|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 25/2025/DS-PT Ngày 07 - 02 - 2025 V/v tranh chấp hợp đồng đổi quyền sử dụng đất và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhiên
Các thẩm phán: Ông Võ Văn Lịnh
Ông Võ Minh Triều
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Xương- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc T - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 313/2024/TLPT-DS ngày 25 tháng 12 năm 2024, về tranh chấp hợp đồng đổi quyền sử dụng đất và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 101/2024/DS-ST ngày 06 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐPT-DS ngày 13 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hồ Minh P, sinh năm 1969; HKTT: khu phố C, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Chỗ ở hiện nay: ấp H I, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
- Bị đơn: Ông Hồ Minh H, sinh năm 1964; địa chỉ: khu phố C, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trương Thị C, sinh năm 1977 ( vợ ông H vắng mặt).
- Chị Hồ Hà P1, sinh năm 2001 (con ông H vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Khu phố C, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trương Thị C, chị Hồ Hà P1: Ông Hồ Minh H, sinh năm 1964, địa chỉ: khu phố C, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, theo văn bản ủy quyền ngày 06/08/2024 (có mặt).
- Người kháng cáo: Ông Hồ Minh H - bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn ông Hồ Minh P trình bày:
Ông P và ông H là hai anh e ruột. Vào năm 1994 giữa ông và ông H hùn nhau, mỗi người 35 chỉ vàng 24 k (vàng cha ruột cho) để nhận chuyển nhượng diện tích đất 22 công tầm 03 mét của bà Dương Thị B. Sau khi nhận chuyển nhượng ông sử dụng được 4 đến 5 năm thì em vợ của ông H sử dụng. Lý do là ông về khu phố C, thị trấn thứ 11, huyện A ngay vị trí nhà ở hiện nay để bán quán. Khoản 1,5 năm (giữa năm 2000) thì ông và ông H có đổi đất với nhau, ông giao cho ông H 11 công (trong số 22 công nhận chuyển nhượng của bà B), ngược lại ông H giao cho ông nền nhà (ngay vị trí tranh chấp hiện nay) chiều ngang 5,5 mét, chiều dài từ lộ đến hậu giáp với đất chị Ngô Thị C1, việc đổi đất không làm giấy tờ gì. Sau khi đổi đất thì ông tiến hành xây dựng nhà ở bằng cột bê tông, vách xây tường gạch, lợp tol (nhà ở hiện nay). Ông sử dụng nhà đất đến năm 2019 thì phát sinh tranh chấp với ông H. Lúc này có hợp gia đình, có đại diện của T1 ấp Trần Hồng T2 dự. Ông H buộc ông đập bỏ ô văng, máng nước của nhà ông (do lấn trên không qua đất ông H) thì ông H mới chịu tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông. Ông đã đập bỏ ô văng, máng nước theo yêu cầu của ông H nhưng ông H vẫn không tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông.
Ông yêu cầu công nhận hợp đồng đổi đất giữa ông với ông H, yêu cầu công nhận diện tích đất chiều ngang 5,5 mét, chiều dài từ lộ đến giáp đất chị C1, yêu cầu ông H cùng gia đình ông H ký các thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông P yêu cầu công nhận hợp đồng đổi đất giữa ông với ông H, yêu cầu công nhận diện tích đất chiều ngang mặt tiền 6,07 mét, chiều ngang mặt hậu 5,5 mét, chiều dài từ lộ đến giáp đất chị C1, yêu cầu ông H cùng gia đình ông H ký các thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông; ông tự nguyện trả cho ông H giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất nhiều hơn chiều ngang 5,5 mét (15,31 m²) là 47.227.000 đồng.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Hồ Minh H trình bày:
Diện tích 22 công đất nói trên ông và ông P có hùn nhau mỗi người 35 chỉ (vàng do cha ruột cho) nhận chuyển nhượng của ông bà Tư B1 (không biết họ) ở ấp H, xã T vào năm 1991 - 1992. Đến năm 2001 - 2002 ông P chuyển nhượng cho người khác bằng 110 chỉ vàng 24K, sau khi chuyển nhượng thì ông P có nói với
ông. Gần đây, vào khoảng năm 2022 ông mới biết là ông P chuyển nhượng đất cho anh Nguyễn Văn N là cháu của ông H và ông P.
Vào khoảng năm 2004 ông cho ông P mượn diện tích đất để xây dựng nhà ở có chiều ngang 5,0 mét, chiều dài từ lộ đến giáp đất chị Ngô Thị C1. Lúc đầu ông P chỉ xây dựng 01 đoạn nhà cột bê tông thì ông nói còn đoạn sau để ông mở rộng trồng cây, nhưng ông P tiếp tục xây dựng nhà cột bằng khung tiền chế (sắt). Việc cho mượn đất không làm giấy tờ gì, chỉ nói miệng.
Toàn bộ thửa đất ông và ông P đang sử dụng hiện nay là vào năm 2000 do cha ông nhận chuyển nhượng của ông Hồ Sỹ T3 có chiều ngang 11 mét, dài 30 mét, giá 25.000.000 đồng. Khoảng 02 tháng sau ông chuyển nhượng thêm chiều ngang 11 mét, chiều dài 30 mét của ông 6 Cước, giá 8.000.000 đồng. Việc ông P xây dựng nhà cột bê tông vách xây tường gạch ông có biết nhưng ông không ý kiến gì.
Sau khi ông P xây dựng nhà ở, ông P có đập phá phần ô văng, máng nước phía trên không. Lý do là ông P xây dựng lấn sang diện tích đất còn lại của ông. Đồng thời, ông P yêu cầu ông tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông P, lúc này ông có ý kiến là ông P đập bỏ phần trên không xong rồi ông mới tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông P, lúc này ông đã đưa giấy chứng nhận QSD đất cho ông P giữ đến nay. Thời gian sau ông không đồng ý tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông P. Lý do là vợ, con trai, con dâu của ông P ứng xử không tốt đối với ông nên ông không đồng ý tách giấy cho ông P và yêu cầu ông P trả lại giấy chứng nhận QSD đất cho ông, ông P không trả mà giao giấy cho con dâu để thế chấp cho cá nhân để vay vốn. Ông xác định ông không đổi đất với ông P, nên ông không chấp nhận yêu cầu của ông P nêu ra.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông H không chấp nhận yêu cầu của ông P. Vì nhằm tạo điều kiện cho ông P nên trước đây ông H có ý định cho ông P nền nhà nói trên, nhưng sau này do cách ứng xử của vợ con ông P đối với ông không tốt nên ông không tiếp tục cho ông P; đối với căn nhà của ông P có trên đất này thì ông H đồng ý trả bằng giá trị lại cho ông P theo Chứng thư định giá số: 4043/CT-BĐS/ĐV ngày 30/05/2024 của Công ty TNHH Đ vượng.
* Người làm chứng bà Hồ Thị B2 trình bày:
Bà B2 là chị ruột của ông H và ông P, ông Hồ Minh H và ông Hồ Minh P có đổi đất với nhau, ông H giao cho ông P 01 nền nhà có chiều ngang bao nhiêu mét bà không nhớ, ở khu phố C, thị trấn T 11; ngược lại ông P giao cho ông H đất nuôi tôm ở Đ, diện tích 1,1 Ha trong tổng diện tích 2,2 Ha do ông H và ông P chuyển nhượng chung và chuyển nhượng của bà Dương Thị B trước đây. Sau khi đổi đất thì ông H chuyển nhượng lại cho anh Nguyễn Văn N là con ruột của bà và
là chấu của ông hà, ông P vào năm 2002, giá 110 chỉ vàng 24k. Khi đó ông P mới tiến hành xây dựng nhà ở như hiện nay.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà B giữ nguyên lời trình bày.
Người làm chứng anh Nguyễn Văn N trình bày:
Ông Hồ Minh H và ông Hồ Minh P là cậu ruột của anh, giữ ông H và ông P có đổi đất với nhau, ông H giao cho ông P 01 nền nhà có chiều ngang bao nhiêu mét anh không nhớ, ở khu phố C, thị trấn T 11; ngược lại ông P giao cho ông H đất nuôi tôm ở Đ, diện tích 1,1 ha, trong tổng diện tích đất là 2,2 ha do ông H và ông P nhận chuyển nhượng của bà Dương Thị B trước đây đất ở ấp H, xã T, huyện A. Sau khi đổi đất thì ông H chuyển nhượng lại cho anh vào năm 2002, giá 110 chỉ vàng 24k. Khi đó ông P mới tiến hành xây dựng nhà ở như hiện nay. Ông H cho là không đổi đất với ông P là không đúng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, anh N giữ nguyên lời trình bày như trên và anh N trình bày bổ sung: Số vàng chuyển nhượng đất là 110 chỉ vàng 24k, ông H nhận trực tiếp là 40 chỉ vàng 24K, anh đưa cho cha ruột ông H 10 chỉ vàng 24K để đi trị bệnh, còn lại trả nợ vay cho Ngân hàng nông nghiệp huyện A thay cho cha ruột ông H là hết 110 chỉ vàng 24k.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 101/2024/DS-ST ngày 06/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang đã xét xử, quyết định:
Không chấp nhận yêu cầu của ông P về công nhận hợp đồng đổi đất giữa ông Hồ Minh P và ông Hồ Minh H;
Công nhận cho ông Hồ Minh P diện tích đất đo thực tế có chiều ngang hướng tây giáp Đường I (điểm 4 - 5) là 6,07 mét, chiều ngang hướng đông giáp đất chị Ngô Thị C1 (điểm 1 - 2) là 5,5 mét, chiều dài hướng nam giáp đất ông Phạm Thanh L (điểm 4 - 3 - 2) là 54,06 mét (kể cả đất hành lang an toàn giao thông), chiều dài hướng bắc giáp đất ông Hồ Minh H (điểm 5 - 1) là 54 mét (kể cả đất hành lang an toàn giao thông), diện tích 312,1m² (bao gồm diện tích đất hành lang an toàn giao thông đường bộ), vị trí đất, thửa đất và các cạnh theo Tờ trích đo địa chính số: TĐ 28-2024 (5 - 37) ngày 02/04/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện A (kèm theo), nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P841951, số vào sổ 000018 ngày 07/09/2000 của Ủy ban nhân dân huyện A cấp cho ông Hồ Minh H, thửa 58-a, tờ bản đồ 1 với tổng diện tích là 490m², trên đất có căn nhà của ông Hồ Minh P. Buộc ông Hồ Minh H, bà Trương Thị C, chị Hồ Hà P1 ký các thủ tục tách thửa, sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hồ Minh P.
Trường hợp ông Hồ Minh H, bà Trương Thị C, chị Hồ Hà P1 không ký các thủ tục tách thửa, sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hồ Minh P
thì ông Hồ Minh P được thi hành theo Bản án, được quyền yêu cầu và kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, Ủy ban nhân dân huyện A thu hồi, điều chỉnh, cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như trên cho ông Hồ Minh P trên cơ sở Bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án, theo đúng quy định của pháp luật về đất đai. Các khoản phí, lệ phí do ông Hồ Minh P phải chịu theo quy định của pháp luật về đất đai.
Ngoài ra bản án còn quyết định về nghĩa vụ chậm thi hành án, chi phí tố tụng về án phí và báo quyền kháng cáo cho đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm.
Ngày 15 tháng 11 năm 2024 bị đơn ông Hồ Minh H có đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm số 101/2024/DS-ST ngày 06/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Yêu cầu cấp phúc thẩm xử sửa bản án sơ thẩm, theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Minh P.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn ông Hồ Minh P yêu cầu sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 101/2024/DS-ST ngày 0611/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Theo hướng ghi nhận sự tự nguyện của ông P trả thêm cho ông H số tiền là 20.000.000 đồng. Tổng cộng bằng 67.227.000 đồng giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất ông P đang sử dụng nhiều hơn diện tích đất thỏa thuận ban đầu là 15,31m².
- Bị đơn ông Hồ Minh H giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tại phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, những người tham gia tố tụng đã thực hiện và chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn ông Hồ Minh H; áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 101/2024/DS-ST ngày 0611/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang, theo hướng ghi nhận sự tự nguyện của ông P trả thêm cho ông H số tiền là 20.000.000 đồng, Tổng cộng bằng 67.227.000 đồng giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất ông P đang sử dụng nhiều hơn diện tích đất thỏa thuận ban đầu là 15,31m². Xác định lại quan hệ pháp luật cho đúng với nội dung của vụ án.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ của nguyên đơn, bị đơn và người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Xét đơn kháng cáo của bị đơn Hồ Minh H về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định tại Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận xem xét giải quyết kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét về quan hệ pháp luật: Theo khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất, còn bị đơn cho rằng bị đơn không có đổi đất với nguyên đơn mà bị đơn trước đây có tặng cho nguyên đơn Quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm xác định chỉ có một quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là chưa đủ. Do đó cấp phúc thẩm xác định lại quan hệ pháp luật đó là: “Tranh chấp hợp đồng đổi quyền sử dụng đất và Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” mới đúng với nội dung vụ án.
[3] Về nội dung vụ án:
Ông Hồ Minh P và ông Hồ Minh H là hai anh em ruột. Ông P đang sử dụng diện tích đất theo đo thực tế có chiều ngang hướng tây giáp Đường I là 6,07 mét, chiều ngang hướng đông giáp đất chị Ngô Thị C1 là 5,50 mét, chiều dài giáp đất ông Phạm Thanh L (tính đến Đường I) là 54,06 mét, chiều dài hướng bắc giáp với nhà đất ông Hồ Minh H (tính đến Đường I) là 54 mét, tổng diện tích là 312,1 m², trong đó có diện tích đất hành lang an toàn giao thông là 72 m², diện tích đất xây dựng nhà ở là 208,7 m², còn lại 31,4 m² chưa xây dựng và đường hẽm giáp với nhà ông L.
Ông P cho rằng, giữa năm 2002 giữa ông và ông H có đổi đất với nhau, ông P giao cho ông H 11 công (trong số 22 công nhận chuyển nhượng của bà B) ở ấp H, xã T, huyện A, ngược lại ông H giao cho ông P một nền nhà có chiều ngang 5,5 mét, chiều dài từ Đường 967 đến giáp với đất chị Ngô Thị C1, sau khi đổi đất thì ông P xây dựng một căn nhà ở đến nay, còn diện tích đất 11 công tầm 03 mét mà ông giao cho ông H thì ông H chuyển nhượng cho anh Nguyễn Văn N vào năm 2002, hiện tại anh N đang sử dụng. Còn ông H thì cho rằng giữa ông và ông P không đổi đất với nhau mà ông có ý định cho ông P 01 nền nhà để ông P xây dựng nhà ở, ông không chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh Nguyễn Văn N. Xét thấy, việc đổi đất giữa ông P và ông H không lập thành Văn B3, ông H không thừa nhận. Tuy ông P có cung cấp người làm chứng là bà Hồ Thị B2 và anh Nguyễn Văn N nhưng những người này chỉ nghe nói lại, không trực tiếp cùng với ông P và ông H thỏa thuận đổi đất với nhau. Do đó, lời trình bày của bà Hồ Thị B2 và anh Nguyễn Văn N là chưa đủ cơ sở để xác định là ông H và ông P có đổi đất với nhau. Vì vậy, lời trình bày của ông P là chưa đầy đủ cơ sở để chấp nhận.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Hồ Minh H thừa nhận vào khoảng năm 2002 ông có cho ông P 01 nền nhà để ông P xây dựng nhà ở, ông P đã nhận đất và xây dựng nhà ở trên diện tích đất này, loại nhà cấp 4, cột bê tông, vách xây tường gạch. Do đó, khi giữa ông P và ông H phát sinh tranh chấp thì vào ngày 15/08/2019 âm lịch gia đình ông P, ông H có lập biên bản họp gia đình (BL 18) thành phần tham dự anh em ruột gồm có: Bà Hồ Thị B2, ông Hồ Minh S, ông Hồ Minh H1, ông Hồ Minh H, ông Hồ Minh P và T1 ấp Trần Hồng T2. Nội dung: “Về phần đất (bao trùm hết cái nhà) từ vách tường lên không gian trên, từ tim lộ vô hết đất nếu không gian lấn qua ông H thì đập bỏ, ông H sẽ giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông P sang tên” và sau khi Ủy ban nhân dân thị trấn T4 11 hòa giải tranh chấp theo yêu cầu của ông H thì ông P đã đập bỏ phần ô văng, máng nước lấn sang trên không phần đất của ông H, đồng thời ông H đã giao bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H cho ông P để giữ để lập thủ tục sang tên cho ông P phần diện tích đất ông P đã xây dựng nhà ở. Xét thấy, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông H và ông P tuy không lập thành văn bản, không có công chứng, chứng thực, chưa hoàn thành về mặt thủ tục theo quy định của pháp luật, nhưng ông H đã giao đất cho ông P xây dựng nhà ở từ năm 2002 đến nay hơn 20 năm, ông H không tranh chấp và không có ý kiến gì và ông H đã giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông P đi tách giấy CNQSD đất; Đồng thời tại phiên tòa sơ thẩm (BL 119) ông H trình bày và thừa nhận “khi đó tôi cho ông P mượn và có ý định cho ông P luôn nên không ngăn cản ông P xây nhà”. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 8, Điều 9 Bộ luật dân sự thì quyền dân sự giữa ông P và ông H được xác lập, do không trái đạo đức xã hội và không trái với quy định của pháp luật. Do đó, cấp sơ thẩm công nhận cho ông P diện tích đất theo đo đạc thực tế 312,1m²(bao gồm diện tích đất hành lang an toàn giao thông đường bộ), buộc ông H cùng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vợ, con của ông H ký các thủ tục tách thửa, sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hồ Minh P là có căn cứ, đúng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông P tự nguyện trả cho ông H giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất ông đang sử dụng nhiều hơn diện tích đất thỏa thuận ban đầu là 15,31m². Theo chứng thư định giá số: 4043/CT-BĐS/ĐV ngày 30/05/2024 của Công ty TNHH Đ vượng thì giá đất mỗi mét vuông là 3.088.000 đồng. Do nhà của ông P đã xây dựng kiên cố, nếu buộc ông P trả lại diện tích đất sử dụng nhiều hơn diện tích đất thỏa thuận ban đầu thì phải đập phá toàn bộ căn nhà của ông P, vì diện tích đất này nằm dọc theo vách tường nhà ông P. Vì vậy, để đảm bảo cho việc sử dụng căn nhà, cũng như sự tồn tại của căn nhà. Cấp sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện của ông P trả cho ông H 47.227.000 đồng (3.088.000đ/1m² x 15,31m²) là
có cơ sở. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm nhận định là ghi nhận sự tự nguyện của ông P nhưng không ghi vào phần quyết định của bản án sơ thẩm là có thiếu sót. Ngoài ra tại phiên tòa phúc thẩm ông P tự nguyện trả thêm cho ông H 20.000.000 đồng, tổng cộng là 67.227.000 đồng. Xét thấy sự tự nguyện của ông P không vi phạm điều cấm, không trái quy định của pháp luật, nên hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của nguyên đơn ông Hồ Minh P.
Tại công văn số: 325/UBND-NC ngày 11/07/2024 của UBND huyện A diện tích đất tranh chấp này người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Do đó, ông P được tiếp tục sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Theo đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông P về công nhận hợp đồng đổi đất giữa ông Hồ Minh P và ông Hồ Minh H là có căn cứ; Cấp sơ thẩm công nhận cho ông Hồ Minh P diện tích đất đo thực tế có chiều ngang hướng tây giáp Đường I (điểm 4 - 5) là 6,07 mét, chiều ngang hướng đông giáp đất chị Ngô Thị C1 (điểm 1 - 2) là 5,5 mét, chiều dài hướng nam giáp đất ông Phạm Thanh L (điểm 4 - 3 - 2) là 54,06 mét (kể cả đất hành lang an toàn giao thông), chiều dài hướng bắc giáp đất ông Hồ Minh H (điểm 5 - 1) là 54 mét (kể cả đất hành lang an toàn giao thông), diện tích 312,1m² (bao gồm diện tích đất hành lang an toàn giao thông đường bộ), vị trí đất, thửa đất và các cạnh theo Tờ trích đo địa chính số: TĐ 28-2024 (5 - 37) ngày 02/04/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện A, tỉnh Kiên Giang. Đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P841951, số vào sổ 000018 ngày 07/09/2000 của Ủy ban nhân dân huyện A cấp cho ông Hồ Minh H, thửa 58-a, tờ bản đồ 1 với tổng diện tích là 490 m², trên đất có căn nhà của ông Hồ Minh P. Buộc ông Hồ Minh H, bà Trương Thị C, chị Hồ Hà P1 ký các thủ tục tách thửa, sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hồ Minh P là phù hợp.
[4] Xét kháng cáo của bị đơn ông Hồ Minh H. Tại phiên tòa phúc thẩm ông H không có cung cấp thêm chứng cứ gì mới để chứng minh là việc kháng cáo của ông là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở để chấp nhận nội dung kháng cáo của ông H như Hội đồng xét xử đã nhận định ở phần trên.
Từ những nhận định nêu trên nên trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất: Không chấp nhận nội dung kháng cáo của ông Hồ Minh H; chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 101/2024/DS-ST ngày 0611/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang, theo hướng ghi nhận sự tự nguyện của ông Hồ Minh P trả lại cho ông Hồ Minh H giá trị 15,31m² đất với số tiền là 67.227.000 đồng.
[5] Về chi phí tố tụng:
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Hồ Minh P chịu toàn bộ chi phí tố tụng số tiền là 9.894.864 đồng (phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.322.864 đồng, theo hóa đơn giá trị gia tăng số: 00000116 ngày 04/04/2024 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên M và phí thẩm định giá tài sản là 7.572.000 đồng, theo hóa đơn giá trị gia tăng số: 00000029 ngày 25/07/2024 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ1). Ông Hồ Minh P nộp tạm ứng xong.
[6] Về án phí:
[6.1] Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu của ông Hồ Minh P được chấp nhận một phần, nên ông Hồ Minh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, ông H là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định.
Buộc ông Hồ Minh P chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005015 ngày 01/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
[6.2] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Kháng cáo của ông Hồ Minh H không được chấp nhận, nên ông H phải phí dân sự phúc thẩm số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Tuy nhiên, ông H là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận nội dung kháng cáo của ông Hồ Minh H.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 101/2024/DS-ST ngày 06/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
Áp dụng Điều 500, Điều 501 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 188, khoản 3 Điều 167 Luật đất đai 2013; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Hồ Minh P về công nhận hợp đồng đổi quyền sử dụng đất giữa ông Hồ Minh P và ông Hồ Minh H;
- Công nhận cho ông Hồ Minh P diện tích đất đo đạc thực tế là 312,1m² (bao gồm diện tích đất hành lang an toàn giao thông đường bộ), đất được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 5 và 6.
Điểm 1 - 2 giáp đất chị Ngô Thị C1 là 5,50 mét; Điểm 2 - 3 giáp đất ông Phạm Thanh L là 42,05 mét; Điểm 3 - 4 giáp đất ông Phạm Thanh L là 12,01 mét; Điểm 4 - 5 giáp đường 967 là 6,07 mét; Điểm 5 - 6 giáp đất ông Hồ Minh H là 12,01 mét; Điểm 6 - 1 giáp đất ông Hồ Minh H là 41,99 mét. Vị trí thửa đất và các cạnh theo Tờ trích đo địa chính số: TĐ 28-2024 (5 - 37) ngày 02/04/2024 của Chi
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện A, tỉnh Kiên Giang (kèm theo), nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P841951, số vào sổ 000018 ngày 07/09/2000 của Ủy ban nhân dân huyện A cấp cho ông Hồ Minh H, thửa 58 - a, tờ bản đồ 1 với tổng diện tích là 490m², đất tọa lạc tại khu vực 3, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, trên đất có căn nhà của ông Hồ Minh P. Buộc ông Hồ Minh H, bà Trương Thị C, chị Hồ Hà P1 ký các thủ tục tách thửa, sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hồ Minh P theo quy định của pháp luật về đất đai.
Trường hợp ông Hồ Minh H, bà Trương Thị C, chị Hồ Hà P1 không ký các thủ tục tách thửa, sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên cho ông Hồ Minh P thì ông Hồ Minh P có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, Ủy ban nhân dân huyện A thu hồi, điều chỉnh, cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên cho ông Hồ Minh P trên cơ sở Bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án, theo đúng quy định của pháp luật về đất đai. Các khoản phí, lệ phí do ông Hồ Minh P phải chịu theo quy định của pháp luật về đất đai.
- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Hồ Minh P trả cho ông Hồ Minh H giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất ông P đang sử dụng nhiều hơn diện tích đất thỏa thuận ban đầu là 15,31m² với số tiến là 67.227.000 đồng (sáu mươi bảy triệu hai trăm hai mươi bảy nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điểu 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
- Về chi phí tố tụng:
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Hồ Minh P chịu toàn bộ chi phí tố tụng số tiền là 9.894.864 đồng (chín triệu tám trăm chín mươi bốn nghìn tám trăm sáu mươi bốn đồng), trong đó: phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.322.864 đồng (hai triệu ba trăm hai mươi hai nghìn tám trăm sáu mươi bốn đồng), theo hóa đơn giá trị gia tăng số: 00000116 ngày 04/04/2024 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên M và chi phí định giá tài sản số tiền là 7.572.000 đồng (bảy triệu năm trăm bảy mươi hai nghìn đồng), theo hóa đơn giá trị gia tăng số: 00000029 ngày 25/07/2024 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ1). Ông Hồ Minh P đã nộp tạm ứng xong.
- Về án phí:
5.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Hồ Minh H là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định.
- Buộc ông Hồ Minh P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005015 ngày 01/12/2023
của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.5.2. Về án phí dân sự phúc thẩm:
- Ông Hồ Minh H là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhiên |
Bản án số 25/2025/DS-PT ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng đổi quyền sử dụng đất và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
- Số bản án: 25/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng đổi quyền sử dụng đất và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông P tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất với ông H
