|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2025/HS-ST Ngày: 07-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đình Hưng
Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Đông và bà Phạm Thị Tú Nga.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Thao - Thư ký của Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 285/2024/TLST-HS ngày 25/11/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 302/2024/QĐXXST-HS ngày 24/12/2024, theo Quyết định hoãn phiên toà số 08/2025/HSST-QĐ ngày 08/01/2025 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Đoàn Văn Q (tên gọi khác: T), giới tính: Nam; sinh ngày 03/10/1985 tại tỉnh Bình Định; Nơi thường trú: 1 L, phường T (trước đây là phường L), TP Q, tỉnh Bình Định; Tạm trú: Tổ G, khu phố G, phường B, TP Q, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 02/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn K và bà: Đoàn Thị H (chết); Vợ: Quế Thị Mỹ D, sinh năm 1984, có 02 người con, sinh năm 2013 và năm 2016;
- - Ngày 27/12/2024, bị Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn xử phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (bị cáo có kháng cáo);
- - Ngày 02.4.1997 bị Ủy ban nhân dân tỉnh B ra Quyết định đưa đi Trường G trong thời hạn 24 (hai mươi bốn) tháng.
Tiền án: Ngày 08/6/2021, bị TAND thành phố Quy Nhơn tuyên phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 29/9/2021, bị TAND thành phố Quy Nhơn tuyên phạt 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, chấp hành xong ngày 01/12/2022;
Tiền sự: Ngày 03/8/2023, bị Công an T2 xử phạt 4.000.000 đồng về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác”;
Nhân thân:
Bị bắt tạm giam từ ngày 17/8/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T2; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Họ và tên: Nguyễn Duy C (tên gọi khác: Già), giới tính: Nam; sinh ngày 14/5/1990 tại tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Tổ B, khu phố A (trước đây là khu phố F), phường T (trước đây là phường L), TP. Q, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 02/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn K1 (chết) và bà: Nguyễn Thị H1 (chết);
- - Ngày 27/02/2019, bị TAND thành phố Quy Nhơn tuyên phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 09/01/2020;
- - Ngày 15/3/2021, bị TAND thành phố Quy Nhơn xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 27/11/2021 (tuy nhiên chưa thi hành xong phần án phí).
- - Ngày 29/11/2007, bị TAND tỉnh Bình Định xử phạt 03 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong
- - Ngày 02/7/2020, bị Công an phường T xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”;
- - Ngày 26/9/2024 bị cơ quan CSĐT Công an T2 khởi tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản”.
Tiền án:
Tiền sự: Ngày 26/7/2024, bị Công an phường L xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”;
Nhân thân:
Bị bắt tạm giữ, tạm giam: Ngày 20/9/2024 (trong vụ án khác); Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Bị hại:
- Ông Lê Minh S, sinh năm 1962 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Ông Lê Thành T1, sinh năm 1989 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi cư trú: C P, phường T (trước đây là phường L), TP. Q, tỉnh Bình Định.
Nơi thường trú: 123/5 Trần Cao V, phường T (trước đây là phường L), TP. Q, tỉnh Bình Định.
Chỗ ở hiện nay: C P, phường T (trước đây là phường L), TP. Q, tỉnh Bình Định.
Người làm chứng: Bà Quế Thị Mỹ D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ ngày 17/8/2024, Nguyễn Duy C đi bộ dạo tìm nhà sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đi đến nhà số C P, phường L, thành phố Q, C thấy nhà này có mở đèn sáng nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Cảnh đi vào đường hẻm bên trái ngôi nhà (theo hướng từ ngoài đường nhìn vào nhà) nhìn vào cửa số đang mở thì thấy 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu đen, dung lượng 32GB của ông Lê Thành T1 đang để trên bàn phía trong cửa sổ, cạnh màn hình máy tính. Cảnh quan sát trong phòng thấy người trong nhà đều đang ngủ nên thò tay qua cửa sổ lấy trộm 01 điện thoại di động trên rồi bỏ đi. Khi C quay ra thì gặp Đoàn Văn Q, nói với Q là Cảnh vừa trộm điện thoại. Trên đường đi, C lấy ốp lưng của điện thoại khác gắn vào điện thoại vừa trộm được để che giấu rồi dùng sạc dự phòng mở nguồn điện thoại lên sử dụng. Khoảng 40 phút sau, C bán điện thoại trên cho một người (không rõ lai lịch) mà C gặp ở Trung tâm Thương mại A, phường L, thành phố Q với giá 500.000 đồng, số tiền có được, C đã tiêu xài hết. Cơ quan CSĐT không thu hồi được điện thoại này.
Đến khoảng 04 giờ 15 phút cùng ngày, Đoàn Văn Q đi bộ ngang qua nhà số C P, thành phố Q, thấy cửa sau bên hông nhà mở sẵn nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán. Q thấy cửa bên hông phía sau nhà vẫn để mở nên đi thẳng vào bên trong. Q đi vào trong phòng ngủ (không đóng cửa) lúc này có ông Lê Minh S và ông Lê Thành T1 đang nằm ngủ. Q quan sát trong phòng thấy 01 máy tính xách tay hiệu Dell Vostro 15 3530 màu bạc của ông S đang để cạnh giường và 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi Note 13 của ông T1 đang để dưới sàn nên Q lén lút lấy các tài sản trên rồi bỏ đi. Khoảng 06 giờ 00 cùng ngày, Q đem số tài sản trộm cắp được về cất giấu tại phòng trọ ở Tổ G, khu phố G, phường B, thành phố Q.
Khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, ông S và ông T1 phát hiện bị mất máy tính xách tay và điện thoại di động trên nên đến Công an phường L trình báo sự việc.
Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an T2 đã tạm giữ 01 (một) máy tính xách tay hiệu Dell Vostro 15 3530 màu bạc; Core(TM) i5-1335U 1.30 GHz; Installed RAM: 8.00GB; Device ID: 8059D8FE-EA30-44F1-9019-75AD00909C30; Product ID: 00356-24700-08089-AAOEM, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi Note 13 Pro màu đen, số IMEI: 863357067086900, đã qua sử dụng; 01 (một) mũ lưỡi trai màu đen, phía trước có chữ “CELINE” màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen, phía trước ngực trái có chữ “adidas” màu cam, đã qua sử dụng; 01 đĩa DVD ghi lại hình ảnh của Đoàn Văn Q tại thời điểm xảy ra vụ việc (lưu vào hồ sơ vụ án). Ngày 09/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an T2 đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 máy tính xách tay hiệu Dell Vostro 15 3530 màu bạc cho bị hại Lê Minh S; 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi Note 13 Pro cho bị hại Lê Thành T1.
Về dân sự: Bị hại Lê Minh S đã được nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường gì khác về dân sự; bị hại Lê Thành T1 không yêu cầu bị cáo Nguyễn Duy C bồi thường số tiền 1.150.000 đồng là giá trị điện thoại bị cáo C đã chiếm đoạt.
Tại bản cáo trạng số 285/CT-VKSQN ngày 25/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố bị cáo Đoàn Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Duy C về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các bị cáo Đoàn Văn Q, Nguyễn Duy C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo theo Cáo trạng.
Về trách nhiệm hình sự:
- - Đối với bị cáo Đoàn Văn Q: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
- - Đối với bị cáo Nguyễn Duy C: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 18 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Minh S đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo Đoàn Văn Q bồi thường; bị hại Lê Thành T1 không nhận lại điện thoại bị mất trộm, tuy nhiên không yêu cầu bị cáo Nguyễn Duy C bồi thường số tiền 1.150.000 đồng (theo định giá) nên không xem xét giải quyết.
Xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX tịch thu tiêu huỷ 01 mũ lưỡi trai màu đen và 01 áo thun ngắn tay màu đen thu giữ của các bị cáo, hiện không còn giá trị.
Bị cáo tự bào chữa: Các bị cáo Đoàn Văn Q, Nguyễn Duy C thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.
Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo Đoàn Văn Q, Nguyễn Duy C xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T2, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Tại phiên tòa các bị cáo Đoàn Văn Q, Nguyễn Duy C khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà nên HĐXX có cơ sở để xác định: Vào khoảng 2 giờ sáng ngày 17.8.2024, bị cáo Nguyễn Duy C lén lút chiếm đoạt của anh Lê Thành T1 01 điện thoại Samsung Galaxy J7 Prime màu đen, dung lượng 32GB có trị giá 1.150.000 đồng. Đối với bị cáo Đoàn Văn Q, mặc dù không cùng chung với Nguyễn Duy C trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, khi biết bị cáo Nguyễn Duy C trộm cắp tài sản tại nhà C P, TP ., cũng lén lút đột nhập vào bên trong chiếm đoạt lén lút chiếm đoạt 01 máy tính xách tay màu bạc nhãn hiệu Dell Vostro 15 3530 của ông Lê Minh S và 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi Note 13 Pro màu đen của ông Lê Thành T1 với tổng trị giá là 25.000.000 đồng.
Các bị cáo Đoàn Văn Q, Nguyễn Duy C đã bị Toà án đưa ra xét xử và bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân để tu dưỡng, rèn luyện trở thành công dân tốt, do tham lam, xem thường pháp luật và quyền sở hữu tài sản của người khác, các bị cáo lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong việc quản lý tài sản tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Trong đó, bị cáo Đoàn Văn Q chiếm đoạt tài sản của các bị hại Lê Minh S, Lê Thành T1 có tổng trị giá 25.000.000 đồng nên phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Còn bị cáo Nguyễn Duy C, mặc dù tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại Lê Thành T1 trị giá 1.150.000 đồng (dưới 2.000.000 đông), tuy nhiên bị cáo đã bị Toà án kết án về tội “Trộm cắp tài sản” và chưa được xoá án tích nên phạm tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết “Đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Trong vụ án có 02 bị cáo tham gia, tuy nhiên các bị cáo phạm tội độc lập với nhau, nên phải xử phạt các bị cáo tương xứng với mỗi hành vi mà các bị cáo đã gây ra.
- [3] Hành vi do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, trị an ở địa phương nên phải xử phạt nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
- [4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo Đoàn Văn Q, Nguyễn Duy C thì thấy rằng:
- 4.1 Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân xấu.
- 4.2 Về tình tiết tăng nặng: Tại bản án số 154/2021/HS-ST ngày 29.9.2021 của Toà án nhân dân TP. Quy Nhơn xử phạt bị cáo Đoàn Văn Q tổng cộng 21 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chưa được xoá án tích lại tiếp tục phạm tội, nên lần phạm tội này với tình tiết tăng nặng ‘Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tại bản án số 40/2021/HS-ST ngày 15.3.2021 của Toà án nhân dân TP. Quy Nhơn xử phạt bị cáo Nguyễn Duy C 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chưa được xoá án tích lại tiếp tục phạm tội, tuy nhiên tài sản bị cáo chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng, đây là tình tiết áp dụng để định tội nên không coi là tình tiết tăng nặng để áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Duy C.
- 4.3 Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- [5] Về bồi thường thiệt hại:
- 5.1 Bị hại Lê Minh S đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét giải quyết.
- 5.2 Bị cáo Nguyễn Duy C chiếm đoạt của bị hại Lê Thành T1 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J7 Prime trị giá 1.150.000 đồng, điện thoại không thu hồi được, tuy nhiên bị hại T1 không yêu cầu bị cáo C bồi thường nên HĐXX không xem xét giải quyết.
- [6] Về án phí: Các bị cáo đều bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, nên phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.
- [7] Vấn đề khác: Quá trình điều tra, em Lê Bảo N trình báo bị mất 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 tại nhà số C P, thành phố Q, tuy nhiên các bị cáo Đoàn Văn Q, Nguyễn Duy C không thừa nhận đã lấy chiếc điện thoại này nên không có cơ sở xử lý. Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
- [8] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tại phiên toà, về mức hình phạt của các bị cáo và các phần đề nghị khác phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, áp dụng cho bị cáo Đoàn Văn Q.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, áp dụng cho bị cáo Nguyễn Duy C.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đoàn Văn Q, Nguyễn Duy C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt:
- 2.1 Xử phạt bị cáo Đoàn Văn Q 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/8/2024.
- 2.2 Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy C 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Xử lý vật chứng:
- Án phí: Buộc các bị cáo Đoàn Văn Q, Nguyễn Duy C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) mũ lưỡi trai màu đen, phía trước có chữ “CELINE” màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen, phía trước ngực trái có chữ “adidas” màu cam, đã qua sử dụng.
Theo biên bản giao, nhận ngày 06/02/2025 của Chi cục thi hành án Dân sự TP. Quy Nhơn.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà (Đã kí và đóng dấu) Ngô Đình Hưng |
Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 25/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 2 giờ sáng ngày 17.8.2024, bị cáo Nguyễn Duy C lén lút chiếm đoạt của anh Lê Thành T1 01 điện thoại Samsung Galaxy J7 Prime màu đen, dung lượng 32GB có trị giá 1.150.000 đồng. Đối với bị cáo Đoàn Văn Q, mặc dù không cùng chung với Nguyễn Duy C trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, khi biết bị cáo Nguyễn Duy C trộm cắp tài sản tại nhà C P, TP.Q, cũng lén lút đột nhập vào bên trong chiếm đoạt lén lút chiếm đoạt 01 máy tính xách tay màu bạc nhãn hiệu Dell Vostro 15 3530 của ông Lê Minh S và 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi Note 13 Pro màu đen của ông Lê Thành T1 với tổng trị giá là 25.000.000 đồng.
