trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 25/2025/HS-ST

Ngày: 23-01-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Tuấn Đạt và bà Trần Thị Yến Nhi

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Khương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 06/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:

1/ Phan Thị Ngọc T (Tên gọi khác: T1) – sinh năm 1988, tại Đồng Nai

Nơi cư trú: Ấp P, xã P (xã P cũ), huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Bá M – sinh năm 1958 (đã chết) và bà Nguyễn Thị D – sinh năm 1960; Có chồng là Nguyễn Thịnh T2 – sinh năm 1980; Có 01 (Một) con, sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/11/2024 đến ngày 08/11/2024; Bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/11/2024 đến nay; hiện đang tại ngoại. (Có mặt)

2/ Nguyễn Thị S – sinh năm 1969, tại Đồng Nai

Nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Quang D1 – sinh năm 1942 và bà Nguyễn Thị S1 – sinh năm 1945; Có chồng là Nguyễn Văn T3 – sinh năm 1969; Có 03 (Ba) con, lớn nhất sinh năm 1992 và nhỏ nhất sinh năm 1998; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/10/2024 đến ngày 17/10/2024; Bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/10/2024 đến nay; hiện đang tại ngoại. (Có mặt)

3/ Phạm Anh D2 – sinh năm 1970, tại Đồng Nai

Nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Thanh Đ – sinh năm 1945 (đã chết) và bà Phan Thị L – sinh năm 1948; Có vợ là Huỳnh Ngọc T4 – sinh năm 1971; Có 03 (Ba) con, lớn nhất sinh năm 1995 và nhỏ nhất sinh năm 1999; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/10/2024 đến ngày 17/10/2024; Bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/10/2024 đến nay; hiện đang tại ngoại. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 08/10/2024, Công an huyện T phát hiện bắt quả tang đối tượng Nguyễn Thị S đang có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức ghi lô, đề tại nhà riêng thuộc ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đông Nai.

Tang vật thu giữ gồm: 01 cuốn sổ bên trong ghi số lô đề ngày 08/10/2024; 01 tờ phơi đề ghi số lô đề ngày 19/9/2024 và 01 điện thoại di động Samsung màu xanh, 01 điện thoại di động Samsung màu đen.

Quá trình điều tra làm rõ:

Do muốn kiếm tiền tiêu xài nên Nguyễn Thị S bắt đầu đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức ghi lô, đề cho các con bạc bằng cách nhắn tin hoặc gọi điện qua số điện thoại 0523.327.xxx của S sau đó S tập hợp, ghi ra sổ rồi dùng tài khoản zalo tên “Thêm Nguyễn” được đăng kí bằng số điện thoại trên chuyển toàn bộ phơi đề cho Phan Thị Ngọc T qua tài khoản zalo tên “Bé B” được đăng kí bằng số điện thoại 0345.248.xxx để hưởng hoa hồng. Hằng ngày, sau khi có kết quả xổ số của công ty X kiến thiết miền N và miền B, mỗi ngày sẽ có một công ty xổ số khác nhau mở thưởng, thì Phan Thị Ngọc T và Nguyễn Thị S sẽ căn cứ vào kết quả mở thưởng để trả tiền đánh bạc cho người chơi.

Phan Thị Ngọc T; Nguyễn Thị S và những người chơi thỏa thuận các hình thức chơi gồm: số “đá” gồm 02 cặp số, 03 cặp số, 04 cặp số, mỗi cặp 02 con số, kết quả thắng thua dựa vào 02 số cuối của tất cả các giải, trong đó có ít nhất 02 cặp số trùng trong các giải trùng với cặp số mà người chơi chọn thì thắng; “bao lô” hay còn gọi là “dọc”, gồm bao lô 02 con số và bao lô 03 con số, trong đó bao lô 02 con số kết quả thắng thua dựa vào 02 số cuối của tất cả các giải, bao lô 03 con số kết quả thắng thua dựa vào 03 số cuối của tất cả các giải từ giải đặc biệt đến giải bảy; “xỉu chủ” gồm 03 con số kết quả thắng thua dựa vào 03 số cuối của giải bảy và 03 số cuối giải giải đặc biệt; “đầu – đuôi” gồm 02 con số kết quả thắng thua dựa vào 02 số cuối của giải đặc biệt và giải tám.

Về tỉ lệ cá cược như sau: hình thức chơi số “đá” 02 cặp số có mức thắng cược là 1.000 đồng ăn 700.000 đồng; “xỉu chủ” và “bao lô” 03 con số có mức thắng cược là 1.000 đồng ăn 600.000 đồng, ở các hình thức còn lại thì có mức thắng cược là 1.000 đồng ăn 70.000 đồng.

Theo đó, ngày 19/9/2024 Phạm Anh D2 sử dụng số điện thoại 0918.984.xxx gọi điện cho Nguyễn Thị S thỏa thuận đánh bạc bằnng hình thức ghi lô đề chọn kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết tỉnh Tây Ninh và xổ số miền bắc ngày 19/9/2024 để trả thưởng với tổng số tiền đánh bạc mà các đối tượng sử dụng là 12.080.000 đồng (mười hai triệu không trăm tám mươi nghìn đồng). Sau khi được Nguyễn Thị S trừ hoa hồng thì số tiền D2 phải trả cho S thực tế là 9.080.000 đồng (chín triệu không trăm tám mươi nghìn đồng). Đối chiếu kết quả, Phạm Anh D2 không trúng thưởng số lô đề nào.

Trong các lần nhận ghi đề cho các con bạc, Nguyễn Thị S đều đã chuyển toàn bộ phơi đề cho Phan Thị Ngọc T và hưởng hoa hồng tổng số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Tuy nhiên, Nguyễn Thị S đang cho các con bạc nợ tiền đánh lô đề nên chưa chuyển tiền đánh bạc lại cho Phan Thị Ngọc T.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, Phan Thị Ngọc T, Nguyễn Thị S và Phạm Anh D2 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Theo Cáo trạng số 23/CT-VKSTP-ĐN ngày 03/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú: Truy tố các bị cáo Phan Thị Ngọc T, Nguyễn Thị S và Phạm Anh D2 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú thực hiện quyền công tố đã luận tội, tranh luận, phân tích dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của các bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 35, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo về tội “Đánh bạc” với mức án:

  • Bị cáo Phan Thị Ngọc T từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng;
  • Bị cáo Nguyễn Thị S từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng;
  • Bị cáo Phạm Anh D2 từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng;

Về biện pháp tư pháp: Đối với 01 tờ phơi đề ghi số lô đề ngày 08/10/2024 và 01 tờ phơi đề ghi số lô đề ngày 19/9/2024 là tài liệu, chứng cứ liên quan đề nghị lưu hồ sơ vụ án. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, có thẻ sim số 0523.327.255, 01 điện thoại Nokia màu đen, có thẻ sim số 0918.984.186 và 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh, có thẻ sim số 0345.248.005 thu giữ của Nguyễn Thị S, Phạm Anh D2 và Phan Thị Ngọc T là công cụ, phương tiện dùng vào mục đích đánh bạc đề nghị tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước. Đối với tài sản, đồ vật, tài liệu khác không liên quan đến tội phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trao trả cho chủ sở hữu nên không đề nghị xem xét. Đối với số tiền 12.080.000 đồng (mười hai triệu không trăm tám mươi nghìn đồng), D2 chưa trả cho S nhưng là số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc nên đề nghị tuyên D2 phải nộp sung công quỹ Nhà nước.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, đồng ý với tội danh, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị.

Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thức được hành vi là vi phạm pháp luật, xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú:

Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Tại phiên tòa, các bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:

Vào ngày 19/9/2024, tại ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Phan Thị Ngọc T, Nguyễn Thị S và Phạm Anh D2 đã có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức ghi số lô, số đề với tổng số tiền 12.080.000 đồng (Mười hai triệu không trăm tám mươi nghìn đồng).

Hành vi của Phan Thị Ngọc T, Nguyễn Thị S và Phạm Anh D2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã viện dẫn và truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra còn xem xét các bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự. Các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Căn cứ quyết định hình phạt:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an xã hội tại địa phương. Đặc biệt, trong thời điểm hiện nay, tệ nạn đánh bạc diễn ra ngày càng phức tạp và là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng của các nhóm tội phạm khác. Các bị cáo là người đã thành niên nhận thức đầy đủ về hành vi của mình, đã thực hiện hành vi đánh bạc bất hợp pháp.

Đối với hành vi đánh bạc, đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, thống nhất ý chí cùng thực hiện hành vi phạm tội, với lỗi cố ý. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét đánh giá tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội và vai trò của từng người đồng phạm, số tiền đánh bạc của từng bị cáo nhằm cá thể hóa hình phạt khi lượng hình như sau:

Các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng; bị cáo S là người trực tiếp thầu ghi lô đề cho bị cáo D2, bị cáo T là người tiếp nhận ghi đề từ bị cáo S và thầu luôn không giao lại cho ai khác; như vậy bị cáo T, S là người khởi xướng và thực hành tích cực, bị cáo D2 là người thực hành. Vì vậy, tính chất, mức độ hành vi phạm tội và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo T là cao hơn bị cáo S, bị cáo S là cao hơn bị cáo D2.

Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa tội phạm tại địa phương. Tuy nhiên, các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ như trên nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.

Xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù đối với các bị cáo mà áp dụng hình phạt tiền để sung vào ngân sách Nhà nước cũng thỏa đáng, đủ tác dụng răn đe, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.

[6] Về áp dụng hình phạt bổ sung:

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, đồng thời xem xét các bị cáo có nghề nghiệp với thu nhập không ổn định, đã bị áp dụng hình phạt chính bằng hình thức phạt tiền nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về biện pháp tư pháp:

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 tờ phơi đề ghi số lô đề ngày 08/10/2024 và 01 tờ phơi đề ghi số lô đề ngày 19/9/2024 là tài liệu, chứng cứ liên quan nên Hội đồng xét xử xem xét tiếp tục lưu hồ sơ vụ án. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, có thẻ sim số 0523.327.255, 01 điện thoại Nokia màu đen, có thẻ sim số 0918.984.186 và 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh, có thẻ sim số 0345.248.005 thu giữ của Nguyễn Thị S, Phạm Anh D2 và Phan Thị Ngọc T là công cụ, phương tiện dùng vào mục đích đánh bạc nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước. Đối với 01 điện thoại di động Samsung màu đen của bị cáo S là tài sản, đồ vật, tài liệu không liên quan đến tội phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trao trả cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với số tiền 12.080.000 đồng (mười hai triệu không trăm tám mươi nghìn đồng) là số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc, bị cáo D2 chưa trả cho bị cáo S nên Hội đồng xét xử xem xét tuyên bị cáo D2 phải nộp sung công quỹ Nhà nước.

[8] Các vấn đề khác:

Đối với quá trình đánh bạc của T và S diễn ra khoảng thời gian từ tháng 9/2024 đến tháng 10/2024, do T và S trao đổi qua mạng xã hội Zalo để nhắn tin ghi đề, chuyển phơi đề và đã xóa hàng ngày nên không có đủ căn cứ xử lý hình sự, Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 321; Khoản 1 Điều 46, Điều 47; Điều 35, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự;

- Khoản 2 Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Phan Thị Ngọc T, Nguyễn Thị S và Phạm Anh D2 phạm tội “Đánh bạc”.
    1. Xử phạt bị cáo Phan Thị Ngọc T 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng).
    2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị S 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng).
    3. Xử phạt bị cáo Phạm Anh D2 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).
  2. Các biện pháp tư pháp:

    Về xử lý vật chứng:

    • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với: 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, có thẻ sim số 0523.327.255, 01 điện thoại Nokia màu đen, có thẻ sim số 0918.984.186 và 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh, có thẻ sim số 0345.248.005.
    • - Buộc bị cáo Phạm Anh D2 nộp sung vào ngân sách nhà nước số tiền 12.080.000 đồng (Mười hai triệu không trăm tám mươi nghìn đồng).

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai).

  3. Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
  5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát ND huyện Tân Phú;
  • - Công an huyện Tân Phú;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Tân Phú;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 25/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1.1. Xử phạt bị cáo Phan Thị Ngọc T 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng). 1.2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị S 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng). 1.3. Xử phạt bị cáo Phạm Anh D 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger