Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/DS-PT

Ngày 25-02-2025

Về việc: “Tranh chấp hợp

đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hà Ngân

Các Thẩm phán tham gia: Ông Nguyễn Hồng Chương và ông Quách Trọng Sơn.

Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Vương Thị Bắc – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 166/2024/TLPT-DS ngày 13 tháng 12 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 50/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2024/QĐXXPT-DS ngày 25 -12-2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2025/QĐ-PT ngày 15 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2025/QĐ-PT ngày 11 tháng 02 năm 2025, đối với các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Hoàng Văn K; địa chỉ: Bon Ting W, xã Đ, thành phố G, tỉnh Đắk Nông – Có mặt
  • - Bị đơn: Ông Trần Văn L; địa chỉ: Tổ dân phố D, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông – Có mặt.
  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, Luật sư Văn phòng Luật sư Nguyễn Thiên H1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ, địa chỉ: Tổ dân phố B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông – Có mặt.
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Đỗ Thị N; địa chỉ: Bon Ting W, xã Đ, thành phố G, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.
  • - Người làm chứng: 1) Ông Bùi Đình Q; địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.
  • 2) Ông Nguyễn Đức M; địa chỉ: Thị trấn K, thành phố G, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.
  • - Người kháng cáo: Bị đơn ông Trần Văn L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 02/4/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Hoàng Văn K trình bày: Ngày 31/10/2020 ông có cho ông Trần Văn L vay số tiền là 150.000.000 đồng, thời hạn cho vay là 06 tháng. Hai bên có lập giấy mượn tiền, ký tại nhà ông Trần Văn L và có ông Nguyễn Đức M ký tên là người làm chứng. Tuy nhiên hết thời hạn đã thỏa thuận trong giấy mượn tiền, ông L vẫn không trả cho ông K số tiền ông L đã vay. Nay ông K khởi kiện yêu cầu ông L trả số tiền 150.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Trần Văn L trình bày: Trước đây ông Bùi Đình Q và ông Nguyễn Đức M có tranh chấp đất đai với một người khác (không nhớ tên), ông M và ông Q ủy quyền cho ông L tham gia giải quyết vụ án trên khi Tòa án cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Sau đó có ông Trần V đến và hỗ trợ tham gia giải quyết vụ án. Về sau ông K được đề nghị tham gia vào quá trình giải quyết vụ án với tư cách là người hỗ trợ, góp chi phí tố tụng để giải quyết vụ án. Nếu nguyên đơn là ông M và ông Q thắng kiện thì sẽ chia đất cho ông K. Thỏa thuận cụ thể như sau: Ông L, ông K, ông V thỏa thuận với ông M và ông Q nếu việc khởi kiện thành công thì sẽ được chia đất tại khu vực đất đang có tranh chấp. Ông K có đưa cho ông L 100.000.000 đồng và có đưa cho một người khác (không nhớ tên) 50.000.000 đồng. Số tiền 150.000.000 đồng này được cả 04 người là ông L, ông K, ông V ông M đồng ý sử dụng vào mục đích giải quyết vụ án và đã được sử dụng hết. Hiện nay ông M đồng ý chịu một nửa số tiền trên là 75.000.000 đồng, số tiền 75.000.000 đồng còn lại do ông L, ông K và ông V chịu cụ thể mỗi người chịu 25.000.000 đồng. Ông L không thừa nhận có ký giấy mượn tiền với ông K và không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông K.

Người làm chứng ông Bùi Đình Q trình bày: Ông Q không có thỏa thuận làm ăn gì với ông Trần Văn L, ông Nguyễn Đức M, ông Hoàng Văn K như lời trình bày của ông Trần Văn L. Ông Q hoàn toàn không quen biết gì ông Trần Văn L.

Người làm chứng ông Nguyễn Đức M trình bày: Ông Nguyễn Đức M và ông Hoàng Văn K có quen biết nhau, ông M không biết ông L và ông Q. Ông M có chứng kiến sự việc ông L vay tiền của ông K, số tiền vay là 150.000.000 đồng. Ông M không nhớ ngày vay, không biết mục đích ông L vay. Ông M chỉ biết ông K giao tiền cho ông L có sự chứng kiến của ông M và ký vào giấy mượn tiền với tư cách là người làm chứng. Ông L đã nhận đủ 150.000.000 đồng mà ông K giao. Các nội dung khác như lãi suất, thời hạn ông M không biết. Ông K không có thỏa thuận làm ăn gì với ông Trần Văn L, ông Bùi Đình Q, ông K như lời khai của ông Trần Văn L.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 50/2024/DS-ST ngày 27-9-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa đã quyết định: Căn cứ vào Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 463; khoản 1, khoản 4 Điều 466; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn K: Buộc ông L phải trả cho ông K số tiền gốc và tiền lãi. Số tiền phải trả là: Tiền gốc: 150.000.000 đồng; tiền lãi: 51.003.500 đồng. Tổng cộng: 201.003.500 đồng (Hai trăm lẻ một triệu không trăm lẻ ba nghìn năm trăm đồng)

Kể từ ngày ông K có đơn yêu cầu thi hành án, ông L phải trả cho ông K tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Ngoài ra Bản án còn tuyên án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 01-10-2024, ông Trần Văn L kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Trần Văn L vẫn giữ yêu cầu kháng cáo. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn có bổ sung Hợp đồng thỏa thuận dân sự ngày 07/8/2020 có chữ ký của ông Nguyễn Văn Đ, ông Ngô Văn C, ông Trần Văn L, ông Bùi Đình Q và bà Phạm Thị T; đề nghị HĐXX tạm ngừng phiên tòa để thực hiện lại việc giám định chữ ký, chữ viết và tuổi mực trong giấy vay tiền và đề nghị triệu tập thêm người làm chứng.Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm.

Về nội dung: Sau khi nêu nội dung, đánh giá chứng cứ đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS: bác kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 50/2024/DS-ST ngày 27-9-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, quan điểm Viện kiểm sát, đối chiếu quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Trần Văn L làm trong hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đúng pháp luật.

[2]. Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn L, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1]. Ông Hoàng Văn K có cho ông Trần Văn L vay 150.000.000 đồng và cung cấp giấy mượn tiền vào ngày 31/10/2020 có chữ ký của ông K, ông L và người làm chứng ông Nguyễn Đức M.

Tại phiên tòa sơ thẩm (B1 91) ông L thừa nhận có vay của ông K 100.000.000 đồng và chính ông là người trực tiếp thụ hưởng.

Ông L cho rằng mình chỉ ký trên tờ giấy vay số tiền 100.000.000 đồng mà không ký vào giấy vay tiền 150.000.000 đồng và cho rằng số tiền 150.000.000 đồng này được dùng để lo chi phí trong quá trình giải quyết 01 vụ án tranh chấp đất đai khác tại thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, ông L không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh có thỏa thuận khác với ông K, ông V, ông M và ông Q. Quá trình giải quyết vụ án ông L không có yêu cầu phản tố. Ông K cũng trình bày là chỉ cho ông L vay 150.000.000 đồng theo giấy mượn tiền trên, ngoài ra không có sự thỏa thuận nào khác.

[2.2]. Ông L không thừa nhận chữ ký tại giấy mượn tiền vào ngày 31/10/2020 là chữ ký của ông L. Tuy nhiên Tòa án đã tiến hành giám định tại phòng K1 - Công an tỉnh Đ chữ ký mang tên Trần Văn L tại Giấy mượn tiền ngày 31/10/2020 với các chữ ký của ông L tại các văn bản Biên bản lấy lời khai của ông Trần Văn L ngày 02/7/2024, bản tự khai của ông L ngày 02/7/2024, biên bản giao nhận thông báo thụ lý vụ án ngày 20/6/2024 do chính ông L ký trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án. Kết quả giám định thể hiện: Chữ ký, chữ viết mang tên Trần Văn L trên tài liệu cần giám định (ki hiệu A) só với chữ ký, chữ viết của Trần Văn L trên tài liệu mẫu cần so sánh (ký hiệu M1, M2, M3) do cùng một người ký, viết ra. (Bl 67).

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn bổ sung Hợp đồng thỏa thuận dân sự ngày 07/8/2020 có chữ ký của ông Nguyễn Văn Đ, ông Ngô Văn C, ông Trần Văn L, ông Bùi Đình Q và bà Phạm Thị T và đề nghị tạm ngừng phiên tòa để thực hiện giám định lại và giám định bổ sung tuổi mực theo giấy vay tiền vào ngày 31/10/2020. HĐXX xét thấy, tài liệu phía bị đơn cung cấp không liên quan đến nội dung vụ án, hơn nữa sau khi được Tòa án cấp sơ thẩm thông báo kết luận giám định thì bị đơn không có ý kiến gì, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án phù hợp với lời khai của những người làm chứng. Do đó, chữ ký tại Giấy mượn tiền ngày 31/10/2020 do nguyên đơn cung cấp là của ông Trần Văn L. Vì vậy có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử xác định sự việc ông L vay ông K số tiền là 150.000.000 đồng là có thật.

[2.3]. Ông L khai thời điểm vay tiền ông K thì ông không có quan hệ hôn nhân hợp pháp với ai, thỏa thuận này là của cá nhân ông L. Quá trình giải quyết vụ án, ông K và ông L đều thừa nhận ông L chưa trả số tiền nào cho ông K. Hai bên thỏa thuận thời hạn trả tiền là 06 tháng kể từ ngày cho vay, tuy nhiên đến hạn trả nợ ông K đòi nhiều lần nhưng ông L không trả là vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 466 của BLDS.

[2.4]. Về lãi suất: Các bên không quy định về lãi suất cho vay tại Giấy mượn tiền ngày 31/10/2020. Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định ông L phải trả cho ông K tiền lãi bằng 50% lãi suất mức lãi suất giới hạn là 20%, tương đương với 0.83%/tháng, tính từ ngày 01/5/2021 (ngày vi phạm nghĩa vụ trả nợ) đến thời điểm xét xử sơ thẩm (ngày 27/9/2024) là phù hợp, cụ thể số tiền như sau: 150.000.000 đồng x 03 năm 04 tháng 29 ngày x 0,83%/tháng = 51.003.500 đồng. Tổng cộng số tiền ông L phải trả cho ông K là: 201.003.500 đồng

[3]. Từ phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn L; xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông tại phiên tòa là phù hợp nên chấp nhận.

[4]. Về án phí:

[4.1]. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Trần Văn L phải chịu.

[4.2]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn L, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 50/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

Căn cứ vào Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Điều 463; khoản 1, khoản 4 Điều 466; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015. Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn K: Buộc ông Trần Văn L phải trả cho ông K số tiền nợ gốc 150.000.000 đồng; tiền nợ lãi: 51.003.500 đồng. Tổng cộng: 201.003.500 đồng (Hai trăm lẻ một triệu không trăm lẻ ba nghìn năm trăm đồng)
  2. Kể từ ngày ông K có đơn yêu cầu thi hành án, ông L phải trả cho ông K tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

  3. Về chi phí tố tụng: Ông L phải chịu số tiền giám định chữ ký là 6.000.000 đồng, ông L phải trả lại cho ông K tiền tạm ứng chi phí giám định chữ ký là 6.000.000₫ (sáu triệu đồng).
  4. Về án phí:
    • 3.1 Án phí dân sự sơ thẩm: Ông L phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 10.050.175 (Mười triệu không trăm năm mươi nghìn một trăm bảy mươi lăm đồng). Trả lại cho ông K số tiền tạm ứng án phí là 3.750.000 đồng mà ông K đã nộp tại Chi cục thi hành án thành phố Gia Nghĩa theo biên lai thu số 0007142 ngày 13/6/2024.
    • 3.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Văn L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ số tiền 300.000 đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007422 ngày 28 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục thi hành án thành phố G, tỉnh Đăk Nông.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND TP Gia Nghĩa;
  • - Chi cục THADS TP Gia Nghĩa;
  • - Các đương sự;
  • - Tổ HCTP; Tòa DS, Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Dương Hà Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/DS-PT ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 25/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger