TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2025/HS-ST Ngày 14-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thắm;
- Bà Nguyễn Kim Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vui - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Lê Thị Xuân H, sinh năm 1997, tại tỉnh Trà Vinh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh; chỗ ở: Khu phố B, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn D, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1971; có chồng là ông Lâm Quốc H1, sinh năm 1994 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2023; bị cáo có 02 anh em, lớn sinh năm 1990, nhỏ là bị cáo;
Tiền án: Ngày 28/6/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đối với hành vi thực hiện ngày 01/02/2024. Chưa chấp hành xong án phạt tù. Chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng ngày 04/9/2024.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 11/8/2020, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 25/QĐ-TA với thời gian 12 tháng về hành vi: “Sử dụng trái phép chất ma túy” đối với hành vi thực hiện ngày 15/5/2020. Ngày 28/4/2021, được miễn chấp hành phần thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại.
Ngày 16/7/2024, bị bắt phạm tội quả tang, bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Bạch Văn G, sinh năm 1999, tại tỉnh Bình Dương; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương; chỗ ở: Ấp A, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bạch Tường G1, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị Minh T, sinh năm 1976; có 03 anh em, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không. Ngày 17/7/2024, bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Từ Lê Châu T1, sinh năm 2001; địa chỉ thường trú: Ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Cà Mau; chỗ ở hiện nay: Ki ốt nhà trọ Đ, đường T, khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
- Ông Dương Tính H2, sinh năm 1980; địa chỉ thường trú: Ấp Đ, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau; chỗ ở hiện nay: Khu nhà ở xã H, khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Thị Xuân H và Bạch Văn Giàu có quan hệ quen biết nhau, đều là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy đá (ma túy loại Methamphetamine). H sống tại phòng trọ số F nhà T thuộc khu phố B, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
Khoảng 14 giờ ngày 16/7/2024, Lê Thị Xuân H nảy sinh ý định mua ma túy đá để sử dụng và bán lại kiếm lời nên sử dụng điện thoại di động hiệu Nokia 105 gắn sim số 0984971757 gọi điện thoại cho người phụ nữ tên T2 (không rõ lai lịch) hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy đá thì T2 đồng ý và hẹn H đến khu vực chợ B thuộc phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương để bán ma túy. Sau đó, H mượn xe mô tô (không rõ biển số) của bạn tên D (không rõ lai lịch) nói dối đi công chuyện rồi đi đến khu vực chợ B thấy T2 đứng chờ sẵn. Tại đây, H mua được 02 túi nylon miệng kéo dính chứa ma túy đá, 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong có 02 gói nylon hàn kín và 06 đoạn ống hút hàn kín đều chứa ma túy đá và 01 túi nylon bên trong có 06 đoạn ống hút và 01 gói nylon chứa ma túy đá với giá 1.000.000 đồng của T2. Lúc này, H cất giấu 01 túi nylon miệng kéo dính chứa ma túy đá vào trong áo ngực bên phải; cất giấu 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong có 02 gói nylon hàn kín và 06 đoạn ống hút hàn kín đều chứa ma túy đá vào áo ngực bên trái; cất giấu 01 túi nylon miệng kéo dính chứa ma túy đá vào ví da màu đen bỏ trong túi xách đeo trên người, 01 túi nylon bên trong có 06 đoạn ống hút và 01 gói nylon chứa ma túy đá vào túi quần bên trái. Sau đó, H điều khiển xe mô tô quay về phòng trọ số 6 nhà trọ Trang Thu trả xe cho D. Khi H về đến phòng trọ số 6 nhà trọ Trang Thu thì thấy Bạch Văn G đang ngồi chờ để lấy tiền H nợ G trước đó (H đi mua ma túy không khóa cửa phòng trọ). Lúc này, H lấy 01 túi nylon bên trong có 06 đoạn ống hút và 01 gói nylon chứa ma túy đá trong túi quần bên trái để xuống nền nhà rồi kêu G cất dùm thì G đồng ý. Sau đó, G cất giấu ma túy vào ví nhựa giả da rồi để trong ngăn kéo tủ nhựa sát vách tường nhà vệ sinh đối diện cửa ra vào phòng trọ.
Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Từ Lê Châu T1 là bạn của H điều khiển xe mô tô hiệu Suzuki Satria biển số: 69N1 - 674.41 đến phòng số 06 nhà trọ Trang Thu chơi. Tại đây, H nhờ T1 chở H đi mua đồ ăn và đi chơi thì T1 đồng ý. Sau đó, H đem theo túi xách bên trong đựng ví da màu đen có cất giấu ma túy và trên người H có cất giấu ma túy ngồi lên phía sau xe mô tô biển số: 69N1 - 674.41 để T1 chở đi. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, người đàn ông tên P (không rõ lai lịch) gọi điện thoại qua mạng xã hội Z cho G hỏi H đang ở đâu thì G gọi điện thoại cho H nhưng H không nghe. Sau đó, P đi đến phòng trọ số 6 nhà trọ Trang Thu gặp G. Tại đây, P hỏi G còn ma túy không thì G chỉ ma túy đá của H cất giấu bên trong ví nhựa giả da để trong ngăn kéo tủ cho P biết. Sau đó, P lấy 01 đoạn ống hút chứa ma túy đá trong ngăn kéo rồi đưa số tiền 200.000 đồng cho G cất giữ cho H. Sau đó, H gọi điện thoại cho G hỏi P có gọi điện thoại hỏi mua ma túy không thì G nói đã bán ma túy với giá 200.000 đồng cho P.
Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi T1 điều khiển xe mô tô biển số: 69N1 - 674.41 chở H đi đến đoạn đường TC2 thuộc khu phố C, phường M, thành phố B thì bị lực lượng Công an phường M kiểm tra hành chính phát hiện 01 túi nylon miệng kéo dính chứa chất tinh thể màu trắng bên trong ví da màu đen trong túi xách của H đang đeo. H khai chất tinh thể màu trắng trong túi nylon miệng kéo dính là Methamphetamine nên lực lượng Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H. Sau đó, lực lượng Công an phường M đưa H và T1 về trụ sở Công an phường M để tiếp tục kiểm tra phát hiện 01 túi nylon miệng kéo dính chứa chất tinh thể màu trắng bên trong áo ngực bên phải của H, 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong có 02 gói nylon hàn kín và 06 đoạn ống hút hàn kín đều chứa chất tinh thể màu trắng bên trong áo ngực bên trái của H đang mặc.
Đến khoảng 01 giờ ngày 17/7/2024, P tiếp tục nhắn tin qua mạng xã hội Zalo cho G hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá nhưng do đã khuya nên G không bán ma túy cho P.
Đến khoảng 08 giờ ngày 17/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiến hành khám xét khẩn cấp phòng trọ số 6 nhà trọ Trang Thu, phát hiện 01 túi nylon bên trong có 05 đoạn ống hút và 01 gói nylon chứa chất tinh thể màu trắng bên trong ví nhựa giả da để trong ngăn kéo tủ nhựa sát vách tường nhà vệ sinh đối diện cửa ra vào phòng trọ, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy để dưới gầm bếp ga trong phòng trọ.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 túi nylon miệng kéo dính chứa chất tinh thể màu trắng (Ký hiệu M1-1);
- - 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong có 02 gói nylon hàn kín (Ký hiệu M1-2A) và 06 đoạn ống hút hàn kín đều chứa chất tinh thể màu trắng (Ký hiệu M1-2B);
- - 01 túi nylon miệng kéo dính chứa chất tinh thể màu trắng (Ký hiệu M2);
- - 01 túi nylon miệng kéo dính đựng 01 gói nylon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng (Ký hiệu M3-1);
- - 01 đoạn ống hút màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng (Ký hiệu M3-2);
- - 02 đoạn ống hút màu đỏ trắng hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng (Ký hiệu M3-3);
- - 01 đoạn ống hút màu xanh hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng (Ký hiệu M3-4);
- - 01 đoạn ống hút màu đen hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng (Ký hiệu M3-5);
- - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy;
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus gắn sim số 0862349958 của Lê Thị Xuân H;
- - 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đỏ gắn sim số 0984971757 của Lê Thị Xuân H;
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu đen gắn sim số 0372833966 của Bạch Văn G.
Theo Kết luận giám định số 3473/KL-KTHS ngày 25/7/2024 và Kết luận giám định bổ sung số 3473A/KLBS-KTHS ngày 02/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Mẫu chất tinh thể màu trắng (bị thu giữ), gửi giám định là ma tuý, có khối lượng: 1,7908 gam (M2), loại Ketamine; 1,1048 gam (M2), 0,9529 gam (M3), 1,3075 gam (M4), 0,2536 gam (M5), 0,0793 gam (M6), 0,2544 gam (M7), 0,1357 gam (M8), 0,0550 gam (M3-5), loại Methamphetamine. Mẫu vật sau giám định được niêm phong, khối lượng: 1,5706 gam (M2), loại Ketamine; 0,9739 gam (M2), 0,7742 gam (M3), 1,2008 gam (M4), 0,1833 gam (M5), 0,0416 gam (M6), 0,2161 gam (M7), 0,0645 gam (M8), 0,0155 gam (M3-5), loại Methamphetamine.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Lê Thị Xuân H và Bạch Văn G đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của H và G phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 30/CT-VKS ngày 09/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Lê Thị Xuân H và Bạch Văn G như sau:
Bị cáo Lê Thị Xuân H bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo Bạch Văn G bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong quá điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến về quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát và nội dung bản Cáo trạng số 30/CT-VKS ngày 09/01/2025.
Tại phần tranh luận:
Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trình bày luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát theo Cáo trạng số 30/CT-VKS ngày 09/01/2025 đối với các bị cáo Lê Thị Xuân H và Bạch Văn G như sau:
Bị cáo Lê Thị Xuân H bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo Bạch Văn G bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lê Thị Xuân H từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2024/HS-ST ngày 28/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương buộc bị cáo phải chấp hành chung của hai bản án là từ 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng đến 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Bạch Văn G từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, tuyên:
* Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus (không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được);
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đỏ (TA1010, không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được);
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu đen (không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được).
* Tịch thu tiêu hủy:
- 03 bì thư niêm phong ghi số 3473/M1/PC09, 3473/M2/PC09, 3473/M3/PC09 có chữ ký của Lê Thị Xuân H (người chứng kiến), chữ ký Đinh Công T3 (bên nhận mẫu), chữ ký Nguyễn Hoàng  (bên giao mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B;
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy;
- 01 sim số 0862349958 (không kiểm tra được số seri);
- 01 sim số 0984971757 (không kiểm tra được số seri);
- 01 sim số 0372833966 (không kiểm tra được số seri).
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, thống nhất với tội danh, điều luật và mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát truy tố và đề nghị.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nên đồng ý với quyết định truy tố của Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, do đó có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 14 giờ ngày 16/7/2024, Lê Thị Xuân H có hành vi mua ma túy của đối tượng tên T2 (không rõ lai lịch) để sử dụng và bán lại kiếm lời. Bạch Văn G đã giúp sức cho H bán ma túy đá cho người khác 01 lần, cụ thể như sau: Khoảng 21 giờ ngày 16/7/2024, tại phòng trọ số F nhà T thuộc khu phố B, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương, G lấy ma túy đá của H bán cho người đàn ông tên P (không rõ lai lịch) 01 đoạn ống hút chứa ma túy đá với giá 200.000 đồng.
Ngoài ra, qua khám xét trên người H và phòng trọ số 6 nhà trọ Trang Thu, lực lượng Công an thu giữ được 1,7908 gam ma túy loại Ketamine và 4,1432 gam ma túy loại Methamphetamine của H cất giấu nhằm mục đích để sử dụng và bán cho người khác.
Hành vi 01 lần bán ma túy cho người khác, tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng và bán cho người khác của bị cáo Lê Thị Xuân H thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Và hành vi 01 lần giúp sức cho Lê Thị Xuân H bán ma túy cho người khác của bị cáo Bạch Văn G thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 30/CT-VKS ngày 09/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, phù hợp với hành vi thực tế mà các bị cáo đã gây ra.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây tác hại xấu đến trật tự công cộng và an toàn xã hội. Việc mua bán trái phép chất ma túy là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội như: Trộm cắp, cướp giật, đặc biệt là nguy cơ lây nhiễm căn bệnh HIV/AIDS qua con đường tiêm chích ma túy. Loại ma túy mà các bị cáo mua bán là Ketamine và M1, đây là loại độc dược gây nghiện, có nhiều tác hại cho sức khỏe con người. Hiện nay, tệ nạn mua bán và hút chích ma túy đang là gánh nặng cho gia đình và xã hội, trong khi Nhà nước không ngừng tuyên truyền giáo dục và vận động toàn xã hội ra sức đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy thì vẫn còn những người vì mục đích tư lợi đã lén lút họat động mua bán trái phép chất ma túy, bất chấp pháp luật và hậu quả gây ra cho xã hội. Do đó, cần phải xét xử các bị cáo thật nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo G không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo H có 01 tiền án về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” do Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm tù vào ngày 28/6/2024. Bị cáo chưa chấp hành xong án phạt tù nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Về nhân thân: Bị cáo Giàu có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, bị cáo H ngoài việc có 01 tiền án, chưa chấp hành, bị cáo còn từng bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ngày 11/8/2020 với mức phạt 12 tháng về hành vi: “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Về tính chất đồng phạm: Các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn. Bị cáo H có vai trò chính, G giúp sức H thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét xử lý các bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.
[4] Đối chiếu với những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ dài để cải tạo và giáo dục trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt của các bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.
[5] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 xe mô tô hiệu Suzuki Satria biển số: 69N1-674.41. Xe này do ông Dương Tính H2 đứng tên đăng ký. Ngày 16/7/2024, ông Dương Tính H2 cho Từ Lê Châu T1 mượn sử dụng làm phương tiện đi lại. T1 điều khiển xe chở H đi chơi, không biết H cất giấu ma túy trong người nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không tạm giữ phương tiện là có căn cứ.
Đối với 03 bì thư được niêm phong ghi số 3473M1/PC09, 3473M2/PC09, 3473M3/PC09 có chữ ký của Lê Thị Xuân H (người chứng kiến), Nguyễn Hoàng  (bên trả mẫu), Đinh Công T3 (bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B bên trong chứa 1,5706 gam (M2), loại Ketamine; 0,9739 gam (M2), 0,7742 gam (M3), 1,2008 gam (M4), 0,1833 gam (M5), 0,0416 gam (M6), 0,2161 gam (M7), 0,0645 gam (M8), 0,0155 gam (M3-5), loại Methamphetamine. Đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ và lưu hành nên cần phải tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 sim số 0862349958 và 01 sim số 0984971757 của Lê Thị Xuân H; 01 sim số 0372833966 của Bạch Văn G. Đây là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Đối với đối tượng Từ Lê Châu T1 đi cùng H: T1 không biết H cất giấu ma túy trong người nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý hình sự. Quá trình điều tra, T1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ cho Công an thành phố B xử lý theo thẩm quyền. Ngày 10/10/2024, Công an thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 65/QĐ-XPVPHC xử phạt Từ Lê Châu T1 với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ.
[7] Đối với người tên T2 (không rõ lai lịch) bán ma túy cho Lê Thị Xuân H, hiện Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi xác định được sẽ xử lý sau là có căn cứ.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Lê Thị Xuân H và Bạch Văn G phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê Thị Xuân H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
Tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2024/HS-ST ngày 28/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương buộc bị cáo phải chấp hành chung của hai bản án là 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ 16/7/2024, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/02/2024 đến ngày 07/02/2024.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Bạch Văn G 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/7/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus (không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được);
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đỏ (TA1010, không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được);
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu đen (không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được).
- - Tịch thu tiêu hủy:
- 03 bì thư niêm phong ghi số 3473/M1/PC09, 3473/M2/PC09, 3473/M3/PC09 có chữ ký của Lê Thị Xuân H (người chứng kiến), chữ ký Đinh Công T3 (bên nhận mẫu), chữ ký Nguyễn Hoàng  (bên giao mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B;
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy;
- 01 sim số 0862349958 (không kiểm tra được số seri);
- 01 sim số 0984971757 (không kiểm tra được số seri);
- 01 sim số 0372833966 (không kiểm tra được số seri).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135 và 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Lê Thị Xuân H và Bạch Văn G, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
(Vật chứng được thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát giữa Công an thị xã B và Chi cục Thi hành án dân thành phố Bến Cát)
Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kiều Oanh |
Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 25/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo H và G phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
