Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/DS-PT

Ngày: 24-01-2025

V/v: “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, yêu cầu tháo dỡ di dời tài sản trên đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Hà Giang

Các thẩm phán: bà Triệu Thị Luyện và ông Nguyễn Việt Hùng;

Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Ngọc Thương Hiền – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: bà Hà Thị Hải – Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 24 tháng 01 năm 2025, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 250/2024/TLPT-DS ngày 20/11/2024 về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” do bản án dân sự sơ thẩm số 28/2024/DS-ST ngày 20/9/2024 của Toà án nhân huyện S, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 301/2024/QĐ-PT ngày 02/12/2024; Quyết định hoãn phiên toà số 448/2024/QĐ-PT ngày 18/12/2024; Quyết định hoãn phiên toà số 03/2025/QĐ-PT ngày 13/01/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty cổ phần Q; Địa chỉ: L An Khang V, khu đô thị D, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: bà Nguyễn Thị Mai T - Chức vụ: nhân viên công ty (có mặt);

Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Văn B- Công ty L1, Đoàn Luật sư tỉnh Q (vắng mặt);

Địa chỉ: số F, phố H, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

Bị đơn: ông Nông Văn M, sinh năm 1959 (có mặt); bà Vũ Thị N, sinh năm 1959 (có mặt);

Địa chỉ: thôn C, xã C, huyện S, tỉnh Bắc Giang;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông M, bà N: Luật sư Nguyễn Duy T1 - Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B (vắng mặt);

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH một thành viên C; Địa chỉ: thôn C, xã C, huyện S, tỉnh Bắc Giang;

Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Đức H - Chức vụ: Giám đốc; Địa chỉ cư trú: thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên (có mặt).

Người kháng cáo: Công ty cổ phần Q là nguyên đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án dân sự sơ thẩm số 28/2024/DS-ST ngày 20/9/2024 của Toà án nhân huyện S thì nội dung vụ án như sau:

Nguyên đơn - Công ty cổ phần Q trình bày: ngày 28/04/2019, Công ty TNHH MTV C (gọi tắt là Công ty C) đã ký kết Hợp đồng hợp tác kinh doanh với Công ty cổ phần Q (gọi tắt là Công ty Q) với nội dung: Hai bên nhất trí cùng nhau hợp tác kinh doanh, chế biến lâm sản, dịch vụ vận tải, hợp tác đầu tư thành lập nhà máy sản xuất chế biến lâm sản tại địa điểm mà Công ty C đã được UBND huyện S chấp thuận chủ trương đầu tư xây dựng điểm thu mua, sơ chế thô gỗ rừng trồng theo Văn bản số 64/UBND-KT, ngày 09/07/2014, xưởng sản xuất tại lô đất số 35, khoảnh C, thôn C, xã C, huyện S, tỉnh Bắc Giang trong thời hạn 12 năm (đến năm 2026).

Thực hiện thoả thuận tại Hợp đồng hợp tác kinh doanh ngày 28/04/2019 với Công ty C, Công ty Q đã đầu tư hàng chục tỷ đồng để xây dựng 02 nhà xưởng có diện tích 10.000m², nhiều gian nhà văn phòng và mua sắm các trang thiết bị, máy móc...để phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh...Theo hợp đồng này, ngoài việc góp vốn bằng tiền mặt, Công ty 1945 còn góp vốn với Công ty Q bằng quyền thuê diện tích đất 16.000m² tại lô 35, khoảnh C, thôn C, xã C, huyện S, tỉnh Bắc Giang để xây dựng nhà xưởng sản xuất chế biến gỗ rừng trồng, sản xuất viên nén.

Ngày 28/08/2022, Công ty Q và Công ty TNHH H1 ký kết Hợp đồng liên kết kinh doanh số 08/HPBG với nội dung hợp tác cùng sản xuất viên nén tại các nhà xưởng nằm trên diện tích 16.000m² ở lô 35, khoảnh 3, xóm C, xã C, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Trong đó, Công ty TNHH H1 cam kết lợi nhuận và đã chi trả hàng tháng cho Công ty Q là 250.000.000 đồng/tháng.

Tuy nhiên, thời gian trước khi Công ty Q gửi đơn khởi kiện, gia đình ông Nông Văn M liên tục có những hành vi vi phạm pháp luật, gây khó khăn, cản trở hoạt động kinh doanh của Công ty Q và các đơn vị cùng hợp tác, ví dụ như: ông Nông Văn M và bà Vũ Thị N yêu cầu Công ty TNHH H1, hoàn trả mặt bằng tại lô C, khoảnh 3, xóm C, xã C, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Đồng thời gia đình ông M dẫn người đem theo xe ba gác, cưa máy, dao đến chặt phá, huỷ hoại tài sản, nhà xưởng của Công ty Q. Thậm chí, không dừng lại ở đó, vợ chồng ông M, bà N còn cho thuê xe đổ đất chặn lối đi duy nhất vào nhà xưởng của Công ty Q.

Bởi vì hành vi quấy rối của ông M, bà N nên mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Q bị đình trệ, không thể thực hiện, các đơn hàng đều bị chậm. Đồng thời, Công ty TNHH H1 đã yêu cầu chấm dứt Hợp đồng liên kết kinh doanh số 08/HPBG ký ngày 22/08/2022 với Công ty Q, dẫn đến Công ty Q bị thiệt hại rất lớn về kinh tế cũng như uy tín trên thương trường. Hậu quả là 02 nhà xưởng có diện tích gần 10.000m²của Công ty Q có hàng chục, hàng trăm người lao động với hoạt động sản xuất kinh doanh đã diễn ra đều đặn thì đến nay phải cho người lao động nghỉ toàn bộ, thanh lý tài sản.

Vì vậy, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình, Công ty Q yêu cầu Toà xem xét giải quyết: buộc ông Nông Văn M và bà Vũ Thị N phải bồi thường thiệt hại cho Công ty Q số tiền là 750.000.000 đồng, tương đương với 03 tháng lợi nhuận hoạt động khi còn hợp tác với Công ty TNHH H1 (kể từ ngày 01/09/2023 đến ngày 31/11/2023).

Đối với yêu cầu phản tố của bà Vũ Thị N yêu cầu Công ty Q di dời tài sản trên đất như Nhà xưởng diện tích 3.646m², 01 nhà cấp 04 tường gạch lợp tôn; 02 phễu trút mùn; 02 hộp đóng điện; 01 trạm biến áp điện 2000KVA-35/0,4KV để trả lại đất cho gia đình ông M, bà N quản lý, sử dụng thì Công ty Q không đồng ý; vì nội dung phản tố không liên quan đến nội dung khởi kiện của Công ty Q và cũng không bù trừ nghĩa vụ đối với yêu cầu khởi kiện nên không thể xác định là yêu cầu phản tố được nên không chấp nhận. Ngoài ra Công ty không có yêu cầu gì khác.

Bị đơn ông M, bà N trình bày: gia đình ông bà có 01 lô đất lâm nghiệp, diện tích 2ha thuộc lô 35, khoảnh 3, thôn C, xã C, huyện S đã được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2014, Công ty 1945 có nhu cầu thuê đất để làm nhà xưởng chế biến lâm sản. Do đó, gia đình ông bà cho thuê từ tháng 6 năm 2014 đến ngày 03 tháng 6 năm 2026 theo như hợp đồng ký kết. Tuy nhiên, đến năm 2021 do phía Công ty C không làm ăn nữa nên đến ngày 06/02/2023 hai bên cùng nhau thỏa thuận ký kết thanh lý hợp đồng và có xác nhận của xã C. Bên Công ty 1945 đã trả lại toàn bộ diện tích đất đã thuê cho gia đình ông bà; tài sản trên đất của Công ty C gồm 01 nhà xưởng, 01 nhà điều hành, 01 nhà bảo vệ, 01 bàn cân, 01 cổng sắt và 1 số tài sản khác để lại cho gia đình ông bà quản lý, sử dụng; gia đình ông bà đã trả thanh toán giá trị trả bằng tiền cho Công ty C là 800.000.000 đồng. Gia đình ông bà đã quản lý tài sản của Công ty C từ đó cho đến nay không có vướng mắc gì. Quá trình gia đình nhận đất và tài sản do Công ty C bàn giao ông bà không biết việc Công ty C ký kết hợp đồng hợp tác với Phía Công ty Q nên gia đình không nắm được.

Ngoài tài sản của Công ty C đã bán cho gia đình ông bà thì trên đất của gia đình còn có 01 nhà xưởng chế biến lâm sản làm viên nén của Công ty Q diện tích 3.646m², 01 nhà cấp 04 tường gạch lợp tôn, 02 phễu trút mùn, 02 hộp đóng diện, 01 trạm biến áp điện 2000KVA-35/0,4KV. Gia đình ông bà đã nhiều lần yêu cầu Công ty Q phải tháo dỡ, di dời toàn bộ nhà xưởng và tài sản trên đất để trả lại đất cho gia đình ông bà quản lý, sử dụng nhưng Công ty Q không thực hiện.

Đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty Q yêu cầu gia đình ông bà phải bồi thường thiệt hại cho Công ty số tiền là 750.000.000 đồng, ông bà không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Q đưa ra. Ngoài ra ông bà yêu cầu Công ty Q phải tháo dỡ, di dời toàn bộ 01 nhà xưởng diện tích 3.646m², 01 nhà cấp 04 tường gạch lợp tôn, 02 phễu trút mùn, 02 hộp đóng diện, 01 trạm biến áp điện 2000KVA-35/0,4KV để trả lại đất cho gia đình ông bà quản lý, sử dụng. Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH một thành viên C do ông Nguyễn Đức H đại diện trình bày: gia đình ông M, bà N có 01 thửa đất lâm nghiệp, diện tích 02ha, lô 35, khoảnh 3, thôn C, xã C, huyện S đã được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2014, Công ty 1945 có nhu cầu thuê đất để làm nhà xưởng chế biến lâm sản nên Công ty C cùng gia đình ông M có ký hợp đồng thuê đất, thời hạn thuê từ tháng 6 năm 2014 đến ngày 03 tháng 6 năm 2026. Tuy nhiên, đến năm 2021 do làm ăn khó khăn nên phía Công ty C không kinh doanh nữa, ngày 06/02/2023 Công ty C với gia đình ông M, bà N cùng nhau thỏa thuận ký kết thanh lý hợp đồng và có xác nhận của xã C. Bên Công ty C trả lại toàn bộ diện tích đất đã thuê cho gia đình ông M, bà N; tài sản trên đất của Công ty C có 01 nhà xưởng, 01 nhà điều hành, 01 nhà bảo vệ, 01 bốt điện, 01 bàn cân, 01 cổng sắt và 1 số tài sản khác để lại cho gia đình ông M quản lý, sử dụng và gia đình ông M đã trả thanh toán giá trị bằng tiền cho Công ty là 800.000.000 đồng, quá trình giao đất, tài sản trên đất và tiền giữa gia đình ông M với Công ty 1945 đến nay không có vướng mắc gì.

Do Công ty 1945 làm ăn khó khăn và Công ty Q có nhu cầu thuê lại đất và nhà xưởng; ngày 28/4/2019, giữa Công ty C cho Công ty Q có ký kết hợp đồng với nhau, công Ty 1945 cho Công ty Q thuê lại mặt bằng và nhà xưởng (01 nhà xưởng diện tích khoảng 2.500m2 và 01 nhà xưởng khoảng 300m²); thời gian thuê từ ngày 28/4/2019 đến ngày 03/6/2026, giá cho thuê là 40.000.000đ/tháng; hình thức thuê là theo năm một, khi nào Công ty Q nộp tiền cho thuê đất trước hàng năm thì Công ty C lại ký gia hạn cho thuê đất, nhà xưởng. Sau khi ký kết hợp đồng và bàn giao đất, nhà xưởng cho Công ty Q thì Công ty Q đã tiếp tục thực hiện chế biến lâm sản. Theo như hợp đồng thì Công ty Q phải trả cho Công ty C tiền thuê là 40.000.000đ/tháng, Công ty Q đã trả tiền thuê đất, nhà xưởng hàng tháng cho Công ty 1945 đến hết tháng 4/2021. Do công ty Q không tiếp tục nộp tiền thuê đất từ tháng 5/2021 nên Công ty C nhiều lần yêu cầu Công ty Q nộp nhưng Công ty Q nại ra mọi lý do để chây ỳ không nộp. Do đó, Công ty 1945 đã dừng cho thuê đất, nhà Xưởng với Công ty Q và yêu cầu Công ty Q trả lại đất, nhà xưởng nhưng họ không trả và mà cố tình vẫn quản lý, sử dụng. Xuất phát từ Công ty Q không tiếp tục nộp trả tiền thuê đất và nhà xưởng, không trả lại đất, nhà xưởng nên ngày 06/02/2023 giữa Công ty C và gia đình ông M đã ký thanh lý hợp đồng thuê đất. Khi Công ty 1945 thanh lý hợp đồng với gia đình ông M thì Công ty có thông báo bằng miệng cho Công ty Q được biết. Sau khi thuê lại đất, nhà Xưởng thì Công ty Q có mở rộng làm thêm 01 xưởng sản xuất khoảng 2.000m². Nay Công ty Q khởi kiện yêu cầu gia đình ông M, bà N phải bồi thường thiệt hại số tiền là 750.000.000 đông và yêu cầu phản tố của bà N, yêu cầu Công Ty Q di dời nhà xường và các tài sản khác trên đất ông đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Ngoài ra ông không có yêu cầu gì khác.

Kết quả xem xét, thẩm định: 01 nhà xưởng cột sắt, lợp ngói diện tích 3.646m², 01 nhà tạm cấp 04 tường gạch lợp tôn diện tích 21,2m², 02 phễu trút mùn, 02 hộp đóng diện, 01 trạm biến áp điện 2000KVA-35/0,4KV Công ty cổ phần Q nằm trên diện tích đất 02ha, thuộc lô 35, khoảnh 3, thôn C, xã C, huyện S của gia đình ông Nông Văn M, bà Vũ Thị N

Với nội nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 28/2024/DS-ST ngà y 20/9/2024 của Toà án nhân huyện S đã căn cứ vào Điều 584, Điều 585 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự 2015. Xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần Q yêu cầu ông Nông Văn M, bà Vũ Thị N phải bồi thường số tiền là 750.000.000 đồng (B1 trăm năm mươi triệu đồng chẵn).
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Vũ Thị N; buộc Công ty cổ phần Q phải tháo dỡ di dời toàn bộ 01 nhà xưởng cột sắt lợp mái tôn diện tích 3.646m², 01 nhà tạm cấp 04 tường gạch lợp tôn diện tích 21,2m², 02 phễu trút mùn, 02 hộp đóng điện, 01 trạm biến áp điện 2000KVA-35/0,4KV nằm trên diện tích đất 02ha, thuộc lô 35, khoảnh 3, thôn C, xã C, huyện S, tỉnh Bắc Giang của gia đình ông Nông Văn M, bà Vũ Thị N.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các bên đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 31/10/2024, Công ty cổ phần Q kháng cáo bản án, đề nghị cấp phúc huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo; bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố. Các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Nguyên đơn trình bày tranh luận bản án sơ thẩm xét xử không khách quan, nhận định không toàn diện, không đúng các chứng cứ có trong vụ án, có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng, không xác minh, thu thập đầy đủ chứng cứ. Tuy giữa Công ty Q và ông M, bà L không có hợp đồng thuê đất nhưng giữa Công ty Q và Công ty C vẫn còn hợp đồng hợp tác có hiệu lực nên chúng tôi vẫn có quyền sử dụng đất, việc ông M, bà L tự ý đổ đất ngăn cản hoạt động của Công ty Q là vi phạm pháp luật, gây thiệt hại cho Công ty Q nên phải bồi thường số tiền như yêu cầu của Nguyên đơn là có căn cứ. Toà án sơ thẩm giải quyết vượt quá yêu cầu phản tố của bị đơn vì theo thông báo thụ lý yêu cầu phản tố thì bị đơn chỉ yêu cầu nguyên đơn di dởi 01 nhà xưởng nhưng bản án lại yêu cầu nguyên đơn di dời một số tài sản khác ngoài nhà xưởng, trong đơn phản tố bà L không có yêu cầu các tài sản này. Ngoài ra cấp sơ thẩm còn có vi phạm trong xem xét thẩm định tại chỗ vì biên bản không mô tả rõ hiện trường, tài sản nằm ở đâu, vị trí nào, không ghi nhận, xác định các tài sản khác trên đất. Vì vậy đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, huỷ bản án sơ thẩm để xử sơ thẩm lại.

Bị đơn bà L trình bày tranh luận: bà không đồng ý vì không biết Công ty Q là ai, chưa khi nào được biết Công ty Q hợp tác với Công ty C. Giữa gia đình và Công ty C đã thanh lý hợp đồng nên không có quyền sử dụng đất của gia đình bà nữa. Khi này gia đình mới biết Công ty Q có tài sản là nhà xưởng và một số tài sản như bản án sơ thẩm xác định trên đất của gia đình tôi nên đã yêu cầu di dời nhưng không được. Gia đình bà mới đổ đất từ tháng 10/2024 không phải thời điểm như bà T trình bày nên không có gây thiệt hại cho ai cả. Bà không nhất trí yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của nguyên đơn.

Ông M đồng ý quan điểm tranh luận của bà L không bổ sung gì thêm.

Đại diện Công ty C không tranh luận gì.

Các đương sự giữ nguyên quan điểm, không ai tranh luận gì thêm.

Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa và tại phiên tòa, Thẩm phán, HĐXX, Thư ký đã thực hiện đúng, đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS), nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quyền nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp hành đúng quy. Sau khi xem xét yêu cầu kháng cáo của Công ty cổ phần Q, phân tích nội dung, các tình tiết của vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS không chấp nhận kháng cáo của Công ty cổ phần Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm, Công ty cổ phần Q phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: tại phiên toà, HĐXX có nhận được đơn đề nghị hoãn phiên toà của Luật sư B là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn vì trùng lịch phiên toà khác. Sau khi nghe ý kiến của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, HĐXX thấy kèm theo đơn đề nghị hoãn phiên toà của Luật sư B là Quyết định đưa vụ án ra xét xử của Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội ngày 17/01/2025 mở phiên toà lần đầu ngày 24/01/2025 và Công ty L1 có 02 Luật sư tham gia bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đương sự trong vụ án này. Phiên toà hôm nay là phiên toà lần thứ ba xét xử vụ án. Việc Luật sư B vắng mặt và đề nghị hoãn phiên toà là không có căn cứ nên không được chấp nhận. HĐXX quyết định tiếp tục xét xử vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 296 của BLTTDS.

Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn, HĐXX thấy:

[2] Các đương sự đều thừa nhận: gia đình ông M, bà N có 01 lô đất lâm nghiệp, diện tích 2ha thuộc lô 35, khoảnh 3, thôn C, xã C, huyện S đã được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2014, gia đình ông M đã cho Công ty C thuê đất để làm nhà xưởng chế biến lâm sản, thời hạn thuê từ tháng 6 năm 2014 đến ngày 03 tháng 6 năm 2026, hai bên có lập hợp đồng ký kết với nhau, giá thuê do hai bên thỏa thuận. Tuy nhiên, đến năm 2021, phía Công ty C không làm ăn nữa nên đến ngày 06/02/2021 hai bên cùng nhau thỏa thuận ký kết thanh lý hợp đồng và có xác nhận của xã C. Bên Công ty 1945 đã trả lại toàn bộ diện tích đất đã thuê cho gia đình ông M và thanh lý tài sản không có vướng mắc gì.

[3] Quá trình thuê đất kinh doanh đến ngày 28/4/2019, Công ty C và Công ty Q có ký kết hợp đồng thuê lại mặt bằng và nhà xưởng, thời gian thuê từ ngày 28/4/2019 đến ngày 03/6/2026, giá thuê và thời hạn thuê theo thoả thuận; quá trình hai bên ký kết hợp đồng gia đình ông M không biết. Sau khi ký kết hợp đồng và bàn giao đất, nhà xưởng Công ty Q đã tiếp tục thực hiện chế biến lâm sản. Do công ty Q không tiếp tục nộp tiền thuê đất từ tháng 5/2021 nên Công ty C đã dừng cho thuê đất, nhà Xưởng với Công ty Q. Gia đình ông M, bà N đã nhiều lần yêu cầu Công ty Q phải tháo dỡ, di dời toàn bộ nhà xưởng và tài sản trên đất để trả lại đất cho gia đình ông M, bà N quản lý, sử dụng nhưng Công ty Q không thực hiện.

[4] Công ty Q cho rằng ông M, bà N có hành vi quấy rối nên mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Q bị đình trệ, không thể thực hiện, các đơn hàng đều bị chậm; Công ty TNHH H1 đã chấm dứt Hợp đồng liên kết kinh doanh với Công ty Q, dẫn đến việc Đơn vị Hưng P bị thiệt hại rất lớn về kinh tế cũng như uy tín trên thương trường. Công ty Q trình bày như trên nhưng không đưa ra được căn cứ để chứng minh.

[5] Giữa Công ty Q với ông M, bà N không ký kết bất kỳ hợp đồng thuê đất nào, khi Công ty 1945 không thuê đất kinh doanh nữa thì đã thanh lý hợp đồng với gia đình ông M, quá trình thanh lý Công ty C đã thông báo cho Công ty Q được biết. Tại Điều 3 phần II Hợp đồng thuê đất giữa Công ty C với gia đình ông M đã thể hiện là bên Công ty C trong quá trình thuê đất không được cho thuê lại, việc Công ty Q ký kết hợp đồng với Công ty C thì cũng không thông báo hay có ý kiến gì cho gia đình ông M.

Việc toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Q yêu cầu ông M, bà N phải bồi thường số tiền thiệt hại 750.000.000đ là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[6] Về yêu cầu phản tố của bị đơn bà N yêu cầu Công ty Q tháo dỡ di dời tài sản trên đất: ông M, bà N cho rằng không cho Công ty Q thuê đất, không biết việc Công ty C ký kết hợp đồng hợp tác với Phía Công ty Q. Công ty Q trình bày đầu tư làm nhà xưởng trên đất của gia đình ông M, bà N. Công ty C khẳng định việc xây dựng nhà xưởng và tài sản trên của Công ty Q do Công ty C trực tiếp xây dựng, tạo lập, Công ty Q chỉ bỏ vốn ra, Công ty C đồng ý với yêu cầu độc lập của bà L. HĐXX thấy, giữa Công ty Q và ông M, bà L không có ký kết bất kỳ hợp đồng nào giữa hai bên, việc ký kết hợp đồng giữa Công ty C với gia đình ông M, bà N không có liên quan gì đến Công ty Q. Do đó Công ty Q đưa ra ý kiến không tháo dỡ di dời tài sản trên đất theo yêu cầu ông M, bà N là không có căn cứ. Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu độc lập của bà N, buộc Công ty cổ phần Q phải tháo dỡ di dời toàn bộ 01 nhà xưởng cột sắt, lợp mái tôn diện tích 3.646m², 01 nhà tạm cấp 04 tường gạch lợp tôn diện tích 21,2m², 02 phễu trút mùn, 02 hộp đóng điện, 01 trạm biến áp điện 2000KVA-35/0,4KV nằm trên diện tích đất 02ha, thuộc lô 35, khoảnh 3, thôn C, xã C, huyện S của gia đình bà Vũ Thị N là có căn cứ.

[7] Tại cấp phúc thẩm nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì khác có giá trị chứng minh cho yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của mình nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của Công ty cổ phần Q. HĐXX thấy cần giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 28/2024/DS-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân huyện S, tỉnh Bắc Giang như đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tại phiên toà.

[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo của Công ty cổ phần Q không được chấp nhận nên Công ty cổ phần Q phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 313 của Bộ luật tố tụng dân sự. Xử: không chấp nhận kháng cáo của Công ty cổ phần Q, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 28/2024/DS-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân huyện S, tỉnh Bắc Giang.
  2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Công ty cổ phần Q phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0008603 ngày 31/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sơn Động.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - TAND, chi cục THADS cấp sơ thẩm;
  • - Cổng thông tin điện tử TAND;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hà Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/DS-PT ngày 24/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang về tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, yêu cầu tháo dỡ di dời tài sản trên đất

  • Số bản án: 25/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, yêu cầu tháo dỡ di dời tài sản trên đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger