tích cải tạo, đầu tư xây dựng thêm, ... gắn liền với thửa đất) cũng thuộc TSTC. Trường hợp phải xử lý TSTC để thu hồi nợ, thì Ngân hàng được toàn quyền xử lý tất cả các tài sản gắn liền với thửa đất cho dù tài sản đó tồn tại trước, trong, hay sau thời điểm ký kết Hợp đồng này, cho dù tài sản đó do Bên thế chấp đầu tư, cải tạo, xây thêm hay cho phép bên thứ ba đầu tư, cải tạo, xây thêm” và tại điểm e khoản 3 Điều 9 quy định: “Tất cả các tài sản, vật phụ, công trình xây dựng, cây trồng, trang thiết bị kèm theo, diện tích cải tạo đầu tư xây dựng thêm và các quyền tài sản khác phát sinh từ và/hoặc gắn liền với TSTC đã, đang và sẽ hình thành trong tương lai cũng đều thuộc TSTC theo Hợp đồng này”. Do đó, yêu cầu của Ngân hàng tiếp tục thực hiện hợp đồng thế chấp để đảm bảo thu hồi nợ là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 317, 318 của Bộ luật Dân sự nên chấp nhận.
[2.4] Về cách thức trả nợ: Để đảm bảo quyền lợi cho Ngân hàng V1 (tên gọi cũ Ngân hàng D) cần buộc ông Đặng Quốc T và bà Hồ Thị Phương T1 thanh toán số tiền nợ gốc và nợ lãi là 1.084.760.274đ cho Ngân hàng V1 (tên gọi cũ Ngân hàng D) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
[3] Án phí, chi phí tố tụng:
[3.1] Về án phí:
Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Ông Đặng Quốc T và bà Hồ Thị Phương T1 phải chịu án phí do phải trả nợ theo quy định với mức thu là 44.542.808đ.
Ngân hàng V1 (tên gọi cũ Ngân hàng thương mại cổ phần Đ1) được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 21.568.664đ theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000937 ngày 25/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An.
[3.2] Về chi phí tố tụng:
Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 12.000.000đ, ông T và bà T1 phải chịu, ông T và bà T1 có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng V1 (tên gọi cũ Ngân hàng D) số tiền 12.000.000đ.
[4] Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên tòa về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 228, 266, 267, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Áp dụng Điều 317, 318, 463, 466 Bộ luật Dân sự;
Áp dụng Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;
Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn một thành viên S (tên gọi cũ Ngân hàng thương mại cổ phần Đ1) về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với bị đơn ông Đặng Quốc T và bà Hồ Thị Phương T1.
- Buộc ông Đặng Quốc T và bà Hồ Thị Phương T1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn một thành viên S (tên gọi cũ Ngân hàng thương mại cổ phần Đ1) tổng số tiền 1.084.760.274đ (một tỷ không trăm tám mươi bốn triệu bảy trăm sáu mươi nghìn hai trăm bảy mươi bốn đồng), trong đó vốn: 1.000.000.000đ (một tỷ đồng), lãi trong hạn: 6.780.822đ (sáu triệu bảy trăm tám mươi nghìn tám trăm hai mươi hai đồng), lãi quá hạn: 77.979.452đ (bảy mươi bảy triệu chín trăm bảy mươi chín nghìn bốn trăm năm mươi hai đồng), ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Tiếp tục thực hiện Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số K.0005/TC23 ngày 15/3/2023, giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Đ1 – Chi nhánh L với ông Đặng Phú T2, số công chứng 182, quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C chứng nhận, được đăng ký biện pháp bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã K, tỉnh Long An vào ngày 16/03/2023, đối với thửa đất 3586, tờ bản đồ số 3, diện tích 100m², mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị, vị trí đất: tại phường A, thị xã K, tỉnh Long An, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 09/4/2021 cho ông Đặng Phú T2 và tài sản gắn liền với đất là 01 nhà kho kết cấu: trụ cột bê tông, vách tole, mái tole thiếc của ông Đặng Quốc T để bảo đảm thi hành án.
Trong trường hợp ông Đặng Quốc T và bà Hồ Thị Phương T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn một thành viên S (tên gọi cũ Ngân hàng thương mại cổ phần Đ1) có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để đảm bảo cho Ngân hàng thu hồi nợ.
Nếu số tiền thu được từ việc bán, xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Đặng Quốc T và bà Hồ Thị Phương T1 phải có trách nhiệm tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn một thành viên S (tên gọi cũ Ngân hàng thương mại cổ phần Đ1).
- Về án phí, chi phí tố tụng:
- Về án phí:
Ông Đặng Quốc T và bà Hồ Thị Phương T1 phải chịu án phí với mức thu là 44.542.808đ (bốn mươi bốn triệu năm trăm bốn mươi hai nghìn tám trăm lẻ tám đồng).
Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn một thành viên S (tên gọi cũ Ngân hàng thương mại cổ phần Đ1) được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 21.568.664đ (hai mươi mốt triệu năm trăm sáu mươi tám nghìn sáu trăm sáu mươi bốn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000937 ngày 25/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An.
- Về chi phí tố tụng:
Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 12.000.000đ (mười hai triệu đồng), ông Đặng Quốc T và bà Hồ Thị Phương T1 phải chịu, ông Đặng Quốc T và bà Hồ Thị Phương T1 có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn một thành viên S (tên gọi cũ Ngân hàng thương mại cổ phần Đ1) số tiền 12.000.000đ (mười hai triệu đồng).
- Về án phí:
- Về nghĩa vụ chậm thi hành án:
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Về thời hiệu thi hành án:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trương Kim Loan |
Bản án số 25/2025/DS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN - TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 25/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN - TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TNHH MTV số VIKKI "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" Đặng Quốc Tuấn, Hồ Thị Phương Thảo
