|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2024/HNGĐ-PT Ngày: 13 - 12 - 2024 V/v: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga
Các Thẩm phán:
- 1. Bà Trần Thị Mỹ Hải
- 2. Bà Nguyễn Thị Hải Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Chiến, Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bằng Giang; Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2024 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 19/2024/TLPT - HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2024, về việc: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Do Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 36/2024/HNGĐ-ST ngày 23/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXPT-HNGĐ ngày 11/11/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 25/2024/QĐPT-HNGĐ ngày 29/11/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Đình L, sinh năm 1967; Nơi cư trú: số nhà D, ngõ D, đường N, khối M, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Võ Thị Thành T, sinh năm 1977; Nơi cư trú: số nhà D, ngõ D, đường N, khối M, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
* Người kháng cáo: Bà Võ Thị Thành T, sinh năm 1977; Nơi cư trú: số nhà D, ngõ D, đường N, khối M, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Là: Bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, Bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn ông Trần Đình L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: ông Trần Đình L và bà Võ Thị Thành T kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An ngày 09/3/2000. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng thường bất đồng quan điểm, không phù hợp tính tình. Nay ông Lương X thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng nên xin được ly hôn với bà Võ Thị Thành T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trần Đình Long V, sinh ngày 13/12/2000 và Trần Đình Đức H, sinh ngày 10/10/2004. Các con hiện nay đều đã đủ tuổi trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết việc nuôi con.
Về tài sản: Ông Lương không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại Bản tự khai ngày 03/05/2024 và biên bản lấy lời khai ngày 11/6/2024, quá trình giải quyết vụ án và cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn bà Võ Thị Thành T trình bày: Bà T thừa nhận điều kiện, thời gian kết hôn, thời gian chung sống, thời gian phát sinh mâu thuẫn và nguyên nhân mâu thuẫn như ông L trình bày. Nay ông L làm đơn xin ly hôn thì bà T cũng đồng ý nhưng với điều kiện khi tài sản hai bên đã tự giải quyết xong.
Về con chung: Bà T cũng thừa nhận vợ chồng có 02 con chung là Trần Đình Long V, sinh ngày 13/12/2000 và Trần Đình Đức H, sinh ngày 10/10/2004. Các con hiện nay đều đã đủ tuổi trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết việc nuôi con.
Về tài sản: Bà T đề nghị để thoả thuận xong phần tài sản mới giải quyết việc ly hôn, nếu không thoả thuận được thì bà T, ông L sẽ bổ sung và yêu cầu Toà án giải quyết. Hiện nay bà T không yêu cầu Toà án giải quyết về phần tài sản và đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 36/2024/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Trần Đình L được ly hôn với bà Võ Thị Thành T.
- Về án phí: Buộc ông Trần Đình L phải chịu 300.000 đồng án phí LHST (Được khấu trừ 300.000 đồng số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh theo BL số AA/2022/0004434 ngày 19/4/2024).
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29 tháng 07 năm 2024 bị đơn bà Võ Thị Thành T kháng cáo Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 36/2024/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An vì Toà án không giải quyết phân chia tài sản chung trong vụ án này là đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm, huỷ Bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công thực hiện đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Tại phiên toà phúc thẩm, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về tính có căn cứ, hợp pháp của kháng cáo: Kháng cáo của bà T trong thời hạn luật định, bà T cũng đã nộp tiền tạm ứng án phí đầy đủ nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý là đúng quy định. Về nội dung kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Võ Thị Thành T, giữ nguyên nội dung Bản án sơ thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Võ Thị Thành T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Vinh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn bà Võ Thị Thành T kháng cáo trong thời hạn luật định và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên kháng cáo của bà T được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Xét kháng cáo của bị đơn bà Võ Thị Thành T, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn bà Võ Thị Thành T trình bày bà yêu cầu huỷ bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố Vinh là do tại cấp sơ thẩm Toà án không giải quyết phân chia tài sản chung vợ chồng trong cùng vụ án ly hôn do ông Trần Đình L khởi kiện. Tuy nhiên, cũng tại phiên toà phúc thẩm, bà Võ Thị Thành T thừa nhận: ngày 10/5/2024, bà đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, đọc và hiểu rõ nội dung của Thông báo, biết nguyên đơn ông Trần Đình L không yêu cầu Toà án giải quyết về phần tài sản nhưng bà cũng không làm đơn yêu cầu giải quyết về phần tài sản. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, tại Bản tự khai ngày 03/5/2024 (BL 23), bà T trình bày: “Về tài sản: chúng tôi sẽ bàn bạc thoả thuận, nếu không thoả thuận được thì chúng tôi sẽ bổ sung và yêu cầu Toà án giải quyết”. Tại các phiên họp và hoà giải ngày 27/5/2024, ngày 20/6/2024, bà T đều được tham gia nhưng cũng tại phiên hoà giải ngày 20/6/2024 (BL 34) và Biên bản lấy lời khai ngày 11/6/2024 (BL 31) bà T đều trình bày “Hiện nay, bà T chưa làm đơn yêu cầu toà án giải quyết về phần tài sản mà để hai bên tự thoả thuận với nhau. Khi chưa thoả thuận được với nhau về phần tài sản thì bà T chưa đồng ý thuận tình ly hôn, còn Toà án giải quyết việc ly hôn như thế nào thì cứ giải quyết theo quy định của pháp luật”. Như vậy, trong vụ án này, nguyên đơn khởi kiện không yêu cầu giải quyết về phần tài sản, bị đơn bà Võ Thị Thành T cũng không làm đơn yêu cầu giải quyết về phần tài sản nên Toà án cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết về phần tài sản là có căn cứ, phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời, tại phiên toà phúc thẩm, bà T cũng thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, vào năm 2022, ông L cũng đã từng làm đơn yêu cầu Toà án nhân dân thành phố Vinh giải quyết ly hôn, sau đó rút đơn nhưng tình trạng vợ chồng vẫn không khắc phục được nên việc bà T yêu cầu giải quyết xong phần tài sản mới giải quyết việc ly hôn chỉ là để kéo dài thời gian giải quyết vụ án chứ không phải là để vợ chồng có thể đoàn tụ xây dựng gia đình. Mặt khác, khi chưa xem xét, giải quyết tranh chấp về phần tài sản chung của vợ chồng thì bản án sơ thẩm đã nhận định “Đối với ý kiến của bà T là muốn thỏa thuận về phần tài sản trước khi ly hôn, tuy nhiên bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên nếu trường hợp các bên không tự thỏa thuận được với nhau thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung sau ly hôn bằng một vụ án khác” là đã đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự, bà T có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung sau ly hôn bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Từ những phân tích trên cho thấy bà Võ Thị Thành T kháng cáo nhưng không có cơ sở nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo này của bà T, cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà.
[3]. Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bà Võ Thị Thành T không được chấp nhận nên bà T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[4]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Võ Thị Thành T; giữ nguyên quyết định của Bản án hôn nhân và gia đình số 36/2024/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Võ Thị Thành T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.0000đ tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm mà bà T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm số 0004678 ngày 07/8/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh.
- Những quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Nga |
Bản án số 25/2024/HNGĐ-PT ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 25/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giải quyết ly hôn giữa anh L và chị T