Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHƠN TRẠCH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HS-ST

Ngày 18 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Linh Thu Hồng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Điệp.

Ông Hoài Đức Huệ.

Thư ký phiên tòa: Bà Ngọc Thị Ngoan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nhơn Trạch xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2025/HSST-QĐ ngày 22 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Đình C, sinh năm 1987 tại Thanh Hóa; Nơi đăng ký thường trú: Tổ B, Ấp T, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nơi sinh sống: Tổ B, Ấp T, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đình T và bà Nguyễn Thị L; Bị cáo có vợ tên Chu Thị H và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2011 nhỏ nhất sinh năm 2019 (có mặt).

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1979 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Bà Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1966 (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ A, khu phố L, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Trách nhiệm hữu hạn C1.

Địa chỉ: Tổ B, Ấp T, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đình C - Chức vụ: Giám đốc (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 03/9/2024, Công ty TNHH Đ ký hợp đồng với Công ty TNHH C2 do Nguyễn Đình C làm giám đốc có địa chỉ tại: Tổ B, ấp T, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai để thực hiện tháo dỡ một số hạng mục tại trạm trộn bê tông tại Công ty Cổ phần Đ1 (Công ty Đ1) thuộc Khu công nghiệp Ô, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Sau đó, C thuê anh Nguyễn Văn T1 (sinh năm 1979) ngụ tại phường K, Thành phố T, tỉnh Bình Dương làm thời vụ với nhiệm vụ là phụ cẩu, hai bên không ký hợp đồng lao động.

Ngày 04/9/2024, C và T1 đến Công ty Đ1 thuộc Khu công nghiệp Ô, huyện N, tỉnh Đồng Nai để làm việc. Đến 16 giờ cùng ngày, khi đã tháo được phần băng tải của trạm trộn bê tông và bắt đầu thực hiện tháo dỡ phần phểu của trạm trộn. Lúc này, C điều khiển xe cẩu bánh lốp nâng T1 lên đứng trên phểu của trạm trộn với độ cao 04 mét để T1 móc dây xích vào 02 đầu phểu (T1 không được trang bị đồ bảo hộ lao động khi làm việc). Sau khi T1 móc dây xích vào 02 đầu phểu xong, vẫn còn đứng trên phểu, C điều khiển xe cẩu nâng cần trục, do một bên phểu bên trong đang còn vật liệu nên nặng hơn dây xích đã làm cho dây xích bị tuột và phểu nghiêng đổ làm T1 bị té từ trên phểu xuống đất chấn thương nặng. Đến ngày 06/9/2024, T1 tử vong tại bệnh viện.

Sự việc được trình báo Công an xử lý theo quy định pháp luật, tại Cơ quan điều tra C khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại Kết luận giám định tử thi số 244/KLGĐTT-TTPYĐN ngày 03/10/2024 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Đ kết luận như sau:

  • - Kết luận nguyên nhân chết: Sốc đa chấn thương.
  • + Chấn thương ngực gây gãy đa xương sườn hai bên, gãy xẹp đốt sống ngực D8, gãy mỏm gai đốt sống D7, gãy mảnh sống D8 - D12, gãy mỏm ngang D9 phải, dập phổi hai bên, chảy máu khoang ngực.
  • + Chấn thương bụng - lưng và vùng chậu gây vỡ lách, nứt gan, rách thanh mạc dạ dày, gãy xẹp đốt sống L1, gãy mảnh sống L1, gãy mỏm ngang đốt sống L2 trái và mỏm ngang đốt sống L3-L5 bên phải, gãy cánh xương cùng hai bên, gãy ngành trên và ngành dưới xương mu phải, gây ổ cối trái, trật chỏm xương đùi trái.
  • + Chấn thương sọ não gây xuất huyết màng mềm vùng đỉnh và tiểu não hai bên.
  • + Kết hợp chấn thương gây gãy xương trụ phải/ Bệnh nhân lao phổi.
  • Kết luận khác:
  • + Nồng độ cồn trong máu:
  • Nồng độ ethanol trong máu toàn phần: 0,46 mg/100mL (Theo Quyết định số 320/QĐ-BYT ngày 23/01/2014, trị số bình thường < 50,23 mg/100mL).
  • + Độc chất: Mẫu máu có sự hiện diện của A (Paracetamol) (thuốc giảm đau, hạ sốt).
  • + Mô bệnh học: Lao phổi + Phù phổi cấp, Tổn thương hoại tử cơ tim cấp dạng tăng co. Sung huyết đa tạng.

Tại Công văn số 242/CV-TTr ngày 22/10/2024 của Thanh tra Sở - Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Đ, kết luận như sau:

  • - Lỗi của người sử dụng lao động (Công ty TNHH C1 do ông Nguyễn Đình C là người đại diện theo pháp luật):
  • + Không xây dựng các nội quy, quy trình, biện pháp làm việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động tại công trình và khi làm việc trên cao theo quy định tại Điều 15 Luật An toàn, Vệ sinh lao động năm 2015; điểm 2.1.1.1, điểm 2.7.1.1 tại Quy chẩn QCVN 18:2021/BXD Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về an toàn trong thi công xây dựng ban hành theo Thông tư số 16/2021/TT-BXD ngày 20/12/2021 của Bộ X.
  • + Không tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động cho ông Nguyễn Văn T1 trước khi bố trí làm việc theo quy định tại Điều 14 Luật An toàn, Vệ sinh lao động năm 2015; Chương III Nghị định số 44/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Chính phủ; Nghị định số 140/2018/NĐ-CP ngày 08/10/2018 của Chính phủ.
  • + Không cấp phát phương tiện bảo vệ cá nhân cho ông Nguyễn Văn T1 theo quy định tại Điều 23 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015; Thông tư số 25/2022/TT-BLĐTBXH ngày 30/11/2022 của Bộ L1 Quy định về chế độ trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động.
  • + Không thực hiện kiểm định kỹ thuật an toàn Cần trục bánh lốp, mã hiệu KOBELCO P&H, SK/SM: KG51T-02235/RD8-100401, năm chế tạo: 2000, nước sản xuất: KOBELCO - Nhật Bản theo quy định tại Điều 31 Luật An toàn, Vệ sinh lao động năm 2015, Điều 16 Nghị định số 44/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Chính phủ; Thông tư số 54/2016/TT-BLĐTBXH ngày 28/12/2016; Thông tư số 36/2019/TT-BLĐTBXH ngày 30/12/2019 của Bộ L1 và điểm 4.2.1 QCVN 29:2016/BLĐTBXH Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về an toàn lao động đối với cần trục ban hành theo Thông tư số 51/2021/TT-BLĐTBXH ngày 28/12/2021 của Bộ L1.
  • - Lỗi của ông Nguyễn Đình C là người trực tiếp vận hành xe cần trục bánh lốp, mã hiệu KOBELCO P&H, SK/SM: KG51T-02235/RD8-100401: Trong quá trình sử dụng cần trục, ông C để ông Nguyễn Văn T1 đứng trên tải và ở trong bán kính quay của phần quay cần trục. Hành vi này vi phạm quy định tại điểm 3.5.2.4 QCVN 29:2016/BLĐTBXH Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về an toàn lao động đối với cần trục ban hành theo Thông tư số 51/2021/TT-BLĐTBXH ngày 28/12/2021 của Bộ L1.

Tại Cáo trạng số 12/CT-VKSNT ngày 26 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình C về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo điểm a khoản 1 Điều 295 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình C phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.

Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đình C từ 16 (mười sáu) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Áp dụng thời gian thử thách theo quy định.

Về xử lý vật chứng: Đối với xe tải cẩu bánh lốp số 72LA0135/XMCD, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Chu Thị H (vợ của Nguyễn Đình C) là đúng quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Đình C đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại anh Nguyễn Văn T1 tổng số tiền 36.000.000 đồng, gia đình bị hại đã làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ cho bị cáo và không thắc mắc khiếu nại về phần dân sự trong vụ án.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Bị cáo thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo không có ý kiến hay tranh luận gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  • [1] Về tố tụng hình sự:
  • [1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật.
  • [1.2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại bà Nguyễn Thị Kim N vắng mặt. Trong giai đoạn điều tra bà N đã có lời khai, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử bà N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt đã thể hiện rõ ý kiến của mình. Do vậy việc vắng mặt của đại diện hợp pháp của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử.
  • [2] Lời khai nhận tội của bị cáo có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân, không có sự mâu thuẫn, phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp bị hại; người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đã đủ cơ sở xác định: Vào lúc 16 giờ ngày 04/9/2024, tại Công ty Đ1 thuộc Khu công nghiệp Ô, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Nguyễn Đình C điều khiển xe cẩu bánh lốp nâng ông Nguyễn Văn T1 đứng trên phểu của trạm trộn, với độ cao 04 mét để T1 móc dây xích vào 02 đầu phểu xe cẩu, khi T1 vẫn còn đứng trên phểu, không có đồ bảo hộ lao động, C điều khiển xe cẩu nâng để nâng cần trục, do một bên phểu bên trong đang còn vật liệu nên nặng hơn dây xích đã làm cho dây xích bị đứt, T1 bị té từ trên phểu xuống đất bị chấn thương nặng dẫn đến tử vong tại bệnh viện.
  • Hành vi của bị cáo Nguyễn Đình C đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố bị cáo theo tội danh và điểm, khoản, Điều nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.
  • [3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý an toàn lao động, bị cáo không tuân thủ các quy định về an toàn lao động, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác. Do đó, việc xử lý bị cáo theo pháp luật hình sự là cần thiết, nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, cần có hình phạt tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra.
  • [4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
  • [4.1] Về tình tiết tăng nặng: không có.
  • [4.2] Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân tốt; Thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý; Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, được đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • [5] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ và hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên. Xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này luôn chấp hành tốt chính sách, pháp luật tại địa phương, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng và có khả năng tự cải tạo. Bị cáo đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Xét thấy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
  • [6] Về trách nhiệm bồi thường dân sự và xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • [7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
  • [8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về các vấn đề trong vụ án là phù hợp với nhận định nêu trên nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình C phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình C 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 08 (tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/02/2025), nếu bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Giao bị cáo Nguyễn Đình C cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai, nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Đình C phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Bị cáo, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh;
  • - Viện KSND huyện Nhơn Trạch;
  • - Chi cục THADS huyện Nhơn Trạch;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Người đại diện hợp pháp bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Linh Thu Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI về vi phạm quy định về an toàn lao động

  • Số bản án: 25/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về an toàn lao động
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyen Đinh C vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger