Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BẮC TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HS-ST

Ngày: 21/02/2025

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, TP . HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Kế Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Thị Thúy Hà.

2. Bà Trần Thu Phương.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Linh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 21/02/2025, tại Trụ sở tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 08/2025/HSST, ngày 10 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đinh Ngọc T, Sinh năm: 1989. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Nơi TT: Khu 12 xã P, Thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Bố đẻ: Ông Đinh Anh T1, mẹ đẻ: Bà Dương Thị Tiền P. Gia đình bị cáo có hai anh em, bị cáo là con thứ nhất. Vợ: Chị Bùi Thị Bích P1, con chung: Có ba con chung lớn sinh năm 2012, nhỏ 2024.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/12/2024 đến ngày 25/12/2024. Hiện đang áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Hồng H, Sinh năm: 1996. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Nơi TT: Thôn P, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Bố đẻ: Ông Nguyễn Văn S, mẹ đẻ: Bà Nguyễn Thị N. Gia đình có hai anh em, bị cáo là con thứ nhất. Vợ: Chị Lê Thị Hương X, Con: có một con chung sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/12/2024 đến ngày 25/12/2024. Hiện đang áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 10h ngày 09/12/2024, tổ công tác Đội CSĐTTP về kinh tế - Công an quận B đang làm nhiệm vụ tại ngõ D phố K, phường P, quận B, thành phố Hà Nội phát hiện trước cửa nhà số E ngõ D phố K có 2 nam thanh niên là Nguyễn Hồng H và Đoàn Văn T2 đang giao nhận một thùng cattong bên trong có các khối hộp chữ nhật có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Tại chỗ H không xuất trình được giấy tờ liên quan đến số pháo mà mình có và trình bày mua pháo nổ của Đinh Ngọc T.

Tạm giữ của Nguyễn Hồng H: 01 thùng cát tông bên trong có 10 khối hình hộp chữ nhật, kích thước (10,5x10,5x13) cm và 15 khối hình hộp chữ nhật kích thước (11x11x9)cm bên ngoài vỏ mỗi khối có chữ “Công ty TNHH một thành viên H3 – Pháo hoa phun viên – Giàn phun viên". (BL 67B). 01 thùng cát tông bên trong có 03 khối hình hộp chữ nhật kích thước (10,5x10,5x13)cm, và khối hình hộp chữ nhật kích thước (11x11x9)cm bên ngoài vỏ mỗi khối có chữ “Công ty TNHH một thành viên H3 – Pháo hoa phun viên – Giàn phun viên”. (BL 69). 01 điện thoại kiểu dáng Iphone 15 pro màu xanh, đã qua sử dụng. (BL 90)

Tạm giữ của Đinh Ngọc T: 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 13 promax màu xanh đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong (BL 157) 01 điện thoại kiểu dáng Iphone 5, màu ghi, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong (BL 159)

Tạm giữ từ chị Bùi Thị Bích P1 (vợ của Đinh Ngọc T): 01 đầu thu camera nhãn hiệu @lhua màu đen (BL 362)

Kết luận giám định số 8548/KL-KTHS ngày 17/12/2024 của Phòng K - Công an T9 kết luận:

Niêm phong số 1: 06 khối hình hộp chữ nhật kích thước (10,5*10,5*13) cm, đều có chữ “GIÀN PHUN VIÊN”, mỗi khối có 25 ống hình trụ tròn, đường kính mỗi ống hình trụ tròn 2cm đều là pháo hoa nổ, tổng khối lượng: 4,22 kg. 04 khối hình hộp chữ nhật kích thước ( 10 ,5*10,5*13) cm, đều có chữ “GIÀN PHUN VIÊN”, mỗi khối có 25 ống hình trụ tròn, đường kính mỗi ống hình trụ tròn 2cm đều là pháo hoa nổ, tổng khối lượng: 2,54 kg. 15 khối hình hộp chữ nhật kích thước (11 * 11 * 9) * cm, đều có chữ “GIÀN PHUN VIÊN”, mỗi khối có 25 ống hình trụ tròn, đường kính mỗi ống hình trụ tròn 2cm đều là pháo hoa, tổng khối lượng: 9,05 kg.

Niêm phong số 2: 03 khối hình hộp chữ nhật kích thước (10,5*10,5*13) cm, đều có chữ “GIÀN PHUN VIÊN”, mỗi khối có 25 ống hình trụ tròn, đường kính mỗi ống hình trụ tròn 2cm đều là pháo hoa nổ, tổng khối lượng: 1,92 kg. 01 khối hình hộp chữ nhật kích thước (11 * 11 * 9) cm, có chữ “GIÀN PHUN VIÊN”, khối có 25 ống hình trụ tròn, đường kính mỗi ống hình trụ tròn 2cm đều là pháo hoa, tổng khối lượng: 0,58 kg. (BL 76)

Kết luận định giá tài sản số 1012/KL-HĐĐGTS ngày 28/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND quận B kết luận: 16 khối hình hộp chữ nhật kích thước (11 * 11 * 9) cm đều có chữ GIÀN PHUN VIÊN ZPYZRC khối lượng 9,63 kg, chưa qua sử dụng trị giá 5.600.000 đồng. (BL80-81)

Quá trình điều tra xác định: Khoảng năm 2023, qua bạn bè xã hội nên Đinh Ngọc T quen biết Nguyễn Hồng H và hai người thỉnh thoảng mua bán pháo hoa do Bộ Q1 sản xuất với nhau. Qua tìm hiểu trên mạng, H biết đến có loại pháo hoa nổ gọi là pháo hoa chân sao đỏ, có tiếng nổ, bắn cao và đẹp hơn, không phải do Công ty TNHH một thành viên H3 sản xuất. Đến ngày 25/11/2024, H sử dụng tài khoản zalo “BENDER” liên hệ với zalo "A T Caffe Bông” của Đinh Ngọc T hỏi mua 05 giàn pháo hoa nổ (pháo chân sao đỏ), T báo giá một giàn. Đến ngày 03/12/2024, H chuyển cho T số tiền 3.000.000 đồng để mua 5 giàn pháo hoa nổ. Ngày 04/12/2024, T chuyển xe khách (không xác định) 05 giàn pháo hoa nổ xuống cho H.

Ngày 04/12/2024, Nguyễn Hồng H bán cho người có tài khoản facebook “Gia P2” (số điện thoại 0328.385.xxx) 2 giàn pháo hoa nổ mua của T và 1 giàn pháo hoa, H đồng ý bán với giá 2.500.000 đồng. Người mua chuyển 500.000 đồng đặt đọc từ số khoản ngân hàng T10 số 19036894496016 đến tài khoản ngân hàng Q2 số 1080163668886 của H; rồi H mang đến công viên H giao và nhận 2.000.000đ tiền mặt. Sau đó, tài khoản facebook "Gia P2" tiếp tục liên hệ với H đặt mua thêm 10 giàn pháo hoa nổ và 15 giàn pháo hoa với giá 19.700.000 đồng, chuyển khoản trước 3.700.000₫ từ tài khoản ngân hàng M2 số 3520198989888.

Sau khi nhận lời bán pháo cho tài khoản có tên “G”, H liên hệ với T mua 10 giàn pháo hoa nổ với giá 6.000.000 đồng. Ngày 06/12/2024, do tiện có việc ở Hà Nội nên T trực tiếp mang 10 giàn pháo hoa nổ bán cho H, H chuyển khoản cho T số tiền 6.000.000 đồng. Ngày 7/12/2024 H liên hệ người có tài khoản zalo “Gấu bố siêu nhân” số điện thoại 0398.808.xxx để mua 15 giàn pháo hoa viên nén với 9.000.000 đồng (giá 600.000₫ một giàn), sau đó tài khoản zalo “Tuấn A” giao pháo hoa đến đầu ngõ A Cầu D, Phúc D, B từ L cho H và thu tiền.

Đến khoảng 10 giờ ngày 9/12/2024, H đang mang theo 01 thùng cát tông bên trong có chứa 15 giàn pháo hoa và 10 giàn pháo hoa nổ đưa cho anh Đoàn Văn T2 đi giao cho người sử dụng facebook "Gia Phát” thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt giữ.

Tại cơ quan điều tra, Đinh Ngọc T và Nguyễn Hồng H khai nhận hành vi như nêu trên. Ngoài ra, Đinh Ngọc T khai nguồn gốc 15 giàn pháo hoa nổ bán cho H là do T mua của Nguyễn Tuấn M (sinh năm 2003, HKTT: Khu A, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ). (BL 82-309)

Đối với 16 giàn pháo hoa đã thu giữ của Nguyễn Hồng H: Xác minh tại Công ty TNHH H3 được biết: Các sản phẩm tương tự các mẫu do cơ quan điều tra cung cấp, xác minh tại Công ty ngày 10/12/2024 không phải là sản phẩm do Công ty TNHH MTV H3 sản xuất (BL 364). Kết luận giám định xác định giá trị của các giàn pháo trên là 5.600.000 đồng. Ngày 10/01/2025, Công an quận B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 7.500.000 đồng đối với H về buôn bán hàng giả theo điểm c khoản 1 Điều 11 Nghị định 98/2020/NĐ-CP (BL 382).

Qua kiểm tra tin nhắn xác định T còn bán cho H 03 giàn pháo hoa 128 với giá 3.300.000 đồng/giàn và 09 giàn pháo hoa loại 25 ống với giá 3.000.000 đồng. Nhưng hiện tại H đã bán số pháo hoa cũng như 02 giàn pháo hoa nổ đã mua của T nên không thu giữ được vật chứng, không giám định được chất lượng nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với Đoàn Văn T2: là người được H thuê chở đi giao hàng pháo nhưng T2 không biết H buôn bán pháo hoa nổ nên không có căn cứ để xử lý. (BL 324-329)

Đối với Nguyễn Tuấn M: M khai không bán pháo hoa nổ cho Đinh Ngọc T mà chỉ bán pháo hoa của Bộ Q1 sản xuất cho T, điện thoại của M đã bị mất nên không cung cấp được để phục vụ điều tra. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an quận B đã trưng cầu giám định Phòng K - Công an T9 để phục hồi tin nhắn trao đổi giữa T với M, giám định video trong đầu thu camera tại nhà của T và đề nghị các cơ quan có liên quan khác cung cấp tài liệu liên quan đến trao đổi giữa hai người nhưng hiện nay chưa có kết quả trả lời. (BL 337-360)

Đối với tài khoản “Gia P2” (người mua pháo nổ), tài khoản “Gấu bố siêu nhân” và “Tuấn A” (người bán pháo hoa cho H): Cơ quan CQĐT Công an quận B đã có công văn đề nghị các cơ quan viễn thông, ngân hàng cung cấp thông tin nhưng chưa nhận được kết quả trả lời.

Ngày 10/01/2025, cơ quan CSĐT Công an quận B quyết định tách rút tài liệu liên quan đến Nguyễn Tuấn M, những người đã mua bán pháo hoa, pháo hoa nổ của Nguyễn Hồng H, cùng với hai chiếc điện thoại đã thu giữ của Đinh Văn T3, đầu thu camera thu của chị Bùi Thị Bích P1 để tiếp tục xác minh, xử lý sau. (BL 381)

Đối với số pháo hoa, pháo nổ và chiếc điện thoại đã thu giữ của Nguyễn Hồng H cần tiếp tục tạm giữ, chuyển theo hồ sơ vụ án để xử lý theo quy định của pháp luật.

Bản Cáo trạng số 11/CT-VKSBTL ngày 13/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm truy tố các bị cáo Nguyễn Hồng H, Đinh Ngọc T về tội “Buôn bán hàng cấm”. Tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 - Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

- Các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, xác nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm truy tố là đúng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện. Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội. Bị cáo T đã tự nguyện nộp 9.000.000 đồng tiền thu lời bất chính.

- Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân của bị cáo đã kết luận giữ quan điểm như cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65, Điều 58, Điều 47, Điểm c Khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Đinh Ngọc T, Nguyễn Hồng H mỗi bị cáo từ 12 đến 16 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 32 tháng kể từ ngày tòa tuyên án.

Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 thùng cát tông bên trong có chứa pháo hoa và pháo hoa nổ đã giám định.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại kiểu dáng Iphone 15 pro màu xanh, đã qua sử dụng.

Về số tiền thu lời bất chính đề nghị HĐXX sung quỹ Nhà nước số tiền 9.000.000 đồng bị cáo T đã tự nguyện nộp.

Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định do đó không áp dụng Khoản 4 Điều 190 phạt tiền đối với các bị cáo.

Về án phí: Đề nghị tòa căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Buộc bị cáo phải nộp tiền án phí HSST.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định: Vì mục đích lợi nhuận. Các bị cáo biết rõ Nhà nước nghiêm cấm việc sản xuất, buôn bán pháo nổ từ ngày 03/12/2024 đến ngày 06/12/2024, Đinh Ngọc T đã bán cho Nguyễn Hồng H 15 giàn pháo hoa nổ. H đã bán 02 giàn pháo hoa nổ cho facebook "G". Ngày 09/12/2024, khi H đang chuẩn bị bán 13 giàn pháo hoa nổ còn lại với khối lượng 8,68 kg thì bị cơ quan Công an phát hiện cùng vật chứng.

[2] Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm”. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 - Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ đúng người, đúng tội, phù hợp với pháp luật.

[3] Đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo nhân thân chưa có tiền án tiền sự, lần đầu đưa ra xét xử. Hành vi buôn bán hàng cấm của các bị cáo Đinh Ngọc T, Nguyễn Hồng H đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lí một số loại hàng hóa cấm kinh doanh, chưa được phép kinh doanh, kinh doanh phải có điều kiện đảm bảo trật tự an toàn xã hội, hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự ở địa phương. Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp mục đích vì lợi nhuận, nhận thức được hành vi của mình là sai nhưng vẫn cố ý phạm tội. Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Các Bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo T, H cung cấp bằng chứng, tài liệu, tin tức cho cơ quan điều tra và thực hiện đúng các yêu cầu của các cơ quan điều tra, giúp cơ quan điều tra tội phạm một cách nhanh chóng, kịp thời và chính xác, bị cáo T đã tự nguyện nộp 9.000.000 đồng tiền thu lời bất chính. Do đó các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo đã được phân tích ở trên. Khi lượng hình thấy vai trò của của bị cáo T, H độc lập, ngang nhau, thực hiện hành vi đồng phạm giản đơn. Do đó cần xử mức án bị cáo T, H với mức án như nhau.

Hội đồng xét xử thấy Bị cáo T, H có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1 Điều 51, có nơi cư trú rõ ràng, Hội đồng xét xử thấy cần mở lượng khoan hồng cho các bị cáo cơ hội, làm lại sau lầm lỡ nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ để các bị cáo cải tạo trở thành người có ích trong xã hội, giao các Bị cáo về chính quyền địa phương, nơi các Bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục các Bị cáo, là phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

[5] Về trách nhiệm dân sự: Không.

[6] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 thùng cát tông bên trong có chứa pháo hoa và pháo hoa nổ đã giám định. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại kiểu dáng Iphone 15 pro màu xanh, đã qua sử dụng do bị cáo H sử dụng điện thoại vào việc phạm tội.

Về số tiền thu lời bất chính: Bị cáo T thu lời được số tiền 9.000.000 đồng từ việc bán pháo. Do đó cần buộc bị cáo T phải nộp lại số tiền thu lời bất chính để sung quỹ Nhà nước. Bị cáo T đã nộp 9.000.000 đồng theo biên lai số 0021949 ngày 21/02/2025 để sung quỹ Nhà nước.

[7] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với vụ án: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt các bị cáo như nhận định của HĐXX nên xử mức án như đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[9] Về án phí: Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 190, Điểm s, t Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Ngọc T, bị cáo Nguyễn Hồng H phạm tội: “Buôn bán hàng cấm”.

1. Xử phạt: Bị cáo Đinh Ngọc T 13 (Mười ba) tháng tù về tội Buôn bán hàng cấm nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 26 (Hai mươi sáu) tháng kể từ ngày Tòa tuyên án. Giao bị cáo T cho UBND xã P, Thị xã P, tỉnh Phú Thọ quản lý giáo dục trong thời gian thử thách.

2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hồng H 13 (Mười ba) tháng tù về tội Buôn bán hàng cấm nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 26 (Hai mươi sáu) tháng kể từ ngày Tòa tuyên án. Giao bị cáo H cho UBND xã P, huyện B, thành phố Hà Nội quản lý giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Theo quy định tại khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Khoản 1 Điều 331, Khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Về dân sự: Không.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thùng cát tông đã được niêm phong (bên ngoài có chữ ký của điều tra viên Trần Đắc T4 và Nguyễn Hồng H) bên trong có chứa pháo hoa nổ và pháo hoa đã giám định. (gồm 12 giàn pháo hoa và 09 giàn pháo hoa nổ).

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) Điện thoại kiểu dáng Iphone 15 Pro màu xanh, đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong. Tại thời điểm bàn giao không lên nguồn.

Vật chứng trên hiện ở Chi cục thi hành dân sự quận B, theo biên bản giao nhận vật chứng số 100/25 ngày 16.01.2025.

Sung quỹ Nhà nước 9.000.000 đồng. Do bị cáo T nộp theo biên lai số 0021949 ngày 21/02/2025 để sung quỹ Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo T, H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn) án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo
  • - VKSND Q. Bắc Từ Liêm
  • - VKSND thành phố Hà Nội
  • - Công an quận Bắc Từ Liêm
  • - Chi cục THADS Q. Bắc Từ Liêm
  • - Bộ phận Thi hành án HS Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm
  • - Lưu HS-VP

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lý Kế Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về buôn bán hàng cấm

  • Số bản án: 25/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Đinh Ngọc T Nguyễn Hồng H phạm tội buôn bán hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger