Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/DS-ST

Ngày: 19 - 02 - 2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng dân sự - tiền hụi.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Ngoan

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Văn Thơi
  2. Bà Trần Thị Út

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Võ Huỳnh Anh Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 143/2024/TLST-DS ngày 14 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự - tiền hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Xếp B, sinh năm 1975 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp G, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.

- Bị đơn:

  1. Bà Đồng Thị Tào H, sinh năm 1979 (vắng mặt).
  2. Ông Phạm Thành V (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp G, xã V, huyện L, Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án

nguyên đơn ông Trần Xếp B (gọi tắt là ông B) trình bày:

Ông B có tham gia chơi hụi do vợ chồng bà Đồng Thị Tào H và ông Phạm Thành V làm chủ hụi. Ông B tham gia dây hụi tháng, loại hụi 500.000 đồng/tháng, mở ngày 20/9/2021 (al), có 51 phần tham gia, ông B tham gia 04 phần, đóng hụi sống được 33 lần/04 phần, đến kỳ mở hụi thứ 34 thì bà H, ông V tuyên bố úp hụi (bể hụi). Tính đến thời điểm úp hụi thì bà H, ông V còn nợ ông B 36.960.000 đồng tiền hụi chưa thanh toán. Ông B nhiều lần yêu cầu bà H, ông V trả tiền hụi còn nợ nhưng bà H, ông V cứ hứa hẹn mà không thanh toán.

Nay ông B khởi kiện yêu cầu bà Đồng Thị Tào H và ông Phạm Thành V phải trả cho ông B số tiền hụi còn nợ là 36.960.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Quá trình giải quyết vụ án, tại biên bản ghi lời khai bị đơn Đồng Thị Tào

H (gọi tắt là bà H) trình bày:

Bà H thừa nhận ông Trần Xếp B có tham gia chơi hụi do bà làm chủ hụi. Sau khi úp hụi, bà H và ông B có kết toán hụi với nhau, bà H xác định còn nợ ông B số tiền hụi tổng cộng là 36.960.000 đồng. Bà H đồng ý trả số tiền hụi còn nợ 36.960.000 đồng cho ông B.

Bị đơn Phạm Thành V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng và hoà giải nhưng đều vắng mặt không có lý nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn về yêu cầu khởi kiện của ông B và không thể tiến hành tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đối với bị đơn ông Phạm Thành V.

Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trần Xếp B yêu cầu bà Đồng Thị Tào H và ông Phạm Thành V trả cho ông B số tiền hụi còn nợ là 36.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang trình bày quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, các đương sự đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Tại phiên toà nguyên đơn Trần Xếp B đã thay đổi yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn bà Đồng Thị Tào H và ông Phạm Thành V, ông B chỉ yêu cầu vợ chồng bà Tào H trả số tiền còn nợ 36.000.000 đồng, việc nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện không vượt phạm vi khởi kiện ban đầu. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Xếp B. Buộc bị đơn Đồng Thị Tào H, Phạm Thành V trả cho nguyên đơn Trần Xếp B số tiền hụi còn nợ là 36.000.000 đồng, nguyên đơn không yêu cầu tính lãi nên không xem xét.

Về án phí, bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá và nhận định về những chứng cứ, những tình tiết của vụ án:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ông Trần Xếp B khởi kiện vợ chồng bà Đồng Thị Tào H và ông Phạm Thành V để yêu cầu trả số tiền hụi còn nợ. Căn cứ theo quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự thì quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng dân sự - tiền hụi”. Bị đơn bà Đồng Thị Tào H và ông Phạm Thành V có nơi cư trú tại ấp G, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Đối với bị đơn bà Đồng Thị Tào H và ông Phạm Thành V đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên tòa xét xử, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn nhưng vẫn đảm bảo quyền và nghĩa vụ hợp pháp cho đương sự theo quy định pháp luật.

[1.3]. Về việc thay đổi bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện: Tại phiên tòa nguyên đơn ông Trần Xếp B thay đổi yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn Đồng Thị Tào H và ông Phạm Thành V đối với số tiền hụi còn nợ, ông B chỉ yêu cầu vợ chồng bà Tào H và ông V trả lại số tiền còn nợ là 36.000.000 đồng, xét thấy việc ông B thay đổi yêu cầu khởi kiện là do ý chí tự nguyện của ông B, không vượt yêu cầu khởi kiện ban đầu nên hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2]. Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1]. Tại biên bản ghi lời khai ngày 05/11/2024 bà H thừa nhận ông B có tham gia chơi hụi do bà làm chủ và khi bà H tuyên bố úp hụi thì bà H còn nợ lại ông B số tiền 36.960.000 đồng, việc bà H thừa nhận có nợ tiền hụi ông B là tình tiết không phải chứng minh bằng chứng cứ theo quy định theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Đối với ông Phạm Thành V, trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã triệu tập nhiều lần nhưng ông V không có ý kiến gì về việc số tiền hụi còn nợ của ông B. Căn cứ Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Do đó, Toà án căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ cũng như lời thừa nhận của bà H làm cơ sở để Toà án xem xét giải quyết.

[2.2]. Xét giao dịch tham gia hụi giữa ông B và vợ chồng bà H và ông V là do sự tự nguyện thỏa thuận giữa hai bên, do quá trình tham gia hụi, bà H, ông V tuyên bố úp hụi nhưng chưa thanh toán tiền lại cho các hụi viên, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của họ, nên ông B yêu cầu vợ chồng bà H, ông V phải có nghĩa vụ trả cho ông B số tiền hụi còn nợ là phù họp theo quy định tại Điều 463 và Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015 nên được hội đồng xét xử chấp nhận.

Tại phiên toà, ông B thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu ông V, bà H trả số tiền hụi còn nợ là 36.000.000 đồng, là ít hơn số tiền bà H thừa nhận là có lợi cho bà H và ông V. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận buộc bà Đồng Thị Tào H và ông Phạm Thành V cùng có nghĩa vụ trả cho ông Trần Xếp B số tiền

hụi còn nợ 36.000.000 đồng. Ông B không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3]. Từ những nhận định trên, xét lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị đơn bà Đồng Thị Tào H và ông Phạm Thành V phải có nghĩa vụ nộp 5% án phí có giá ngạch trên tổng số tiền phải thực hiện nghĩa vụ là 36.000.000 đồng x 5% = 1.800.000 đồng (một triệu tám trăm nghìn đồng). Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 244 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 468 và Điều 471 Bộ luật dân sự 2015;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Xếp B đối với bị đơn bà Đồng Thị Tào H và ông Phạm Thành V về tranh chấp tiền hụi.
  2. Buộc bị đơn bà Đồng Thị Tào H và ông Phạm Thành V cùng có nghĩa vụ trả cho ông Trần Xếp B số tiền hụi còn nợ 36.000.000đ (ba mươi sáu triệu đồng).
  3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đồng Thị Tào H và ông Phạm Thành V phải nộp án phí với số tiền là 1.800.000 đồng (một triệu tám trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Ông Trần Xếp B được nhận lại 924.000 đồng (chín trăm hai mươi bốn nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0010250 lập ngày 16 tháng 10 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
  2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (19/02/2025). Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, tống đạt theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - VKSND huyện Long Mỹ;
  • - Chi cục THADS huyện Long Mỹ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thuý Ngoan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/DS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hợp đồng dân sự - tiền hụi

  • Số bản án: 25/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự - tiền hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông B yêu cầu bà H trả tiền
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger