TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU NGHỆ AN Bản án số: 25/2025/HSST Ngày: 25-02-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoài Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Dũng.
- Bà Lê Thị Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hải Sâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vinh - Kiểm sát viên
Ngày 24/02/2025, Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 199/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 26/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Hoàng Văn T, tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1978 tại huyện D, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm H, xã N, huyện D, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Văn T1 (Đã chết) và bà Vũ Thị C; Có vợ là Nguyễn Thị H và 03 con; Tiền án: Không. Tiền sự: Chưa có; Nhân thân: - Năm 2001, bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt vào ngày 26/02/2006; Bị tạm giữ từ ngày 23/9/2024 và tạm giam từ ngày 01/10/2024 cho đến nay; Có mặt.
2. Nguyễn Văn S, tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1975 tại huyện D, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T2 và bà Ngô Thị H1; Có vợ là Võ Thị B và 06 con; Tiền án - Tiền sự: Chưa có; Bị tạm giữ từ ngày 23/9/2024 và tạm giam từ ngày 01/10/2024 cho đến nay; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 16 giờ ngày 22/9/2024, Nguyễn Văn S điều khiển xe máy đi từ nhà đến khu vực cầu K thuộc huyện Đ gặp một người đàn ông làm nghề xe ôm hỏi mua 400.000₫ ma túy thì người đàn ông đống ý. Người đàn ông cầm tiền đi khoảng 15 phút thì quay lại đưa cho Sóc 01 gói ma túy được bọc bằng bao nilon màu trắng, bên trong được gói bằng giấy ô ly màu trắng. Sau khi mua được ma túy thì S cầm ma túy rồi đi về nhà. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi S đang ở nhà thì có Hoàng Văn T (chồng của em gái Sóc) đến nhà hỏi xin ma túy để sử dụng. Lúc đầu S không cho nhưng sau đó thấy T lên cơn nghiện nên S đã lấy gói ma túy mới mua chia ra và gói vào 01 mẫu giấy ô ly rồi đưa cho T, số còn lại S sử dụng hết trong buổi tối cùng ngày.
Sau khi xin được ma túy thì T cầm về nhà rồi chia nhỏ thành 03 gói, được gói lại bằng giấy bạc màu trắng, còn mảnh giấy ô ly màu trắng ban đầu T vứt đi. Đến khoảng 11 giờ 10 phút ngày 23/9/2024, khi T đang lấy 02 gói ma túy ra để sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện D phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trên mặt sân nhà ở của T 02 gói được gói bằng giấy bạc màu trắng, bên trong mỗi gói chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy (do hoảng sợ nên T đã ném 02 gói ma túy đang cầm bằng tay phải xuống mặt sân).
Vào hồi 12 giờ 30 phút cùng ngày, Công an huyện D tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Văn T và thu giữ 01 gói chất bột màu trắng nghi là ma túy trong ngăn kéo bàn trang điểm trong phòng ngủ và thu giữ trên giá gỗ bàn phòng khách 02 khúc nghi là ngà voi.
Vào hồi 15 giờ ngày 23/9/2024, Nguyễn Văn S đến đầu thú tại Công an huyện D và khai báo về hành vi đi mua ma túy về sử dụng và cho Hoàng Văn T ma túy vào ngày 22/9/20024.
Quá trình điều tra, Hoàng Văn T khai nhận: Vào khoảng năm 2016, T đã mua của một người đàn ông không quen biết 02 khúc ngà voi với giá 100.0000.000₫ dùng để trang trí trong gia đình.
Tại bản Kết luận giám định số 890/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 30/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: 02 (Hai) mẫu chất bột màu trắng (Ký hiệu M1, M2) thu giữ khi bắt quả tang và khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Xuân T3 gửi giám định đều là ma túy (Heroin) và có tổng khối lượng là 0,6g.
Tại Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và niêm phong lại ngày 23/9/2024 của cơ quan CSĐT Công an huyện D xác định: Tổng khối lượng 02 khúc nghi là ngà voi là 3,6kg.
Tại Bản kết luận giám định số 1647/STTNSV ngày 01/10/2024 của V, V1 kết luận: 02 khúc ngà động vật đánh số 01 và 02 gửi giám định là ngà Voi châu P có tên khoa học là Loxodonta A.
Xác định tình trạng bảo tồn theo quy định của pháp luật: Loài Voi châu P có tên trong Phụ lục I, Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc Phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) ban hành kèm theo Thông báo số 25/TB-CTVN ngày 17/02/2023 của cơ quan thẩm quyền quản lý C1.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho S nhưng do không có thông tin, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xác minh, xử lý trong vụ án này.
Cáo trạng số 08/CT-VKS-DC ngày 24/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã quyết định truy tố bị cáo Hoàng Xuân T3 về các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm c khoản 1 Điều 244 BLHS, truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
2
Tại phiên tòa, đại diện VKS thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt Hoàng Văn T từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Điểm c khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt Hoàng Văn T từ 15 tháng đến 18 tháng về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”. Điều 55 BLHS, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội từ 27 tháng đến 33 tháng tù.
- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 - khoản 2 Điều 51 BLHS, xử phạt Nguyễn Văn S từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại cùng vỏ bao niêm phong vật chứng. Tịch thu tiêu hủy 02 khúc ngà Voi. Đề nghị buộc các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung truy tố của Cáo trạng và không có ý kiến gì trong phần tranh luận. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong giai đoạn điều tra và truy tố đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Vào chiều ngày 22/9/2024, Nguyễn Văn S đi lên địa bàn huyện Đ gặp và mua được của một người đàn ông làm nghề xe ôm không quen biết 01 gói Heroin với giá 400.000đ. Sau khi mua được ma túy thì S đưa về nhà và đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi Hoàng Văn T đến xin ma túy thì S đã chia cho T một phần ma túy vừa mua được, số còn lại S đã sử dụng hết. T đem số ma túy xin được của S về nhà và chia thành 03 gói với mục đích để dử dụng dần. Trưa ngày 23/9/2024, khi đang lấy 02 gói Heroin ra để chuẩn bị sử dụng thì bị Công an huyện D bắt giữ. Quá trình khám xét còn thu giữ them 01 gói Heroin và 02 khúc ngà Voi. Sau khi biết T bị bắt thì S đã đến đầu thú tại Công an huyện D và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Thấy rằng lời khai của các bị cáo tại phiên tòa và trong quá trình điều tra là thống nhất với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa. Bị cáo Hoàng Văn T đã có hành vi tàng trữ 0,6g ma túy Heroin với mục đích để sử dụng. Số ma túy thu giữ của T là do Nguyễn Văn S cho T vào chiều ngày 22/9/2024. Như vậy, Nguyễn Văn S phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Hoàng Văn T. Vì vậy, các bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS đúng như nội dung truy tố của Cáo trạng. Ngoài ra, bị cáo Hoàng Văn T còn có hành vi tàng trữ trái phép 3,6kg ngà Voi. Bị cáo T đã có hành vi tàng trữ sản phẩm của động vật quy định theo Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài thực vật, động vật hoang dã nguy cấp. Vì vậy, bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 244 BLHS đúng như nội dung truy tố của Cáo trạng.
[2.2] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng. Các bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng các loại ma túy nói chung cũng như Heroin nói riêng là chất gây nghiện được Nhà nước thống nhất quản lý, nghiêm cấm hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Các bị cáo là người nghiện ma túy nhưng bị cáo không thật sự có ý thức cai nghiện để từ bỏ ma túy mà còn tìm mua ma túy và tàng trữ để sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện. Bản thân bị cáo Hoàng Văn T có đủ nhận thức để biết rằng các loại động vật nguy cấp, quý, hiếm là cần phải được bảo vệ, nghiêm cấm hành vi tàng trữ trái phép. Tuy nhiên, để phục vụ nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã coi thường pháp luật và thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có tính chất đồng phạm giản đơn. Bị cáo Nguyễn Văn S là người đi mua ma túy về để sử dụng và khi bị cáo Hoàng Văn T đến nhà xin thì do nể nang tình cảm nên đã chia cho T một ít ma túy đưa về nhà sử dụng. Ngoài ra, bị cáo Hoàng Văn T còn có hành vi tàng trữ trái phép ngà Voi. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm và lên cho các bị cáo một mức hình phạt tương xứng nhằm răn đe, cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện giáo dục các bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội. Xét vai trò của từng bị cáo thấy rằng:
Bị cáo Hoàng Văn T vào năm 2002 đã bị xử phạt 05 tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy. Mặc dù đã chấp hành xong hình phạt cải tạo và được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà nay lại tiếp tục phạm tội. Trong vụ án này, bị cáo đã phạm 02 tội. Điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Cần áp dụng quy định tại Điều 55 BLHS để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo T.
Bị cáo Nguyễn Văn S phải cùng chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi tàng trữ 0,6 Heroin của Hoàng Văn T.
Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải. Bị cáo S sau khi phạm tội đã đến đầu thù tại cơ quan có thẩm quyền. Đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 - khoản 2 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình.
4
[2.3] Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo điều kiện kinh tế khó khăn và không có tài sản. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[2.4] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện D đã thu giữ của các bị cáo 0,6g Heroin và 02 khúc ngà Voi có tổng khối lượng 3,6kg.
Đối với số ma túy Heroin, đã trích 0,3g gửi giám định, còn lại 0,3g cùng phong bì niêm phong vật chứng, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 02 khúc ngà Voi là vật chứng cần tịch thu tiêu hủy.
[3] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 BLHS. Xử phạt Hoàng Văn T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 BLHS. Xử phạt Hoàng Văn T 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ Điều 55 BLHS. Buộc Hoàng Văn T phải chấp hành hình phạt cho hai tội là 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/9/2024.
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 - khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 BLHS. Xử phạt Nguyễn Văn S 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/9/2024.
- Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 0,3g Heroin cùng phong bì niêm phong vật chứng. Tịch thu tiêu hủy 02 khúc ngà Voi và 01 bì xác rắn (Tất cả có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng lập vào hồi 09 giờ ngày 06/01/2025 giữa cơ quan Điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu).
- Căn cứ Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Buộc Hoàng Văn T và Nguyễn Văn S mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
- Các bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hoài Nam |
5
Bản án số 25/2025/HSST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm - tàng trữ trái phép chất ma túy và vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
- Số bản án: 25/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm - Tàng trữ trái phép chất ma túy và Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 02 năm 09 tháng tù
