Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC MÊ

TỈNH HÀ GIANG

Bản án số: 25/2024/HS-ST

Ngày 13-11-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

---

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thuận.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Liên.

Ông Hà Mạnh Nô.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng Tươi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang: Ông Ngô Quang Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 13/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2024/TLST-HS ngày 25/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-HS ngày 30/10/2024 đối với bị cáo:

Hoàng Văn T; sinh năm 1979; nơi sinh: huyện B, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn N, xã P, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Văn T1, sinh năm 1951 và con bà: Dương Thị M, sinh năm 1950; có 05 chị em ruột, bị cáo là con thứ năm trong gia đình; có vợ: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1982 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2002; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; tạm giữ: ngày 07/8/2024; tạm giam: ngày 16/8/2024; hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Hà Giang (Có mặt).

Người bào chữa: Ông Hoàng Ngọc C - Trợ giúp viên pháp lý; nơi công tác: Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H (Có mặt).

- Người làm chứng:

  • + Anh Mã Văn B; sinh năm: 1993; nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Hà Giang (Vắng mặt).
  • + Anh Mã Văn H; sinh năm: 1991; nơi cư trú: Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Hà Giang (Vắng mặt).
  • + Anh Mã Văn N; sinh năm: 1993; nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Hà Giang (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 06/8/2024, tổ công tác Công an huyện B phối hợp với Công an xã P, huyện B, tỉnh Hà Giang tiến hành tuần tra, kiểm soát dọc theo tuyến Quốc lộ C hướng Hà Giang - Cao Bằng, khi đến Km 68+800 thuộc thôn B, xã P phát hiện 02 đối tượng gồm Mã Văn H và Mã Văn B đang đứng ven đường có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma tuý. Tổ công tác tiến hành kiểm tra nước tiểu kết quả H và B dương tính với chất ma túy, các đối tượng khai nguồn gốc số ma túy H1 vừa sử dụng là mua của Hoàng Văn T với giá 200.000 đồng. Qua mở rộng điều tra xác định thêm đối tượng Mã Văn N dương tính với chất ma túy và cũng mua ma tuý Heroine của T để sử dụng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản sự việc đưa các đối tượng về Công an huyện để tiếp tục điều tra làm rõ. Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện B, các đối tượng khai nhận đã nhiều lần mua ma tuý của Hoàng Văn T để sử dụng.

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ thu thập được, ngày 07/8/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hoàng Văn T về hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý, cùng ngày tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T tại thôn N, xã P, huyện B, tỉnh Hà Giang thu giữ được 13 (Mười ba) gói giấy bên trong đều chứa chất bột màu trắng nghi là ma tuý Heroine tại nhiều vị trí khác nhau trong căn nhà của Hoàng Văn T.

Tại Cơ quan điều tra T khai nhận như sau: Bản thân T sử dụng ma tuý Heroine từ cuối năm 2021 và thường xuyên đi đến khu vực giáp ranh với xã Y, huyện B, tỉnh Cao Bằng để tìm mua ma tuý từ những người nghiện về sử dụng.

Vào khoảng đầu tháng 7/2024 (không nhớ ngày), T đi bộ qua đường mòn từ xã P, huyện B, tỉnh Hà Giang sang xã Y, huyện B, tỉnh Cao Bằng với mục đích tìm mua ma tuý Heroine. Sau đó T có gặp một người đàn ông lạ mặt đeo khẩu trang (không rõ tên tuổi địa chỉ) hỏi T mua ma tuý không, T đồng ý và đưa cho người đàn ông số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) thì người đàn ông đưa cho T 01 (Một) gói nilon màu trắng bên trong có chất bột màu trắng là ma túy Heroine. Sau đó T đi về nhà và chia số ma tuý trên thành 20 (Hai mươi) gói nhỏ và cất giấu tại nhiều vị trí khác nhau trong nhà, sau đó T đã lấy 03 gói ma tuý để sử dụng.

Đến giữa tháng 7 năm 2024 (không nhớ ngày), Mã Văn B hỏi T có ma tuý bán cho B một ít để sử dụng, T đồng ý và bán cho Biết 01 gói ma tuý với giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng). Đến cuối tháng 7/2024 (không nhớ ngày), Mã Văn N đi sang nhà T chơi, khi biết T có chất ma tuý N đã hỏi mua để sử dụng thì được T bán cho 01 (Một) gói với giá là 100.000đ (Một trăm nghìn đồng).

Ngày 30/7/2024, Mã Văn H gặp Mã Văn B rồi rủ nhau đi mua ma tuý để sử dụng, H đưa cho B số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) và cùng nhau đi đến ngã ba cách nhà T khoảng 100m, H dừng lại đợi còn B đi vào nhà T hỏi mua ma tuý, T bán cho B 01 (Một) gói ma tuý với giá là 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng), sau đó H và Biết chia nhau để sử dụng.

Ngày 04/8/2024, N tiếp tục sang nhà T hỏi mua ma tuý, T bán cho N 01 (Một) gói với giá là 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) sau đó N đi xuống ven đường liên thôn lấy ma tuý ra sử dụng hết.

Ngày 06/8/2024, B gặp H tại thôn B, xã P, huyện B do H còn chất ma tuý mua của T ngày 30/7/2024 chưa sử dụng hết nên cả hai lấy ra để sử dụng với hình thức hít trực tiếp và bị tổ Công tác Công an huyện B bắt quả tang.

Ngày 07/8/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B đã phối hợp với các ngành chức năng tiến hành mở niêm phong và cân tịnh đối với toàn bộ số chất bột màu trắng nghi là ma tuý Heroine thu giữ tại nhà ở của Hoàng Văn T. Kết quả cân tịnh 13 gói chất bột màu trắng nghi là ma tuý Heroine có tổng khối lượng là 0,37g (Không phẩy ba mươi bảy gam), đồng thời ra Quyết định trưng cầu giám định chất bột màu trắng, nghi là ma túy (Heroine) gửi Phòng K Công an tỉnh H.

Tại biên bản xác định hiện trường ngày 07/8/2024 xác định địa điểm Hoàng Văn T bán ma túy (Heroine) cho những người mua ma tuý, sau khi cho từng người chỉ dẫn các vị trí, kết quả đều phù hợp với các lời khai có trong hồ sơ vụ án.

Tại Kết luận giám định số 293/KL-KTHS ngày 11/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: 13 (Mười ba) mẫu gửi giám định ký hiệu lần lượt theo thứ tự từ A1.1, A1.2, A2.1, A2.2, A3, A4, A5, A6.1. A6.2, A6.3, A7.1, A7.2, A7.3 đều là ma túy, loại Heroin (H). Heroin (Heroine) có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trả lại cho bị cáo vật chứng không liên quan đến vụ án gồm: 01 (Một) điện thoại cảm ứng, nhãn hiệu IPHONE X, màu đen, ốp lưng màu đen, đã qua sử dụng.

Vật chứng chưa xử lý gồm: 01 (một) Phong bì màu trắng được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu A2.2, A7.1, A7.3", mặt sau có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh H và các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong; 01 (một) Phong bì màu trắng được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói sau giám định”, mặt sau có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh H và các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong; 01 (một) Phong bì màu trắng, mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói trả lại sau cân tịnh”, bên trong có toàn bộ vỏ bao, gói, túi niêm phong cũ.

Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu.

Tại bản Cáo trạng số 26/CT-VKSBM ngày 24/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang đã truy tố Hoàng Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

+ Hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 07 năm 04 tháng đến 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 07/8/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

+ Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) Phong bì màu trắng được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu A2.2, A7.1, A7.3", mặt sau có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh H và các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong; 01 (một) Phong bì màu trắng được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói sau giám định”, mặt sau có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh H và các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong; 01 (một) Phong bì màu trắng, mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói trả lại sau cân tịnh”, bên trong có toàn bộ vỏ bao, gói, túi niêm phong cũ.

Truy thu để sung vào ngân sách nhà nước tiền Việt Nam đồng số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).

+ Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về án phí, lệ phí tòa án, miễn toàn bộ tiền án phí hình sự cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo: Về tội danh: Nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê truy tố để xét xử bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 251 của BLHS. Về hình phạt: Xét bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ học vấn thấp, nhận thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình. Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Hoàng Văn T 07 năm tù. Về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và án phí: Nhất trí quan điểm Kiểm sát viên đề nghị.

Bị cáo nhất trí với toàn bộ quan điểm của người bào chữa, không có bổ sung gì.

Đại diện Viện kiểm sát đối đáp không nhất trí mức hình phạt người bào chữa đề nghị, giữ nguyên quan điểm luận tội.

Bị cáo, người bào chữa không có tranh luận đối đáp gì với Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa vắng mặt: Những người làm chứng không có lý do. Xét thấy bị cáo, người bào chữa, Kiểm sát viên đồng ý xét xử vắng mặt, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã lấy lời khai những người làm chứng, việc vắng mặt những người trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2] Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người trong trường hợp khẩn cấp, biên bản khám xét khẩn cấp, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng đầu tháng 7 năm 2024 (không nhớ ngày), Hoàng Văn T đi sang xã Y, huyện B, tỉnh Cao Bằng mua 01 (Một) gói ma tuý Heroine của một người đàn ông lạ mặt (không rõ tên tuổi địa chỉ) với số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). Sau đó bị cáo chia nhỏ số ma túy đã mua được 20 (Hai mươi) gói nhỏ với mục đích để sử dụng và nếu ai có nhu cầu mua thì bán lại để kiếm lời. Trong khoảng thời gian từ giữa tháng 7 năm 2024 đến ngày 06/8/2024, T đã có hành vi bán ma túy H1 cho Mã Văn B và Mã Văn N mỗi người 02 lần mỗi lần, 01 gói tại nhà ở của T thuộc thôn N, xã P, huyện B, thu lợi bất chính số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). Như vậy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang truy tố Hoàng Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) ......

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

[4] Đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự xã hội. Ma túy là chất gây nghiện làm hủy hoại sức khỏe và suy thoái đạo đức của con người, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác do đó Nhà nước nghiêm cấm các tổ chức, cá nhân sản xuất, buôn bán, tàng trữ, vận chuyển ma túy trái quy định pháp luật dưới mọi hình thức. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn đi mua ma túy (Heroine) từ huyện B, tỉnh Cao Bằng về bán cho Mã Văn B và Mã Văn N thu lợi bất chính được 500.000 đồng. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục đối với bị cáo nói riêng và để phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tuy nhiên quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo thường xuyên vắng mặt tại địa phương và có biểu hiện tụ tập với một số người nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy. Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, do đó khi áp dụng mức hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

[6] Bị cáo Hoàng Văn T đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện B, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án theo quy định tại Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Trong vụ án này còn có hành vi và đối tượng khác liên quan:

[7.1] Đối với bị cáo Hoàng Văn T ngoài hành vi Mua bán trái phép chất ma túy đã bị khởi tố còn có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Cơ quan điều tra đã xử lý hành chính là đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử không xem xét.

[7.2] Đối với Mã Văn B, Mã Văn H, Mã Văn N đều là người nghiện ma tuý, sau khi mua được ma túy đã sử dụng hết, Cơ quan điều tra đã xử lý hành chính là đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử không xem xét.

[7.3] Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo số tiền 500.000 đồng nhưng qua điều tra không đủ cơ sở xác định nhân thân lai lịch nên không có căn cứ để xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét.

[7.4] Đối với bà Nguyễn Thị Đ (vợ bị cáo T) quá trình điều tra xác định bà Đ không biết và cũng được hưởng lợi gì từ việc bị cáo T sử dụng và bán ma tuý tại gia đình, do đó không có căn cứ để xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[9] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (Một) điện thoại cảm ứng, nhãn hiệu IPHONE X, màu đen, ốp lưng màu đen, đã qua sử dụng, Cơ quan CSĐT đã trả lại cho bị cáo là đúng quy định, HĐXX không xem xét.

Đối với các phong bì chứa số ma túy còn lại sau giám định, vỏ bao, gói, túi niêm phong cũ cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 BLHS và Điều 106 của BLTTHS là phù hợp.

[10] Đối với số tiền 500.000 đồng bị cáo thu lợi bất chính từ việc bán ma túy Heroine cho Mã Văn B và Mã Văn N cần truy thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại Điều 47 BLHS.

[11] Từ những căn cứ nêu trên, xét thấy mức án đại diện Viện kiểm sát đề nghị về hình phạt, xử lý vật chứng, tiền án phí và miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận.

[12] Luận cứ bào chữa của người bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo 07 năm tù là chưa đảm bảo tính răn đe đối với bị cáo, HĐXX xét thấy cần áp dụng mức án cao hơn nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[13] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm nên HĐXX xét miễn án phí hình sự cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

[14] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt Hoàng Văn T 07 (Bảy) năm 04 (Bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 07/8/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

  3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Truy thu để sung vào ngân sách nhà nước tiền Việt Nam đồng số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).

    Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) Phong bì màu trắng được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu A2.2, A7.1, A7.3", mặt sau có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh H và các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong; 01 (một) Phong bì màu trắng được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói sau giám định”, mặt sau có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh H và các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong; 01 (một) Phong bì màu trắng, mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói trả lại sau cân tịnh”, bên trong có toàn bộ vỏ bao, gói, túi niêm phong cũ.

    (Tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Mê).

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Bị cáo Hoàng Văn T được miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND huyện; VKSND tỉnh Hà Giang;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Bắc Mê;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Giang;
  • - Phòng PV06 CA tỉnh Hà Giang;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Bắc Mê;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Bắc Mê;
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Mê;
  • - Bị cáo; người bào chữa;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Hoàng Văn Thuận

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 25/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger