|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G TỈNH B1 ________________ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ________________ |
Bản án số: 25/2025/DS-ST
Ngày: 25-02-2025
V/v “Tranh chấp về thừa kế tài sản theo pháp luật, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G – B1
Với Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa Phiên tòa: bà Đặng Thị Ngọc Duyên.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan
- Ông Trương Văn Phúc
- Thư ký Phiên tòa: bà Trần Thị Bình Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh B1.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G tham gia Phiên tòa: bà Đỗ Thị Hồng Thắm – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện G xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 154/2023/TLST- DS ngày 20 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản theo pháp luật, tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST - DS ngày 13 tháng 01 năm 2025, quyết định hoãn Phiên toà số: 31/2025/QĐST - DS ngày 06 tháng 02 năm 2025 và quyết định phân công lại Hội thẩm nhân dân số: 11/2025/QĐST - DS ngày 24 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1965; địa chỉ: số 392, ấp 2, xã B, huyện G, tỉnh B1 (có mặt);
- Bị đơn: ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1970; địa chỉ: số 36, ấp T, xã T1, huyện G, tỉnh B1 (có mặt);
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1968; địa chỉ: ấp T, xã T1, huyện G, tỉnh B1 (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1963; địa chỉ: thôn 6, xã N, huyện Đ, tỉnh Đ1 (vắng có đơn).
- Bà Nguyễn Thị U sinh năm 1977; địa chỉ: số 534, ấp C, xã M, huyện B, tỉnh B1 (có mặt).
- Bà Lưu Kim N, sinh năm 1971; địa chỉ: số 36, ấp T, xã T1, huyện G, tỉnh B1 (có mặt).
- Ông Phạm Quang S, sinh năm 1972; địa chỉ: ấp 1, xã A, huyện C, tỉnh B1 (vắng có đơn).
- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1977; địa chỉ: ấp G, xã T3, huyện G, tỉnh B1 (vắng có đơn).
- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1971; địa chỉ: ấp G, xã T3, huyện G, tỉnh B1 (vắng có đơn).
- Ông Trần Nguyên T1, sinh năm 1986; địa chỉ: ấp T, xã T1, huyện G, tỉnh B1 (vắng có đơn).
- Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1990; địa chỉ: số 2005, ấp 5, xã L, huyện G, tỉnh B1 (vắng có đơn).
- Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1993; địa chỉ: số 2005, ấp 5, xã L, huyện G, tỉnh B1 (vắng có đơn).
- Chị Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1996; địa chỉ: ấp T, xã T1, huyện G, tỉnh B1 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 16/3/2023, đơn khởi kiện bổ sung ngày 18/3/2024 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Nguyễn Văn L trình bày:
Các thửa đất 71, 77, 66, cùng tờ bản đồ 8 và các thửa đất 106, 99, cùng tờ bản đồ 9 có nguồn gốc của cha mẹ ruột là ông Nguyễn Văn L3, bà Lê Thị G.
Năm 1994, các thửa đất trên do ông L3 kê khai, đăng ký và được Uỷ ban nhân dân huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu vào ngày 12/12/1994, với số thửa cũ là 417 (diện tích 300m², mục đích sử dụng T), 418 (diện tích 3410m², mục đích sử dụng ĐM), 364 (diện tích 2670m², mục đích sử dụng ĐM), cùng tờ bản đồ 2.
Năm 1999, ông L3 chết, không để lại di chúc nên các thửa đất trên do bà G quản lý, sử dụng. Năm 2009, bà G xây dựng lại căn nhà trên thửa đất 71. Năm 2011, bà G chết, cũng không để lại di chúc, toàn bộ các thửa đất trên và căn nhà trên thửa đất 71 do ông Nguyễn Văn Đ quản lý, sử dụng đến nay. Hiện trạng di sản từ năm 2011 đến nay không thay đổi.
Hàng thừa kế thứ nhất của ông L3, bà G: cha mẹ đều đã chết; các con là Nguyễn Thị P (chết, không chồng con), Nguyễn Thị L (chết, không chồng con), Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn L, Nguyễn Thị C (chết, không chồng con), Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Thị U.
Nay ông yêu cầu phân chia theo pháp luật diện tích 444.7m² thuộc thửa đất 71b, 71c, cùng tờ bản đồ 8; diện tích 2550m² thuộc thửa đất 66a, 66b, cùng tờ bản đồ 8; diện tích 1093m² thuộc thửa đất 77, tờ bản đồ 8 và diện tích 896.8m² thuộc thửa đất 99, tờ bản đồ 9 thành 5 phần bằng nhau cho ông (Nguyễn Văn L), ông Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Thị U. Ông yêu cầu nhận kỹ phần tại diện tích 444.7m² thuộc thửa đất 71b, 71c, cùng tờ bản đồ 8 và diện tích 896.8m² thuộc thửa đất 99, tờ bản đồ 9.
Riêng các di sản còn lại:
- Căn nhà cấp 4 và diện tích 1566.8m² thuộc thửa đất 71a, tờ bản đồ 8: không tranh chấp, đồng ý giao cho ông Đ quản lý, sử dụng để thờ cúng ông bà, cha mẹ;
- Thửa đất 106, tờ bản đồ 8, diện tích 325.9m²: không tranh chấp, thoả thuận làm khu mộ chung;
- Cây trồng trên các thửa đất tranh chấp: không tranh chấp, ai nhận đất thì sử dụng luôn.
Nguyên đơn đồng ý bản vẽ ngày 18/9/2023 và biên bản định giá ngày 29/8/2023 làm cơ sở giải quyết vụ án, không yêu cầu đo đạc, định giá lại.
* Theo bản tự khai ngày 19/5/2023 và trong quá trình tố tụng, bị đơn ông Nguyễn Văn Đ trình bày:
Ông thống nhất với trình bày của ông Nguyễn Văn L về nguồn gốc của các thửa đất 71, 66 cùng tờ bản đồ 8 và các thửa đất 106, 99, cùng tờ bản đồ 9; thời điểm chết; hàng thừa kế thứ nhất của ông L3, bà G. Ông cũng thống nhất là khi còn sống, cha mẹ ông không định đoạt tài sản trên cho ai và khi chết cũng không để lại di chúc.
Riêng:
- Căn nhà cấp 4 trên thửa đất 71, tờ bản đồ 8 là tài sản chung của ông và bà G. Trong đó, công sức tu bổ, đóng góp của ông là 70% giá trị căn nhà;
- Thửa đất 77, tờ bản đồ 8, diện tích 1093m² là tài sản chung của ông và bà Lưu Kim N (vợ). Bởi thửa đất trên mặc dù trước đây do ông L3 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng có nguồn gốc của bà Nguyễn Thị Nghệ (cô ruột, đã chết). Sau này, do bà Nghệ chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị U nên bà U và ông Phạm Quang S (chồng cũ) sử dụng cất nhà ở một thời gian (khoảng 10 năm). Năm 2003, vợ chồng bà U về huyện Châu Thành, tỉnh B1 sinh sống nên chuyển nhượng lại cho vợ chồng ông. Việc chuyển nhượng, hai bên chỉ giao kết bằng lời nói, giá chuyển nhượng là 01 cây vàng 24k (5000.000 đồng).
Về quá trình quản lý sử dụng, hiện trạng:
- Các thửa đất 71, 66, 106, 99: từ năm 1999 trở về trước, do ông L3, bà G sử dụng. Từ năm 1998 – 2011 đến năm 2011, do bà G sử dụng; từ năm 2011 đến nay, do ông sử dụng. Quá trình sử dụng, hiện trạng các thửa đất từ trước đến nay không thay đổi.
- Căn nhà trên thửa đất 71: từ năm 2009 đến năm 2011, do bà G và ông sử dụng. Từ năm 2011 đến nay, do ông sử dụng. Quá trình sử dụng, ông có tu bổ, đóng góp với giá trị tu bổ, đóng góp chiếm 70% giá trị căn nhà.
- Thửa đất 77: từ khoảng năm 1993 trở về trước do bà Nghệ quản lý sử dụng. Từ khoảng năm 1993 đến năm 2003, do bà U và ông S quản lý sử dụng. Từ năm 2003 đến nay, do ông và bà N quản lý, sử dụng.
Hai bên phát sinh tranh chấp từ năm 2023. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông L, bà U, ông Đ, ông đồng ý phân chia di sản của cha mẹ là các thửa đất 71, 66, 99 theo quy định pháp luật. Ông không đồng ý chia thừa kế đối với thửa đất 77, tờ bản đồ 8 do vợ chồng ông đã nhận chuyển nhượng từ bà U.
- Riêng các di sản gồm:
- Một phần căn nhà cấp 4 và diện tích 1566.8m² thuộc thửa đất 71a không tranh chấp, ông quản lý sử dụng để thờ cúng ông bà, cha mẹ;
- Thửa đất 106, tờ bản đồ 8, diện tích 325.9m²: không tranh chấp, thoả thuận làm khu mộ chung;
- Cây trồng trên các thửa đất tranh chấp: không tranh chấp, ai nhận đất thì sử dụng luôn.
Bị đơn đồng ý bản vẽ ngày 18/9/2023 và biên bản định giá ngày 29/8/2023 làm cơ sở giải quyết vụ án, không yêu cầu đo đạc, định giá lại.
* Theo đơn yêu cầu độc lập ngày 27/12/2023 (BL 232) và trong quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Đ trình bày:
Ông thống nhất với trình bày của ông Nguyễn Văn L. Ông yêu cầu phân chia theo pháp luật diện tích 444.7m² thuộc thửa đất 71b, 71c, cùng tờ bản đồ 8; diện tích 2550m² thuộc thửa đất 66a, 66b, cùng tờ bản đồ 8; diện tích 1093m² thuộc thửa đất 77, tờ bản đồ 8 và diện tích 896.8m² thuộc thửa đất 99, tờ bản đồ 9 thành 5 phần bằng nhau cho ông (Nguyễn Văn L), ông Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Thị U. Ông yêu cầu nhận kỹ phần tại diện tích 1407m² thuộc thửa đất 66a, tờ bản đồ 8.
Riêng các di sản còn lại:
- Căn nhà cấp 4 và diện tích 1566.8m² thuộc thửa đất 71a, tờ bản đồ 8: không tranh chấp, đồng ý giao cho ông Đ quản lý, sử dụng để thờ cúng ông bà, cha mẹ;
- Thửa đất 106, tờ bản đồ 8, diện tích 325.9m²: không tranh chấp, thoả thuận làm khu mộ chung;
- Cây trồng trên các thửa đất tranh chấp: không tranh chấp, ai nhận đất thì sử dụng luôn.
Ông đồng ý bản vẽ ngày 18/9/2023 và biên bản định giá ngày 29/8/2023 làm cơ sở giải quyết vụ án, không yêu cầu đo đạc, định giá lại.
* Theo đơn yêu cầu độc lập ngày 28/11/2023 (BL 206) và trong quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị U trình bày:
Bà thống nhất với trình bày của ông Nguyễn Văn L. Bà yêu cầu phân chia theo pháp luật diện tích 444.7m² thuộc thửa đất 71b, 71c, cùng tờ bản đồ 8; diện tích 2550m² thuộc thửa đất 66a, 66b, cùng tờ bản đồ 8; diện tích 1093m² thuộc thửa đất 77, tờ bản đồ 8 và diện tích 896.8m² thuộc thửa đất 99, tờ bản đồ 9 thành 5 phần bằng nhau cho ông (Nguyễn Văn L), ông Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Thị U. Ông yêu cầu nhận kỹ phần tại diện tích 1142.7m² thuộc thửa đất 66b, tờ bản đồ 8.
Riêng các di sản còn lại:
- Căn nhà cấp 4 và diện tích 1566.8m² thuộc thửa đất 71a, tờ bản đồ 8: không tranh chấp, đồng ý giao cho ông Đ quản lý, sử dụng để thờ cúng ông bà, cha mẹ;
- Thửa đất 106, tờ bản đồ 8, diện tích 325.9m²: không tranh chấp, thoả thuận làm khu mộ chung;
- Cây trồng trên các thửa đất tranh chấp: không tranh chấp, ai nhận đất thì sử dụng luôn.
Bà đồng ý bản vẽ ngày 18/9/2023 và biên bản định giá ngày 29/8/2023 làm cơ sở giải quyết vụ án, không yêu cầu đo đạc, định giá lại.
* Theo đơn yêu cầu độc lập ngày 28/12/2023 (Bl 225) và trong quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lưu Kim N trình bày:
Bà và ông Nguyễn Văn Đ chung sống với nhau như vợ chồng từ khoảng năm 1996 đến nay, có 01 con chung là Nguyễn Thị Cẩm T (sinh năm 1996) nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.
Căn nhà trên thửa đất 71a là tài sản chung của vợ chồng bà và bà G. Trong đó, phần giá trị vợ chồng bà đóng góp là khoảng 70%. Ngoài ra, trên thửa đất 71a còn có các tài sản của vợ chồng bà là cây trồng và 01 nhà vệ sinh (xây cất khoảng năm 2022).
Về nguồn gốc của thửa đất 77, tờ bản đồ 8, bà thống nhất với trình bày của ông Đ. Thời điểm vợ chồng bà nhận chuyển nhượng từ bà U, ông S là năm 2003. Giá chuyển nhượng là 01 cây vàng 24k (5.000.000 đồng). Việc chuyển nhượng, hai bên chỉ giao kết bằng lời nói. Vợ chồng bà trả bằng tiền mặt 5.000.000 đồng qua mẹ chồng (bà G) để giao lại cho bà U, ông S.
Từ 2003 đến nay, thửa đất trên do vợ chồng bà quản lý, sử dụng; hiện trạng đất giữ nguyên, không thay đổi. Cây trồng hiện có trên đất là tài sản của vợ chồng bà. Do đất thuộc quyền sử dụng của vợ chồng bà nên không đồng ý chia thừa kế theo các yêu cầu của ông L, ông Đ và bà U. Đồng thời, bà yêu cầu ông S, bà U và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chuyển quyền sử dụng thửa đất trên cho bà và ông Đ.
Bà đồng ý bản vẽ ngày 18/9/2023 và biên bản định giá ngày 29/8/2023 làm cơ sở giải quyết vụ án, không yêu cầu đo đạc, định giá lại.
* Trong quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Văn L trình bày:
Ông thống nhất với trình bày của ông Nguyễn Văn L về nguồn gốc các thửa đất 71, 66 cùng tờ bản đồ số 8 và các thửa đất 106, 99, cùng tờ bản đồ 9; thời điểm chết và hàng thừa kế thứ nhất của ông L3, bà G.
Tuy nhiên, khi còn sống, ông L3 có cho ông, ông L, ông Đ và bà U đất. Trong đó, ông và ông L mỗi người một công đất, có vị trí liền kề nhau. Nhưng sau đó, ông, ông L và bà U đều đã chuyển nhượng cho người khác. Riêng ông Đ thì chưa được cha cho đất.
Các thửa đất hiện tranh chấp là di sản do cha mẹ để lại, cha mẹ chưa phân chia cho ai. Trên đất có một căn nhà thờ và một khu thổ mộ. Căn nhà thờ có nguồn gốc là của cha mẹ xây sau khi căn nhà thờ cũ bị bão làm sập. Thời điểm xây có được sự hỗ trợ tiền của nhà nước. Về quá trình quản lý sử dụng, do ông Đ sống chung với cha mẹ từ nhỏ nên sau khi cha mẹ chết, nhà và đất tranh chấp do ông Đ quản lý, sử dụng đến nay. Trong quá trình sử dụng, sau khi cha chết, mẹ bệnh nặng, ông Đ có bỏ tiền xây sửa thêm, giá trị tu sửa thêm của ông Đ là khoảng 50% giá trị căn nhà hiện nay. Riêng đất, do ông không nhớ hiện trạng trước đây thế nào nên không rõ ông Đ có tu bổ, bồi lắp thêm không.
Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông muốn giữ nguyên các phần đất trên làm đất hương hoả, nhà thờ của gia đình; ai quản lý thì có trách nhiệm cúng giỗ ông bà cha mẹ.
Tuy nhiên, tại đơn xin xem xét ngày 04/01/2024, ông Nguyễn Văn L trình bày:
Trước khi cha mẹ chết có chia cho bốn anh em mỗi người một thửa đất để canh tác. Hiện bốn anh em đã bán đất được chia và đi nơi khác làm ăn. Riêng Nguyễn Văn Đ chưa được chia. Lý do đất còn lại là đất hương hoả, em ông (ông Đ) có trách nhiệm canh tác và cúng giỗ ông bà. Theo ông, đất còn lại này anh em không được chia hoặc bán, vì là đất hương hoả ông bà. Nay ông L, ông Đ, bà U yêu cầu chia lại phần đất này. Nếu như Toà án đã quyết định chia đất lại theo đơn yêu cầu đúng pháp luật hiện nay thì ông sẽ đứng tên để nhận phần đất mà Toà đã chia. Vì vậy nay ông làm đơn này để mong Toà án xem xét lại để giải quyết sao cho thấu tình đạt lý.
Ông Phạm Quang S trình bày:
Vào năm 2003, ông và bà Nguyễn Thị U có bán miếng đất sau nhà ông Nguyễn Văn Đ cho ông Đ và bà Lưu Kim N với giá là 5.000.000 đồng.
Ông Nguyễn Văn H trình bày:
Vào năm 2021, ông Nguyễn Văn Đ có lập giấy tay cho ông thuê phần đất có diện tích khoảng 1500m² thuộc một phần thửa đất 66, tờ bản đồ 8 với giá là 5.000.000 đồng/năm, thời hạn 05 năm. Ông đã trả đủ tiền thuê 25.000.000 đồng và sử dụng trồng cỏ. Trên đất thuê hiện không có tài sản của ông và ông cũng không làm thay đổi hiện trạng đất.
Đối với việc tranh chấp thừa kế của các bên, ông không có ý kiến. Đối với hợp đồng thuê quyền sử dụng đất giữa ông và ông Đ, ông không có yêu cầu độc lập. Sau này, nếu Tòa án giao thửa đất trên cho ông Đ, nếu còn nhu cầu thuê đất thì ông sẽ tiếp tục thương lượng với ông Đ; nếu Tòa án giao cho người khác thì ông sẽ trả đất cho người đó. Các ông sẽ tự thương lượng hoặc ông sẽ khởi kiện sau bằng một vụ án khác nếu có tranh chấp.
Ông Trần Nguyên T1 trình bày:
Vào ngày 08/8/2022 âm lịch, ông Nguyễn Văn Đ có lập giấy tay cho ông thuê phần đất có diện tích khoảng 1000m² thuộc một phần thửa đất 66, tờ bản đồ 8 với giá 27.000.000 đồng, thời hạn 10 năm (đến ngày 08/8/2032).
Ông thuê phần đất trên là để trồng cỏ, hoa màu. Trên đất có hai bụi chuối và hàng rào trụ bê tông chôn kéo lưới B40 là tài sản của ông. Trong quá trình thuê đất, ông không có làm thay đổi hiện trạng đất.
Đối với việc tranh chấp thừa kế của các bên, ông không có ý kiến. Đối với hợp đồng thuê quyền sử dụng đất giữa ông và ông Đ, ông không có yêu cầu độc lập. Sau này, nếu Tòa án giao thửa đất trên cho ông Đ, nếu còn nhu cầu thuê đất thì ông sẽ tiếp tục thương lượng với ông Đ; nếu Tòa án giao cho người khác thì ông sẽ trả đất cho người đó. Các ông sẽ tự thương lượng hoặc ông sẽ khởi kiện sau bằng một vụ án khác nếu có tranh chấp.
Bà Nguyễn Thị C trình bày:
Vào năm 2022, bà có làm giấy tay thuê của ông Đ thửa đất 77, tờ bản đồ 8 với giá 6.000.000 đồng, thời hạn 03 năm, để trồng cỏ. Các tài sản gồm dừa, tre... hiện có trên đất là tài sản của ông Đ, bà N. Trong quá trình thuê đất, bà không có làm thay đổi hiện trạng đất.
Đối với việc tranh chấp thừa kế của các bên, bà không có ý kiến. Đối với hợp đồng thuê quyền sử dụng đất giữa bà và ông Đ, bà không có yêu cầu độc lập. Sau này, nếu Tòa án giao thửa đất trên cho ông Đ, nếu còn nhu cầu thuê đất thì bà sẽ tiếp tục thương lượng với ông Đ; nếu Tòa án giao cho người khác thì bà sẽ trả đất cho người đó. Các ông bà sẽ tự thương lượng hoặc bà sẽ khởi kiện sau bằng một vụ án khác nếu có tranh chấp.
Chị Nguyễn Thị S và chị Nguyễn Thị M trình bày:
Các chị là con của ông Nguyễn Văn L. Thời điểm năm 2000, các chị sống chung hộ gia đình với bà Lê Thị G (bà nội). Các chị không liên quan đến các tài sản hiện các bên tranh chấp gồm đất, nhà toạ lạc tại xã T1, huyện G, tỉnh B1. Các tài sản trên, nghe người lớn nói lại, là tài sản của ông L3, bà G. Các chị không có tranh chấp và cũng không có yêu cầu độc lập với các bên.
Quá trình tố tụng, chị Nguyễn Thị Cẩm T vắng mặt không lý do và không có văn bản nêu ý kiến đối với các yêu cầu của đương sự.
Tại Phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn L cho rằng các thửa đất 66a, 66b, 71a, 71b, 71c, 99 và tài sản trên đất gồm căn nhà, dừa (trên 6 năm), tre là của cha mẹ. Các nội dung khác thì ông giữ nguyên trình bày như trong quá trình tố tụng. Về phần yêu cầu:
- Ông yêu cầu chia thừa kế các thửa đất 66a, 66b, 71b, 71c, 99 thành năm phần bằng nhau theo quy định pháp luật cho ông, ông L, ông Đ, ông Đ và bà U. Ông yêu cầu nhận hiện vật là thửa đất 71b, 71c và thửa 99; nếu giá trị hiện vật được nhận cao hơn giá trị kỹ phần thì sẽ giao lại phần chênh lệch; nếu thấp hơn thì tự nguyện không nhận phần chênh lệnh.
- Ông rút yêu cầu khởi kiện đối với thửa đất 77;
- Tài sản là cây trồng của cha mẹ trên đất không tranh chấp, ai nhận hiện vật thì sử dụng luôn. Căn nhà và thửa 71a không tranh chấp, giao ông Đ quản lý sử dụng. Thửa 106 không tranh chấp, làm khu thổ mộ.
Ông Nguyễn Văn Đ giữ nguyên trình bày. Ông đồng ý chia thừa kế các thửa đất 66a, 66b, 71b, 71c, 99 theo quy định pháp luật cho ông, ông L, ông Đ, ông L và bà U, nhưng có yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét công sức gìn giữ đất tranh chấp của ông.
Bà Nguyễn Thị U giữ nguyên trình bày. Về phần yêu cầu:
- Bà yêu cầu chia thừa kế các thửa đất 66a, 66b, 71b, 71c, 99 thành 5 phần bằng nhau theo quy định pháp luật cho bà, ông L, ông L, ông Đ và ông Đ. Bà yêu cầu nhận hiện vật là thửa đất 66b.
- Bà rút yêu cầu đối với thửa đất 77;
- Tài sản là cây trồng của cha mẹ trên đất không tranh chấp, ai nhận hiện vật thì sử dụng luôn. Căn nhà và thửa 71a không tranh chấp, giao ông Đ quản lý sử dụng. Thửa 106 không tranh chấp, làm khu thổ mộ.
Bà Lưu Kim N giữ nguyên trình bày. Bà yêu cầu bà U tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển quyền sử dụng thửa đất 77 cho bà và ông Đ.
Quan điểm của Viện kiểm sát:
- Về tố tụng: sau khi nhận đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ kèm theo và xem xét có đủ điều kiện thụ lý, Tòa án đã tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo đúng quy định so với Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định tại các điều 239, 243, 247, 248, 249, 258, 260 Bộ Luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Thư ký Phiên tòa thực hiện theo đúng quy định tại Điều 237 Bộ Luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 71, 72, 73 Bộ Luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đính chưa thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 73 Bộ Luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: áp dụng các điều 217, 244 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 129, 612, 613, 649, 650, 651 Bộ Luật dân sự năm 2015; Điều 707 Bộ luật dân sự 1995.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L và yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị U.
Chia thừa kế theo pháp luật đối với các thửa đất 71b, 71c, tờ bản đồ 8, diện tích 444.7m²; thửa đất 66, tờ bản đồ 8, diện tích 2550m²; thửa đất 99, tờ bản đồ 9, diện tích 896.8m²; cùng tọa lạc tại ấp Tân Hòa, xã T1, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre cho ông Nguyễn Văn L, ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị U, ông Nguyễn Văn Đ, ông Nguyễn Văn L mỗi người một phần, đồng thời xem xét công sức gìn giữ đất chia cho ông Đ phần nhiều hơn các đồng thừa kế khác.
Ông Nguyễn Văn Đ được quản lý, sử dụng căn nhà cấp 4 và phần đất thuộc thửa 71a, tờ bản đồ 8, diện tích 1566.8m² và thửa đất 106, tờ bản đồ 9, diện tích 325.9m².
Tạm giao người đang quản lý, sử dụng đất phần thừa kế mà ông Nguyễn Văn Luận, ông Nguyễn Văn Đính được hưởng thừa kế.
Buộc người nhận phần thừa kế nhiều hơn trả cho người nhận thừa kế ít hơn và ngược lại.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Lưu Kim N về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị U tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất 77, tờ bản đồ 8, diện tích 1093m² toạ lạc tại ấp T, xã T1, huyện G, tỉnh B1.
Kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với bản án tuyên khi có yêu cầu.
- Đình chỉ yêu cầu của ông Lẽ, bà Út về việc chia thừa kế đối với thửa đất 77, tờ bản đồ 8, diện tích 1093m². Đình chỉ đối với yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn Đính.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại Phiên tòa, qua kết quả tranh luận, ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
- Ông Nguyễn Văn L, ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị U yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật di sản của ông L3, bà G đối với các thửa đất 71b, 71c, 77, 66a, 66b cùng tờ bản đồ 8; thửa đất 99, tờ bản đồ 9 (BL 01, 206, 232, 242).
- Bà Lưu Kim N yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất 77, tờ bản đồ 8 giữa bà và ông Nguyễn Văn Đ với ông Phạm Quang S, bà Nguyễn Thị U; yêu cầu bà U làm thủ tục chuyển quyền sử dụng thửa đất trên cho bà và ông Đ (BL 225).
Nên xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp về thừa kế theo pháp luật và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là phù hợp với quy định tại các khoản 3, 5 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng:
Tại Phiên toà, ông Nguyễn Văn L, ông Phạm Quang S, ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị C, ông Trần Nguyên T1, chị Nguyễn Thị S, chị Nguyễn Thị M vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; ông Nguyễn Văn Đ, chị Nguyễn Thị Cẩm T mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, việc đưa vụ án ra xét xử là phù hợp với quy định tại các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L; yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị U, bà Lưu Kim N, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Về nguồn gốc:
- Theo ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị U, tại Phiên toà, ông bà xác định các thửa đất 71b, 71c, 66a, 66b cùng tờ bản đồ 8; thửa đất 99, tờ bản đồ 9 có nguồn gốc của ông Nguyễn Văn L3 (chết năm 1999) và bà Lê Thị G (chết năm 2012). Trước đây, đất do ông L3 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau này, bà G làm thủ tục chuyển quyền và được Uỷ ban nhân dân huyện G cấp giấy chứng nhận vào năm 2000, với số thửa cũ là 417, 364, 418 cùng tờ bản đồ 2, toạ lạc tại xã T1, huyện G, tỉnh B1. Khi còn sống, ông L3, bà G không phân chia cho ai, sau khi chết cũng không để lại di chúc. Thửa đất 77, tờ bản đồ 8 là đất thuộc quyền sử dụng của bà U do đã được ông L3 tặng cho.
- Theo ông Nguyễn Văn Đ, các thửa đất 71b, 71c, 66a, 66b cùng tờ bản đồ 8; thửa đất 99, tờ bản đồ 9 là di sản do ông L3, bà G để lại. Do đó, ông đồng ý chia thừa kế theo pháp luật cho năm người thuộc hàng thừa kế thứ nhất là ông, ông Đ, ông L, ông L và bà U nhưng có yêu cầu xem xét công sức gìn giữ đất. Riêng thửa đất 77, tờ bản đồ 8, ông Đ và bà Lưu Kim N cho rằng mặc dù vào năm 1994 do ông L3 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thuộc một phần thửa đất 418 (thửa cũ) nhưng có nguồn gốc của bà Nguyễn Thị Nghệ (cô ruột). Sau đó, bà Nghệ chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị U. Bà U và ông Phạm Quang S (chồng cũ) cất nhà ở khoảng 10 năm thì chuyển nhượng lại cho ông Đ và bà Lưu Kim N. Vì vậy, thửa đất 77 không là di sản mà là tài sản thuộc quyền sử dụng của ông Đ và bà N.
- Trong khi đó, theo ông Nguyễn Văn L, các thửa đất tranh chấp là di sản do cha mẹ để lại, chưa phân chia cho ai. Ông muốn giữ nguyên các phần đất trên làm đất hương hoả, nhà thờ của gia đình; ai quản lý thì có trách nhiệm cúng giỗ ông bà cha mẹ. Tuy nhiên, tại đơn xin xem xét ngày 04/01/2024, ông cho rằng nếu Toà án đã quyết định chia đất lại theo yêu cầu đúng quy định pháp luật thì ông sẽ đứng tên để nhận phần đất mà Toà đã chia.
- Hội đồng xét xử xét thấy:
- Theo hồ sơ quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất tranh chấp do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G cung cấp (BL 416–429) thì:
Năm 1994, ông Nguyễn Văn L3 kê khai đăng ký và đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tổng diện tích đất 12470m², gồm các thửa đất 364 (diện tích 2670m²), 417 (diện tích 300m²), 418 (diện tích 3410m²), cùng tờ bản đồ 02, do Uỷ ban nhân dân huyện G cấp lần đầu vào ngày 12/12/1994 (theo bản đồ 299).
Sau đó, ông L3 lập hợp đồng tặng cho bà Nguyễn Thị U tổng diện tích 3126m² gồm thửa 414, một phần thửa 418 và một phần thửa 650, cùng tờ bản đồ 2. Theo đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất của bà U vào ngày 02/7/2000 là các thửa 3397 (diện tích 1191m²), 3398 (diện tích 1095m²) và 3399 (diện tích 840m²), cùng tờ bản đồ 2. Ngày 02/8/2000, bà U đại diện hộ gia đình được Uỷ ban nhân dân huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Năm 2002, bà U lập hợp đồng chuyển nhượng thửa đất 3399, tờ bản đồ 2, diện tích 840m² cho bà Phan Thị Phượng, nay là thửa đất 111, tờ bản đồ 8, diện tích 853,2m². Năm 2010, bà U lập hợp đồng chuyển nhượng thửa đất 3397, tờ bản đồ 2, diện tích 1191m² cho bà Nguyễn Thị Nhiên, nay là thửa đất 76, tờ bản đồ 8, diện tích 1102.2m². Bà U còn lại thửa đất 3398, tờ bản đồ 2, diện tích 1095m².
Đồng thời, trong năm 2000, bà Lê Thị G làm thủ tục thừa kế, chuyển quyền diện tích đất 7344m² còn lại của ông L3, gồm các thửa đất 364 (diện tích 2670m²), 414 (diện tích 164m²), 417 (diện tích 300m²), 418 (diện tích 2210m²) và 650 (diện tích 2000m²) và đại diện hộ gia đình đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được Uỷ ban nhân dân huyện G cấp ngày 12/9/2000.
Ngày 25/10/2022, bà G lập hợp đồng chuyển nhượng thửa đất 650, tờ bản đồ 2, diện tích 1971m² cho ông Bùi Văn Xương.
Do đó, tổng diện tích đất còn lại theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 5344m², gồm các thửa đất 364 (diện tích 2670m²), 414 (diện tích 164m²), 417 (diện tích 300m²) và 418 (diện tích 2210m²).
- Theo kết quả đo đạc ngày 29/8/2023 thể hiện:
- Thửa đất 71 (gồm 71a, 71b, 71c), tờ bản đồ số 8, diện tích 2011.5m², mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn và đất trồng cây hàng năm khác (thuộc thửa cũ 417 và một phần thửa cũ 418, cùng tờ bản đồ 2);
- Thửa đất 106, tờ bản đồ 9, diện tích 325.9m², mục đích sử dụng: đất trồng cây hàng năm khác (thuộc một phần thửa cũ 418, tờ bản đồ 2);
- Thửa đất 99, tờ bản đồ 9, diện tích 896.8m², mục đích sử dụng: đất trồng cây hàng năm khác (thuộc một phần thửa cũ 418, tờ bản đồ 2);
- Thửa đất 66 (gồm 66a, 66b), tờ bản đồ 8, diện tích 2550m², mục đích sử dụng: đất trồng cây hàng năm khác (thuộc một phần thửa cũ 364, tờ bản đồ 2);
- Thửa đất 77, tờ bản đồ 8, diện tích 1093m², mục đích sử dụng: đất trồng cây hàng năm khác (thuộc một phần thửa cũ 418, tờ bản đồ 2).
- Theo các Công văn mà Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G cung cấp thì:
Tại Công văn số 1493/CNGT-TTLT ngày 03/11/2023 (BL 101) thể hiện:
“. Bà Lê Thị G, sinh năm 1936, địa chỉ thường trú: ấp T, xã T1, huyện G, tỉnh B1, có tên trên hệ thống thông tin VBDLIS, thửa đất số 66, tờ bản đồ số 08, diện tích 2.550,0m², mục đích sử dụng đất trồng lúa; thửa đất số 71, tờ bản đồ số 08, diện tích 2.012,0m², mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn diện tích 300m², đất trồng cây lâu năm diện tích 1712,0m²; thửa đất số 99, tờ bản đồ số 09, diện tích 897m², mục đích sử dụng đất trồng cây hàng năm khác; thửa đất số 106, tờ bản đồ số 09, diện tích 326,0m², mục đích sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa, địa chỉ; xã T1, huyện G, tỉnh B1, chưa thể hiện tính pháp lý cấp mới, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất...”.
Bà Nguyễn Thị U, địa chỉ thường trú: xã T1, huyện G, tỉnh B1, có tên trên hệ thống thông tin VBDLIS, thửa đất số 77, tờ bản đồ số 08, diện tích 1.903m², mục đích sử dụng đất trồng lúa, địa chỉ; xã T1, huyện G, tỉnh B1, chưa thể hiện tính pháp lý cấp mới, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” (BL 101).
Tại Công văn số 830/CNGT-TTLT ngày 09/8/2023 thể hiện: “. Thửa đất số 71, 66, 77, tờ bản đồ số 8, xã T1, huyện G, tỉnh B1 chưa được cấp mới, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền đất tại huyện G, tỉnh B1. Thửa đất 106, 99, tờ bản đồ số 9, xã T1, huyện G, tỉnh B1 chưa được cấp mới, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền đất tại huyện G, tỉnh B1...” (BL 199).
Và tại Công văn số 2000/CNGT-TTLT ngày 13/11/2024 thể hiện: “Thửa đất số 3398, tờ bản đồ số 02 là số thửa thêm thuộc bản đồ số hóa, chưa được thể hiện trên bản đồ số hoá, do đó không có thông tin lồng ghép lên bản đồ địa chính cấp huyện.
Thửa đất số 77, tờ bản đồ số 08, xã T1, huyện G, được lồng ghép tương đối với bản đồ số hoá gồm một phần thửa đất số 418, tờ bản đồ số 02, xã T1, huyện G, tỉnh B1.
Thửa đất số 85, tờ bản đồ số 08, xã T1, huyện G, được lồng ghép tương đối với bản đồ số hoá gồm thửa đất số 415, 416, tờ bản đồ số 02, xã T1, huyện G, tỉnh B1...
Diện tích thửa đất được đo đạc theo bản đồ số hoá là dựa trên bản đồ ảnh hàng không có tỷ lệ sai số rất lớn, diện tích thửa đất được đo đạc theo bản đồ toạ độ địa chính cấp huyện có tỷ lệ sai số nhỏ, tương đối chính xác, do đó khi đo đạc lại thửa đất theo toạ độ địa chính cấp huyện thì phải có sự chênh lệch so với diện tích được đo đạc theo bản đồ số hoá...” (BL).
- Như vậy, qua đối chiếu hồ sơ quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hồ sơ đo đạc thực tế đất tranh chấp, thông tin và bản đồ tổng thể của các thửa đất 76, 77, 71 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G cung cấp có cơ sở xác định thửa đất 77, tờ bản đồ 8 là thửa đất 3398, tờ bản đồ 2 và được tách ra từ thửa đất cũ 418, tờ bản đồ 2, có vị trí giáp với thửa đất cũ 416, tờ bản đồ 2 (theo bản đồ 299). Bên cạnh đó, qua kết quả xác minh tại địa phương, những người sống lân cận đất tranh chấp cũng như qua trình bày của ông Phạm Quang S thì các thửa đất 71, 66 cùng tờ bản đồ 8 và các thửa đất 109, 99 cùng tờ bản đồ 9 là tài sản của ông L3, bà G để lại; riêng thửa đất 77, ông L3, bà G đã cho con là bà Nguyễn Thị U từ khoảng năm 1993. Bà U và ông S sử dụng cất nhà ở và trồng hoa màu đến năm 2003 thì chuyển nhượng lại cho ông Đ, bà N. Các chị Nguyễn Thị S, Nguyễn Thị M cũng xác định không có quyền lợi liên quan đến đất tranh chấp. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Đối với các thửa đất 71, 66 cùng tờ bản đồ 8 và các thửa đất 109, 99 cùng tờ bản đồ 9: Tuy hiện nay bà G đại diện hộ gia đình đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; và theo Công văn số 584/CAH-QLHC ngày 12/9/2024 của Công an huyện G thì hộ bà G tại thời điểm ngày 12/9/2000 gồm các nhân khẩu Lê Thị G, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị U, Nguyễn Văn L, Nguyễn Thị S, Nguyễn Thị M, nhưng thủ tục chuyển quyền của bà G không có sự thoả thuận, thống nhất của các đồng thừa kế nên không phù hợp quy định pháp luật. Hiện các bên thống nhất xác định là tài sản của ông L3, bà G để lại sau khi chết nên việc ông L, bà U yêu cầu phân chia theo pháp luật các thửa đất 71b, 71c, 66a, 66b cùng tờ bản đồ 8 và thửa đất 99, tờ bản đồ 9 là có căn cứ.
- Đối với thửa đất 77, tờ bản đồ 8: như phân tích ở trên mặc dù bà U đại diện hộ gia đình đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với số thửa cũ là thửa đất 3398, tờ bản đồ 2; và theo Công văn số 821/CAH-QLHC ngày 09/12/2024 của Công an huyện G thì hộ bà U tại thời điểm ngày 02/8/2000 gồm các nhân khẩu Lê Thị G, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị U, Nguyễn Văn L, Nguyễn Thị S, Nguyễn Thị M, Lưu Kim N và Nguyễn Thị Cẩm T. sinh năm 1970, nhưng trên cơ sở bà U nhận tặng cho từ ông L3 nên thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà U. Tại Phiên toà, ông L, bà U cũng đã rút yêu cầu chia thừa kế. Xét việc rút yêu cầu của ông L, bà U là phù hợp với quy định pháp luật tại Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự nên đình chỉ giải quyết.
- Đối với yêu cầu độc lập của bà Lưu Kim N về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 77, tờ bản đồ 8 giữa bà, ông Đ với ông Phạm Quang S, bà Nguyễn Thị U, Hội đồng xét xử xét thấy.
- Mặc dù bà Nguyễn Thị U không thừa nhận có chuyển nhượng cho ông Đ, bà N thửa đất trên. Nhưng qua kết quả xác minh, trình bày của ông Phạm Quang S có cơ sở xác định ông S và bà U có chuyển nhượng đất cho ông Đ, bà N vào năm 2003. Hợp đồng chuyển nhượng giữa hai bên chỉ được giao kết bằng lời nói, nhưng ông Đ, bà N đã giao số tiền chuyển nhượng 5.000.000 đồng và nhận đất sử dụng từ năm 2003 đến nay. Tại thời điểm chuyển nhượng thửa đất 77 có số thửa cũ là 3398, tờ bản đồ 2 do bà U đại diện hộ gia đình đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Từ các phân tích trên, xác định các thửa đất 71, 66, cùng tờ bản đồ số 8 và các thửa đất 99, 106 cùng tờ bản đồ số 9 là là tài sản thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông L3, bà G, được xác định là di sản do ông L3, bà G để lại sau khi chết, trong đó phần các bên tranh chấp là:
- Diện tích 444.7m² thuộc thửa đất 71b, 71c, cùng tờ bản đồ 8;
- Diện tích 2550m² thuộc thửa đất 66a, 66b, cùng tờ bản đồ 8;
- Diện tích 896.8m² thuộc thửa đất 99, tờ bản đồ 9.
- Về hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn L3, bà Lê Thị G:
- Về tổng giá trị di sản có tranh chấp và giá trị của mỗi kỹ phần được phân chia theo pháp luật.
- Di sản hiện tranh chấp gồm:
- Diện tích 444.7m² thuộc thửa đất 71b, 71c, cùng tờ bản đồ 8, mục đích sử dụng đất trồng cây hàng năm khác;
- Diện tích 1407.3m² thuộc thửa đất 66a, tờ bản đồ 8, mục đích sử dụng đất trồng cây hàng năm khác;
- Diện tích 1142.7m² thuộc thửa đất 66b, tờ bản đồ 8, mục đích sử dụng đất trồng cây hàng năm khác;
- Diện tích 896.8m² thuộc thửa đất 99, tờ bản đồ 9, mục đích sử dụng đất trồng cây hàng năm khác;
- Thửa 66a: trên đất có 02 bụi chuối (55.000 đồng/bụi) và hàng rào trụ bê tông chôn kéo lưới B40 diện tích 82.32m² (8.495.424 đồng) là tài sản của ông Trần Nguyên T1;
- Thửa đất 66b: trên đất không có hoa màu, nhà ở, vật kiến trúc;
- Thửa 71b và thửa 71c: trên đất có 07 bụi tre dưới 10 cây/bụi (165.000 đồng/bụi);
- Thửa 99: trên đất có 11 cây dừa dưới 1 năm (66.000 đồng/cây);
- Giá đất có bao gồm giá trị hoa màu trên đất, đối với:
- Đất ONT: 1.100.000 đồng/m²;
- Đất nông nghiệp: 600.000 đồng/m²;
- Thửa đất 71b và thửa đất 71c, diện tích 444.7m² sau khi khấu trừ giá trị hoa màu trên đất (444.7m² x 600.000 đồng/m² - 1.155.000 đồng) có giá trị là 265.665.000 đồng;
- Thửa đất 66a, diện tích 1407.3m² sau khi khấu trừ giá trị hoa màu trên đất (1407.3m² x 600.000 đồng/m² – 110.000 đồng) có giá trị là 844.270.000 đồng;
- Thửa đất 66b, diện tích 1142.7m² (1142.7m² x 600.000 đồng/m²) có giá trị là 685.620.000 đồng;
- Thửa đất 99, diện tích 896.8m² sau khi khấu trừ giá trị hoa màu trên đất (896.8m² x 600.000 đồng/m² – 726.000 đồng) có giá trị là 537.354.000 đồng;
- Xét yêu cầu xem xét công sức gìn giữ, tu bổ, bồi lắp di sản của ông Đ, Hội đồng xét xử xét thấy. Qua kết quả xác minh và trình bày của các bên, có cơ sở xác định ông Đ từ nhỏ sống cùng cha mẹ. Trong quá trình chung sống, ông Đ có cùng với ông L3, bà G quản lý, sử dụng đất. Sau khi cha mẹ chết, toàn bộ di sản do ông Đ quản lý. Quá trình quản lý, sử dụng đất của ông Đ, mặc dù không có tu bổ, bồi lắp nên hiện trạng đất không thay đổi nhưng cũng đã có công gìn giữ đất. Do vậy, căn cứ trên cơ sở về thời gian quản lý đất Hội đồng xét xử xem xét cho ông Đ được hưởng phần công sức gìn giữ với tỷ lệ 5% giá trị di sản với số tiền 116.645.450 đồng là phù hợp.
- Như vậy tổng giá trị di sản hiện tranh chấp sau khi khấu trừ phần công sức quản lý, gìn giữ đất của ông Đ (2.332.909.000 đồng - 116.645.450 đồng) còn lại là 2.216.263.550 đồng và giá trị mỗi kỷ phần được phân chia theo pháp luật (2.216.263.550 đồng : 5) là 443.252.710 đồng.
- Đối với yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn Đ và kỹ phần của ông Nguyễn Văn L. Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi có đơn yêu cầu độc lập mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng ông Đ vẫn vắng mặt tại Phiên tòa không có lý do nên bị coi là từ bỏ yêu cầu. Riêng ông L mặc dù quá trình tố tụng thể hiện nguyện vọng nhận kỹ phần theo pháp luật nhưng không có đơn yêu cầu độc lập. Do đó, xét thấy việc đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của ông Đ theo quy định là phù hợp quy định pháp luật tại điểm d, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Và kỹ phần chia cho ông Đ, ông L theo quy định pháp luật là số tiền chênh lệch được tạm giao cho đồng thừa kế đang quản lý và được giải quyết sau bằng một vụ án khác khi các bên có tranh chấp.
- Do đó, căn cứ vào thực tế sử dụng và nhu cầu nhận kỹ phần bằng hiện vật, xét phân chia cho các bên cụ thể như sau:
- Ông Nguyễn Văn L được chia kỹ phần tại thửa đất 66a, tờ bản đồ 8, mục đích sử dụng đất trồng cây hàng năm khác, diện tích 1407.3m² có giá trị là 844.270.000 đồng. Do giá trị hiện vật mà ông L được nhận cao hơn giá trị kỹ phần được chia theo pháp luật (844.270.000 đồng/443.252.710 đồng) là 401.017.290 đồng nên sẽ tạm giao cho ông L kỹ phần của ông Nguyễn Văn Đ số tiền 401.017.290 đồng.
- Ông Nguyễn Văn Đ được chia kỹ phần tại thửa đất 71b, thửa đất 71c, cùng tờ bản đồ 8, tổng diện tích 444.7m² có giá trị là 265.665.000 đồng và thửa đất 99, tờ bản đồ 9, diện tích 896.8m² có giá trị là 537.354.000 đồng. Do tổng giá trị hiện vật mà ông Đ được nhận là 803.019.000 đồng, cao hơn giá trị kỹ phần được chia theo pháp luật và 5% công gìn giữ đất (803.019.000 đồng/559.898.160 đồng) là 243.120.840 đồng nên sẽ tạm giao cho ông Đ một phần kỹ phần của ông Nguyễn Văn L số tiền 243.120.840 đồng.
- Bà Nguyễn Thị U được chia kỹ phần tại thửa đất 66b, diện tích 1142.7m² có giá trị là 685.620.000 đồng. Do giá trị hiện vật mà bà U được nhận cao hơn giá trị kỹ phần được chia theo pháp luật (685.620.000 đồng/443.252.710 đồng) là 242.367.290 đồng nên sẽ tạm giao cho bà U một phần kỹ phần của ông Nguyễn Văn Đ số tiền 42.235.420 đồng và một phần kỹ phần của ông Nguyễn Văn L số tiền 200.131.870 đồng.
- Riêng các tài sản còn lại, ghi nhận các bên thỏa thuận:
- Thửa đất 106, tờ bản đồ 9, diện tích 325.9m²: không tranh chấp, làm khu mộ chung;
- Thửa đất 71a, tờ bản đồ 8, diện tích 1566.8m² và căn nhà trên đất: không tranh chấp, giao cho ông Đ quản lý sử dụng;
- Cây trồng trên đất tranh chấp (trừ tài sản của ông Trần Nguyên T1): không tranh chấp, ai nhận đất thì có quyền sử dụng luôn.
- Đối với các hợp đồng thuê quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn L với ông Trần Nguyên T1, bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Văn H. Quá trình tố tụng, các bên không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Khi có phát sinh tranh chấp, đương sự có quyền khởi kiện sau bằng một vụ án khác.
- Xét quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
- Về Chi phí tố tụng: 16.818.000 đồng. Do yêu cầu chia thừa kế được chấp nhận, các bên được chia kỹ phần theo quy định nên ông Nguyễn Văn L, ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị U, ông Nguyễn Văn Đ, ông Nguyễn Văn L mỗi người phải nộp 1/5 Chi phí tố tụng thành tiền là 3.363.600 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 157, khoản 2 Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự. Do ông Nguyễn Văn L đã nộp toàn bộ tạm ứng Chi phí tố tụng nên ông Nguyễn Văn Đ, ông Nguyễn Văn L, ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị U mỗi người có nghĩa vụ trả lại cho ông L số tiền là 3.363.600 đồng;
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Theo Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp ...: 2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực”.
Như vậy, xét thấy hợp đồng giữa hai bên mặc dù không được lập thành văn bản, vi phạm về hình thức nhưng nhưng phù hợp với quy định pháp luật do đã được các bên thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch nên được công nhận. Do bà U vi phạm nghĩa vụ nên bà N yêu cầu bà U tiếp tục thực hiện hợp đồng, làm thủ tục sang tên diện tích 1093m² đất thuộc thửa đất 77, tờ bản đồ 8 cho bà và ông Đ là có căn cứ.
Do đó, xét yêu cầu khởi kiện của ông L, yêu cầu độc lập của bà U về việc chia thừa kế theo pháp luật đối với các phần đất tranh chấp trên theo pháp luật là có căn cứ nên được chấp nhận. Đồng thời, chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Lưu Kim N về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất 77, tờ bản đồ số 8;
Mặc dù ông Nguyễn Văn L, ông Nguyễn Văn L không cung cấp được giấy khai sinh thể hiện là con của ông L3, bà G. Nhưng căn cứ vào bản khai nhân khẩu do ông L cung cấp (BL 9), trình bày của các bên đương sự và kết quả xác minh thì hàng thừa kế thứ nhất của ông L3, bà G gồm: cha, mẹ đều đã chết; các con là Nguyễn Thị P (chết, không chồng con), Nguyễn Thị L (chết, không chồng con), Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn L, Nguyễn Thị C (chết, không chồng con), Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Thị U. Và tại thời điểm mở thừa kế ngày 26/9/1999 (đối với ông L3, BL 7), ngày 20/4/2012 (đối với bà G, BL 8) thì bà P, bà Phí, bà C đã chết và không có chồng, con. Như vậy, những người được quyền hưởng thừa kế theo pháp luật đối với di sản của ông L3, bà G là Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Thị U.
Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và biên bản định giá tài sản cùng ngày 29/8/2023 (BL 125, 128 – 130) thì:
Do đó:
Tổng cộng là 2.332.909.000 đồng.
Do các phần đất chia cho ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị U hiện ông Nguyễn Văn Đ quản lý, sử dụng cho thuê nên người thuê là ông Trần Nguyên T1, ông Nguyễn Văn H và ông Đ (trong đó, ông T1 phải di dời, tháo dỡ tài sản trên đất) có nghĩa vụ giao đất lại cho ông L, bà U.
Do yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L, yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị U về việc chia thừa kế theo pháp luật được chấp nhận; yêu cầu độc lập của bà Lưu Kim N về tranh chấp hợp đồng được chấp nhận, ông Đ có yêu cầu độc lập đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt bị xem là từ bỏ yêu cầu nên các bên phải chịu án phí theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Cụ thể như sau:
Ông Nguyễn Văn L, ông Nguyễn Văn Đ phải nộp án phí có giá ngạch tương ứng với giá trị kỹ phần được chia (20.000.000 đồng + 4% x 43.252.710 đồng) là 21.730.108 đồng.
Bà Nguyễn Thị U phải nộp án phí có giá ngạch tương ứng với giá trị kỹ phần được chia (20.000.000 đồng + 4% x 43.252.710 đồng) là 21.730.108 đồng và án phí không có giá ngạch về tranh chấp hợp đồng là 300.000 đồng;
Sung vào công quỹ nhà nước số tiền tạm ứng án phí mà ông Nguyễn Văn Đ đã nộp là 18.663.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 2 Điều 157, khoản 2 Điều 165, các điều 217, 227, 228, 244 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 500, 501, 502, 503, 609, 610, 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 660 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 707 Bộ luật dân sự 1995; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L, yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị U về việc chia thừa kế theo pháp luật đối với thửa đất 77, tờ bản đồ 8, diện tích 1093m², mục đích sử dụng: đất trồng cây hàng năm khác, toạ lạc tại xã T1, huyện G, tỉnh B1 (có bản vẽ kèm theo).
- Đình chỉ yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn Đ về việc chia thừa kế theo pháp luật đối với các thửa đất 71b, 71c, 66a, 66b, 77, cùng tờ bản đồ 8 và thửa đất 99, tờ bản đồ 9, toạ lạc tại xã T1, huyện G, tỉnh B1 (có bản vẽ kèm theo).
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L, yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị U về việc chia thừa kế theo pháp luật di sản của ông Nguyễn Văn L3, bà Lê Thị G đối với các thửa đất 71b, 71c, 66a, 66b cùng tờ bản đồ 8 và thửa đất 99, tờ bản đồ 9, toạ lạc tại xã T1, huyện G, tỉnh B1 cho ông Nguyễn Văn L, ông Nguyễn Văn Đ, ông Nguyễn Văn L, ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị U.
Phân chia theo pháp luật di sản gồm:
- Thửa đất 71b và thửa đất 71c, tờ bản đồ 8, tổng diện tích 444.7m², mục đích sử dụng Đất trồng cây hàng năm khác có giá trị là 265.665.000 đồng;
- Thửa đất 66a, tờ bản đồ 8, diện tích 1407.3m², mục đích sử dụng Đất trồng cây hàng năm khác có giá trị là 844.270.000 đồng;
- Thửa đất 66b, tờ bản đồ 8, diện tích 1142.7m², mục đích sử dụng Đất trồng cây hàng năm khác có giá trị là 685.620.000 đồng;
- Thửa đất 99, tờ bản đồ 9, diện tích 896.8m², mục đích sử dụng Đất trồng cây hàng năm khác có giá trị là 537.354.000 đồng;
Tổng giá trị di sản là 2.332.909.000đ (hai tỷ ba trăm ba mươi hai triệu chín trăm lẻ chín nghìn đồng). Trong đó, công sức quản lý, gìn giữ đất của ông Nguyễn Văn Đ là 116.645.450đ (một trăm mười sáu triệu sáu trăm bốn mươi lăm nghìn bốn trăm năm mươi đồng).
Do đó, sau khi khấu trừ phần công sức quản lý, gìn giữ đất của ông Đ, tổng giá trị còn lại sẽ phân chia (2.332.909.000 đồng - 116.645.450 đồng) là 2.216.263.550đ (hai tỷ hai trăm mười sáu triệu hai trăm sáu mươi ba nghìn năm trăm năm mươi đồng) và giá trị mỗi kỷ phần được phân chia theo pháp luật (2.099.618.100 đồng : 5) là 443.252.710đ (bốn trăm bốn mươi ba triệu hai trăm năm mươi hai nghìn bảy trăm mười đồng).
Phân chia cụ thể như sau:
- Ông Nguyễn Văn L được chia kỹ phần tại thửa đất 66a, tờ bản đồ 8, diện tích 1407.3m², mục đích sử dụng Đất trồng cây hàng năm khác có giá trị là 844.270.000đ (tám trăm bốn mươi bốn triệu hai trăm bảy mươi nghìn đồng. Do giá trị hiện vật mà ông L được nhận cao hơn giá trị kỹ phần được chia theo pháp luật (844.270.000 đồng/443.252.710 đồng) là 401.017.290đ (bốn trăm lẻ một triệu không trăm mười bảy nghìn hai trăm chín mươi đồng) nên tạm giao cho ông L kỹ phần của ông Nguyễn Văn Đ số tiền 401.017.290đ (bốn trăm lẻ một triệu không trăm mười bảy nghìn hai trăm chín mươi đồng).
- Ông Nguyễn Văn Đ được chia kỹ phần tại thửa đất 71b, thửa đất 71c, cùng tờ bản đồ 8, tổng diện tích 444.7m² có giá trị là 265.665.000đ (hai trăm sáu mươi lăm triệu sáu trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) và thửa đất 99, tờ bản đồ 9, diện tích 896.8m² có giá trị là 537.354.000đ (năm trăm ba mươi bảy triệu ba trăm năm mươi bốn nghìn đồng). Do tổng giá trị hiện vật mà ông Đ được nhận là 803.019.000đ (tám trăm lẻ ba triệu không trăm mười chín nghìn đồng), cao hơn giá trị kỹ phần được chia theo pháp luật và 5% công sức gìn giữ đất (803.019.000 đồng/559.898.160 đồng) là 243.120.840đ (hai trăm bốn mươi ba triệu một trăm hai mươi nghìn tám trăm bốn mươi đồng) nên tạm giao cho ông Đ một phần kỹ phần của ông Nguyễn Văn L số tiền 243.120.840đ (hai trăm bốn mươi ba triệu một trăm hai mươi nghìn tám trăm bốn mươi đồng).
- Bà Nguyễn Thị U được chia kỹ phần tại thửa đất 66b, tờ bản đồ 8, diện tích 1142.7m² có giá trị là 685.620.000đ (sáu trăm tám mươi lăm triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng). Do giá trị hiện vật mà bà U được nhận cao hơn giá trị kỹ phần được chia theo pháp luật (685.620.000 đồng/443.252.710 đồng) là 242.367.290đ (hai trăm bốn mươi hai triệu ba trăm sáu mươi bảy nghìn hai trăm chín mươi đồng) nên tạm giao cho bà U một phần kỹ phần của ông Nguyễn Văn Đ số tiền 42.235.420đ (bốn mươi hai triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn bốn trăm hai mươi đồng) và một phần kỹ phần của ông Nguyễn Văn L số tiền 200.131.870đ (hai trăm triệu một trăm ba mươi mốt nghìn tám trăm bảy mươi đồng).
Do các phần đất chia cho ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị U hiện ông Nguyễn Văn Đ quản lý, sử dụng cho thuê nên người thuê là ông Trần Nguyên T1, ông Nguyễn Văn H và ông Đ (trong đó, ông T1 phải di dời, tháo dỡ tài sản trên đất) có nghĩa vụ giao đất lại cho ông L, bà U.
- Riêng các tài sản còn lại, ghi nhận các bên thoả thuận:
- Thửa đất 106, tờ bản đồ 9, diện tích 325.9m²: không tranh chấp, làm khu thổ mộ;
- Thửa đất 71a, tờ bản đồ 8, diện tích 1566.8m² và căn nhà trên đất: không tranh chấp, giao cho ông Đ quản lý sử dụng;
- Cây trồng trên đất tranh chấp (trừ tài sản của ông Trần Nguyên T1): không tranh chấp, ai nhận đất thì có quyền sử dụng luôn.
- Đối với các hợp đồng thuê quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn L với ông Trần Nguyên T1, bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Văn H. Do các bên không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Khi có phát sinh tranh chấp, đương sự có quyền khởi kiện sau bằng một vụ án khác.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Lưu Kim N. Buộc bà Nguyễn Thị U tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển quyền sử dụng đất đối với thửa đất 77, tờ bản đồ 8, diện tích 1093m², mục đích sử dụng: đất trồng cây hàng năm khác, toạ lạc tại xã T1, huyện G, tỉnh B1 cho bà Lưu Kim N và ông Nguyễn Văn Đ (có bản vẽ kèm theo).
- Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đương sự phù hợp với nội dung án tuyên khi đương sự có yêu cầu (có bản vẽ kèm theo).
- Về Chi phí tố tụng: 16.818.000đ (mười sáu triệu tám trăm mười tám nghìn đồng). Ông Nguyễn Văn L, ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị U, ông Nguyễn Văn Đ, ông Nguyễn Văn L mỗi người phải nộp 1/5 Chi phí tố tụng thành tiền là 3.363.600đ (ba triệu ba trăm sáu mươi ba nghìn sáu trăm đồng) theo quy định tại khoản 2 Điều 157, khoản 2 Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự. Do ông Nguyễn Văn L đã nộp toàn bộ tạm ứng Chi phí tố tụng nên ông Nguyễn Văn Đ, ông Nguyễn Văn L, ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị U mỗi người có nghĩa vụ trả lại cho ông L số tiền là 3.363.600đ (ba triệu ba trăm sáu mươi ba nghìn sáu trăm đồng).
- Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, không có giá ngạch:
Ông Nguyễn Văn L phải nộp số tiền án phí tương ứng với giá trị kỹ phần được chia là 21.730.108đ (hai mươi mốt triệu bảy trăm ba mươi nghìn một trăm lẻ tám đồng) và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 20.122.500đ (hai mươi triệu một trăm hai mươi hai nghìn năm trăm đồng) theo các biên lai thu số 0003370 (ngày 19/4/2023), 0004810 (ngày 19/3/2024) của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G. Do đó, ông Nguyễn Văn L còn phải nộp thêm số tiền 1.607.608đ (một triệu sáu trăm lẻ bảy nghìn sáu trăm lẻ tám đồng);
Ông Nguyễn Văn Đ phải nộp số tiền án phí là 21.730.108đ (hai mươi mốt triệu bảy trăm ba mươi nghìn một trăm lẻ tám đồng);
Sung vào công quỹ nhà nước số tiền tạm ứng án phí mà ông Nguyễn Văn Đ đã nộp là 18.663.000đ (mười tám triệu sáu trăm sáu mươi ba nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002723 ngày 03/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G;
Bà Nguyễn Thị U phải nộp số tiền án phí có giá ngạch tương ứng với giá trị kỹ phần được chia là 21.730.108đ (hai mươi mốt triệu bảy trăm ba mươi nghìn một trăm lẻ tám đồng) và án phí không có giá ngạch về tranh chấp hợp đồng là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 19.125.000đ (mười chín triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002607 ngày 01/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G. Do đó, bà Nguyễn Thị U còn phải nộp thêm số tiền 2.905.108đ (hai triệu chín trăm lẻ năm nghìn một trăm lẻ tám đồng);
Trả lại cho bà Lưu Kim N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002714 ngày 28/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại Phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đặng Thị Ngọc Duyên |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN GIAO NHẬN
Hôm nay, vào hồi ............giờ .... phút, ngày .... tháng .... năm 2025.
Tại: Trụ sở Viện kiểm sát nhân dân huyện G
* Bên giao: bà Đặng Thị Ngọc Duyên – Thẩm phán
* Bên nhận: .................................................................................Viện kiểm sát nhân dân huyện G.
Tiến hành giao nhận: Bản án số 25/2025/HN-ST ngày 25/02/2025 của TAND huyện G (Nguyễn Văn L – Nguyễn Văn Đ).
Hai bên được nghe, đọc biên bản và đồng ý ký tên
Biên bản kết thúc vào hồi ....... giờ ........ phút cùng ngày.
|
Người giao |
Người nhận |
|
Đặng Thị Ngọc Duyên |
................................................ |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G TỈNH B1 ________________ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ________________ |
Số: 07/2025/QĐ-SCBSBA
G, ngày 10 tháng 3 năm 2025
QUYẾT ĐỊNH
SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN SƠ THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G – TỈNH B1
Căn cứ vào Điều 268 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Xét thấy cần sửa chữa, bổ sung bản án do nhầm lẫn, thiếu sót khi đánh máy trong bản án dân sự sơ thẩm số 25/2025/DS-ST ngày 25/02/2025 của Toà án nhân dân huyện G đã xét xử đối với vụ án dân sự thụ lý số 154/2023/TLST- DS ngày 20 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản theo pháp luật, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1965; địa chỉ: số 392, ấp 2, xã Bình Hòa, huyện G, tỉnh B1;
- Bị đơn: ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1970; địa chỉ: số 36, ấp Tân Hòa, xã T1, huyện G, tỉnh B1;
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1968; địa chỉ: ấp T, xã T1, huyện G, tỉnh B1.
- Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1963; địa chỉ: thôn 6, xã Nhân Cơ, huyện Đăk R lấp, tỉnh Đăk Nông.
- Bà Nguyễn Thị U sinh năm 1977; địa chỉ: số 534, ấp Cầu Vỹ, xã Mỹ Chánh, huyện Ba Tri, tỉnh B1.
- Bà Lưu Kim N, sinh năm 1971; địa chỉ: số 36, ấp Tân Hòa, xã T1, huyện G, tỉnh B1.
- Ông Phạm Quang S, sinh năm 1972; địa chỉ: ấp 1, xã An Phước, huyện Châu Thành, tỉnh B1.
- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1977; địa chỉ: ấp Giồng Bà Thủ, xã T3, huyện G, tỉnh B1.
- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1971; địa chỉ: ấp Giồng Bà Thủ, xã T3, huyện G, tỉnh B1.
- Ông Trần Nguyên T1, sinh năm 1986; địa chỉ: ấp Tân Hòa, xã T1, huyện G, tỉnh B1.
- Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1990; địa chỉ: số 2005, ấp 5, xã L, huyện G, tỉnh B1.
- Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1993; địa chỉ: số 2005, ấp 5, xã L, huyện G, tỉnh B1.
- Chị Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1996; địa chỉ: ấp T, xã T1, huyện G, tỉnh B1.
QUYẾT ĐỊNH:
Sửa chữa, bổ sung Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2025/DS-ST ngày 25/02/2025 của Toà án nhân dân huyện G như sau:
- Tại dòng thứ 8 từ trên đếm xuống đến dòng thứ 15 của trang 20 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “9. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, không có giá ngạch:
Ông Nguyễn Văn L phải nộp số tiền án phí tương ứng với giá trị kỹ phần được chia là 21.730.108₫ (hai mươi mốt triệu bảy trăm ba mươi nghìn một trăm lẻ tám đồng) và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 20.122.500₫ (hai mươi triệu một trăm hai mươi hai nghìn năm trăm đồng) theo các biên lai thu số 0003370 (ngày 19/4/2023), 0004810 (ngày 19/3/2024) của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G. Do đó, ông Nguyễn Văn L còn phải nộp thêm số tiền 1.607.608₫ (một triệu sáu trăm lẻ bảy nghìn sáu trăm lẻ tám đồng);”.
Nay sửa chữa, bổ sung như sau: “9. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, không có giá ngạch:
Ông Nguyễn Văn L phải nộp số tiền án phí tương ứng với giá trị kỹ phần được chia là 21.730.108₫ (hai mươi mốt triệu bảy trăm ba mươi nghìn một trăm lẻ tám đồng) và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 20.122.500₫ (hai mươi triệu một trăm hai mươi hai nghìn năm trăm đồng) theo các biên lai thu số 0003370 (ngày 19/4/2023), 0004810 (ngày 19/3/2024) của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G. Do đó, ông Nguyễn Văn L còn phải nộp thêm số tiền 1.607.608₫ (một triệu sáu trăm lẻ bảy nghìn sáu trăm lẻ tám đồng);
Ông Nguyễn Văn Đ phải nộp số tiền án phí là 21.730.108đ (hai mươi mốt triệu bảy trăm ba mươi nghìn một trăm lẻ tám đồng)”.
Những nội dung khác của bản án không thay đổi.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đặng Thị Ngọc Duyên |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN GIAO NHẬN
Hôm nay, vào hồi ............giờ .... phút, ngày .... tháng .... năm 2025.
Tại: Trụ sở Viện kiểm sát nhân dân huyện G
* Bên giao: bà Đặng Thị Ngọc Duyên – Thẩm phán
* Bên nhận: .................................................................................Viện kiểm sát nhân dân huyện G.
Tiến hành giao nhận: Quyết định số 07/2025/QĐ-SCBSBA ngày 10/3/2025 của TAND huyện G về việc sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm (Nguyễn Văn L – Nguyễn Văn Đ).
Hai bên được nghe, đọc biên bản và đồng ý ký tên
Biên bản kết thúc vào hồi ....... giờ ........ phút cùng ngày.
|
Người giao |
Người nhận |
|
Đặng Thị Ngọc Duyên |
................................................ |
Bản án số 25/2025/DS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G – TỈNH B1 về tranh chấp về thừa kế tài sản theo pháp luật, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 25/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản theo pháp luật, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G – TỈNH B1
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận
