Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ VANG

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HS-ST

Ngày: 28 -9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng.
  • Các Hội thẩm nhân dân.
  • Ông Hồ Thế Vinh
  • Ông Lê Hồng Tâm
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tường Vy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Vang.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hải - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 23 tháng 9 năm 2024, ngày 28 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Minh Ngọc D, sinh ngày 23 tháng 5 năm 2004 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Giới tính: Nam; Số CCCD: [...]; Nơi cấp: Cục C1 về TTXH-BCA; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: P303, A1, Tổ A, khu V, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nghề nghiệp: Sản xuất trầm; Trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Minh D1, sinh năm 1975 và con bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1970; Vợ con: Chưa có; Gia đình có bị cáo là con duy nhất; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/12/2023 đến ngày 27/12/2023 thì chuyển tạm giam đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Ngọc K, sinh ngày 17 tháng 3 năm 2003 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Tên gọi khác: L; Giới tính: Nam; Số CCCD: [...]; Cấp ngày 24/8/2022; Nơi cấp: Cục C1 về TTXH-BCA; Nơi đăng ký thường trú: Số D L, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Chỗ ở hiện nay: Số I Đ, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1970, và con bà Hồ Thị V, sinh năm 1974; Vợ con: Chưa có; Gia đình có hai anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/12/2023 đến ngày 27/12/2023 thì chuyển tạm giam đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

3. Trần Văn X, sinh ngày 18 tháng 6 năm 2001 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Giới tính: Nam; Số CCCD: [...]; Cấp ngày 01/9/2021; Nơi cấp: Cục C1 về TTXH-BCA; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: TDP L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá (học vấn): 05/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần N, sinh năm 1973 và con bà Đào Thị V1, sinh năm 1973; Vợ con: Chưa có; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ tư.

Nhân thân: Ngày 14/9/2017 bị Công an huyện P xử phạt hành chính theo Quyết định 004270 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/12/2023 đến ngày 27/12/2023 thì chuyển tạm giam đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

4. Mai Văn B, sinh ngày 20 tháng 12 năm 2002 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Giới tính: Nam; Số CCCD: 04620212923; Cấp ngày 31/5/2021; Nơi cấp: Cục C1 về TTXH-BCA; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: TDP T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mai Văn B1, sinh năm 1975 và con bà Dương Thị M, sinh năm 1976; Vợ con: Chưa có; Gia đình có bốn anh em, bị cáo con thứ ba; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/12/2023 đến ngày 27/12/2023 thì chuyển tạm giam đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

5. Nguyễn Thị Q1, sinh ngày 10 tháng 9 năm 1998 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Giới tính: Nữ; Số CCCD: [...]; Nơi cấp: Cục C1 về TTXH-BCA; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nghề nghiệp: Tiếp thị bia; Trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn N1, sinh năm 1965 và con bà Hoàng Thị N2, sinh năm 1962. Chồng: Không có; Con: Lê Hoàng Xuân N3, sinh năm 2018; Gia đình có sáu anh chị em, bị cáo là con thứ sáu; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 27/12/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Mai Văn B:

Ông Võ Công H; bà Nguyễn Anh T – Luật sư của Công ty L4. Địa chỉ: B L, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

Người làm chứng:

  • - Chị Ngô Thị Mỹ L1, sinh năm 2006. Địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • - Chị Lê Thị Hà T1, sinh năm 2001. Địa chỉ: Thôn L, xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình; Vắng mặt.
  • - Anh Đặng Quang T2, sinh năm 2004. Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; Vắng mặt.
  • - Chị Nguyễn Thị Phương T3, sinh năm 2006. Địa chỉ: 7 P, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Vắng mặt.
  • - Chị Phan Thị Hồng H1, sinh năm 1997. Địa chỉ: P, phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • - Chị Nguyễn Đoàn Thùy T4, sinh năm 2005. Địa chỉ: Tổ D, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • - Bà Trần Thị N4, sinh năm 1973. Địa chỉ: TDP T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; Vắng mặt.
  • - Ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 2001. Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; Vắng mặt.
  • - Ông Trương Hoàng P, sinh năm 2001; Địa chỉ: TDP T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; Có mặt.

Người chứng kiến:

  • - Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1995. Địa chỉ: TDP T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; Vắng mặt.
  • - Ông Phan Văn T6, sinh năm 1986. Địa chỉ: TDP T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; Vắng mặt.

Những người tham gia tố tụng khác:

  • - Ông Võ Chiến H3- Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P; Có mặt.
  • - Ông Hoàng Trọng L2- Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu muốn sử dụng ma túy nên khoảng 22 giờ ngày 20/12/2023, Nguyễn Minh Ngọc D rủ Nguyễn Ngọc K; Ngô Thị Mỹ L1 (sinh năm 2006, là bạn gái của K); Nguyễn Thị Q1, (là bạn gái của D) cùng về quán K1 ở TDP T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế do bà Trần Thị N4 làm chủ để sử dụng ma túy (bay lắc). Sau đó, D, K, L1, Q1 cùng đi xe taxi về quán K1.

Khi đi, Nguyễn Minh Ngọc D có mang theo trong người “nửa hộp” ma túy dạng khay và 03 viên ma túy dạng kẹo (theo D khai nhận mua trước đó của 01 đối tượng tên L3 ở đường P, phường V, thành phố H). Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, cả nhóm D, K, L1, Q1 cùng về đến quán K1. Lúc này, D gặp Mai Văn B là nhân viên phục vụ của quán K1 thì được B bố trí phòng số 2. Do biết rõ nhóm của D sẽ sử dụng ma túy nên B có đem vào phòng các loại đồ uống, trái cây, bánh kẹo. Trong đó có 01 đĩa sứ là dụng cụ để sử dụng ma túy dạng khay có để 10 cái khăn lạnh ở trên nhằm ngụy trang đối phó với cơ quan công an.

Sau đó, D, K đến phòng trọ của Lê Thị Hà T1 thuê thì gặp Đặng Quang T2; Nguyễn Thị Phương T3, (sinh năm 2006) đang ngồi chơi với T1. Lúc này, DK có rủ T1, T2, T3 cùng vào sử dụng ma túy thì nhóm của T1, T2, T3 đồng ý. Cùng lúc này, Q1 đi ngang phòng nhân viên của quán K1 có gặp Nguyễn Đoàn Thùy T4, sinh năm 2005 thì Q1 cũng rủ T4 cùng vào phòng số 2 sử dụng ma túy thì T4 đồng ý. Sau đó, D, K, Q1, L1 vào phòng trước, tiếp theo là T1, T4 cùng vào phòng số 2.

Một lúc sau, Q1 đi ra trước quầy lễ tân có gặp Trần Văn X, do có quen biết từ trước nên Q1 có rủ Xe vào cùng sử dụng ma túy. Lúc này, Trần Văn X rủ Phan Thị Hồng H1 cùng vào sử dụng ma túy (do H1 là bạn gái của X). Một lúc sau thì X, H1 cũng vào phòng số 2. Tiếp sau đó, T2T3 cùng vào phòng số 02. Lúc đầu, nhóm của D, K, Q1, L1, T1, T4, T2, T3, H1, X chỉ nghe nhạc. Sau đó, D lấy 03 viên ma túy dạng kẹo đã chuẩn bị sẵn trước đó, chia nhỏ mỗi viên thành 03 - 04 phần rồi đưa cho những người khác để uống. D có đưa cho Xe 01 viên ma túy dạng kẹo, Xe chia nhỏ thành 03 phần, X đưa cho H1, T4 mỗi người một phần ma túy kẹo để sử dụng còn X sử dụng một phần.

Các đối tượng vừa sử dụng ma túy dạng kẹo vừa nghe nhạc. Một lúc sau, D hỏi giữa phòng có thẻ sim điện thoại không với mục đích dùng làm công cụ để sử dụng ma túy nhưng không có, lúc này Q1 biết rõ D hỏi thẻ sim để xào ma túy nên Q1 hỏi T4, T4 nhắn tin cho B để hỏi về thẻ sim nhưng sau đó không xác định được người nào đã đem thẻ sim vào phòng số 2. Sau khi sử dụng ma túy dạng kẹo thì D tiếp tục lấy đĩa sứ bỏ khăn lạnh ra rồi dùng giấy đốt hơ nóng đĩa sứ, bỏ ma túy dạng khay lên đĩa rồi dùng thẻ sim điện thoại xào (nghiền mịn) ma túy dạng khay rồi chia thành các đường nhỏ. Lúc này, K có hỏi Q1 có tờ tiền 10.000 đồng không thì Q1 tìm nhưng không có, Q1 có hỏi T4 có tiền lẻ không thì T4 tìm nhưng cũng không có, T4 có hỏi H1 thì H1 có lấy tờ tiền 10.000 đồng phía sau ốp lưng điện thoại rồi đưa cho T4 rồi T4 đưa cho K tờ tiền 10.000 đồng thì K dùng tờ tiền này quấn thành hình ống để các đối tượng hít ma túy dạng khay. D sử dụng trước rồi lần lượt các đối tượng khác tiếp tục hít ma túy dạng khay bằng mũi. Sau đó, Mai Văn B cũng đi vào sử dụng ma túy dạng kẹo và ma túy dạng khay cùng với cả nhóm trên, cả nhóm 11 người vừa sử dụng ma túy vừa nghe nhạc.

Đến lúc 02 giờ 30 phút ngày 21/12/2023, Công an huyện P tiến hành bắt quả tang 11 đối tượng gồm: Nguyễn Minh Ngọc D, Mai Văn B, Nguyễn Ngọc K, Trần Văn X, Đặng Quang T2, Ngô Thị Mỹ L1, Nguyễn Thị Q1, Nguyễn Đoàn Thùy T4, Lê Thị Hà T1, Phan Thị Hồng H1Nguyễn Thị Phương T3 đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan công an đã tiến hành tách chất tinh thể rắn màu trắng còn lại trên đĩa sứ bỏ vào trong 01 túi nilong và tiến hành niêm phong trước sự chứng kiến của 11 đối tượng. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Minh Ngọc D cơ quan điều tra không thu giữ gì.

Tại Bản kết luận giám định số: 795/KL-KTHS, ngày 25/12/2023, của phòng K2 công an tỉnh T - Huế kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định có khối lượng 0,2918g là ma túy loại Ketamine.

Vật chứng đã trả lại:

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu vàng gold, số Imei 1: 353101100072528, số Imei 2: 353101100216752, lắp sim điện thoại số: 0868.527.xxx, đã qua sử dụng;
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS, màu đen, số Imei 1: 357233098909761, Số I 2: 357233098936756, lắp sim điện thoại số: 0705.224.xxx, đã qua sử dụng;
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu trắng, số Imei 1: 353925104931960, số Imei 2: 353925104962171, lắp sim điện thoại số: 0969.187.xxx, đã qua sử dụng;
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu vàng gold, số Imei 1: 353107102299068, số Imei 2: 353107102390669, lắp sim điện thoại số: 0345.800.xxx, đã qua sử dụng.

Ngày 15 tháng 4 năm 2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện P ra Quyết định xử lý đồ vật tài liệu để trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.

Vật chứng vụ án:

  • 01 (một) gói niêm phong bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 (hai) chữ ký của Giám định viên Trần N5, 02 (hai) chữ ký của Điều tra viên Hoàng Trọng L2, 02 (hai) dấu tròn đỏ của phòng K2 Công an tỉnh T và dòng chữ “H4 mẫu vật vụ Nguyễn Minh Ngọc D và 10 người khác, bắt ngày 21/12/2023".
  • 04 (bốn) túi ni lông màu trắng trong, có viền màu đỏ.
  • 02 (hai) túi nilong màu đen.
  • 01 (một) cái đĩa bằng sứ màu trắng.
  • 01 (một) thẻ sim điện thoại Mobifone, không lắp sim.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu đen, số Imei 1: 35373039321130, số Imei 2: 353730393107011, lắp sim điện thoại số: 0862.805.xxx đã qua sử dụng của Nguyễn Minh Ngọc D.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng gold, số Imei 1: 355060586706017, số Imei 2: 355060586429529, lắp sim số điện thoại số: 0964.513.xxx, đã qua sử dụng của Nguyễn Thị Q1.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A13, màu trắng, số Imei 1: 354690578144438, số Imei 2: 355864868144437, lắp sim điện thoại số: 0969.486.xxx, đã qua sử dụng của Nguyễn Ngọc K.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A15, màu trắng, số Imei 1: 866493056704158, số Imei 2: 866493056704141, lắp sim điện thoại số: 0338.003.xxx, đã qua sử dụng của Mai Văn B.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng gold, số Imei 1: 353899102762133, số Imei 2: 353899102666029, lắp sim điện thoại số: 0976.658.xxx, đã qua sử dụng của Trần Văn X.
  • Số tiền VNĐ: 10.000 đồng (Mười nghìn đồng), đã nộp vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Vang tại Kho bạc nhà nước huyện P ( Theo giấy ủy nhiệm chi ngày 17 tháng 7 năm 2024).

Tại bản Cáo trạng số 13/CT-VKSPV ngày 03 tháng 5 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang đã truy tố Nguyễn Minh Ngọc D, Nguyễn Ngọc K, Nguyễn Thị Q1, Trần Văn X, Mai Văn B về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Đối với bị cáo Nguyễn Minh Ngọc D: Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo 7 năm 06 tháng tù - 8 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc K: Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo 7 năm - 7 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Đối với bị cáo Nguyễn Thị Q1: Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo 7 năm - 7 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Đối với bị cáo Mai Văn B: Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo 7 năm - 7 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Đối với bị cáo Trần Văn X: Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo 7 năm - 7 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về vật chứng;

Đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS tịch thu sung công các vật chứng đã thu giữ theo quy định của pháp luật gồm:

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A15, màu trắng, số Imei 1: 866493056704158, số Imei 2: 866493056704141, lắp sim điện thoại số: 0338.003.xxx, đã qua sử dụng của Mai Văn B.
  • Số tiền VNĐ: 10.000 đồng (Mười nghìn đồng).

Đề nghị tiêu hủy:

  • 01 (một) gói niêm phong bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 (hai) chữ ký của Giám định viên Trần N5, 02 (hai) chữ ký của Điều tra viên Hoàng Trọng L2, 02 (hai) dấu tròn đỏ của phòng K2 Công an tỉnh T và dòng chữ “H4 mẫu vật vụ Nguyễn Minh Ngọc D và 10 người khác, bắt ngày 21/12/2023".
  • 04 (bốn) túi ni lông màu trắng trong, có viền màu đỏ
  • 02 (hai) túi nilong màu đen.
  • 01 (một) cái đĩa bằng sứ màu trắng.
  • 01 (một) thẻ sim điện thoại Mobifone, không lắp sim

Đề nghị trả lại:

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu đen, số Imei 1: 35373039321130, số Imei 2: 353730393107011, lắp sim điện thoại số: 0862.805.xxx đã qua sử dụng của Nguyễn Minh Ngọc D.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A13, màu trắng, số Imei 1: 354690578144438, số Imei 2: 355864868144437, lắp sim điện thoại số: 0969.486.xxx, đã qua sử dụng của Nguyễn Ngọc K.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng gold, số Imei 1: 353899102762133, số Imei 2: 353899102666029, lắp sim điện thoại số: 0976.658.xxx, đã qua sử dụng của Trần Văn X.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng gold, số Imei 1: 355060586706017, số Imei 2: 355060586429529, lắp sim số điện thoại số: 0964.513.xxx, đã qua sử dụng của Nguyễn Thị Q1.

Về án phí:

Áp dụng Điều 136 BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTYQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Mai Văn B trình bày: Trên cơ sở kết quả xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án mặc dù tại phiên tòa bị cáo Mai Văn B đã nhận tội theo Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang. Tuy nhiên xét về lời khai và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án chưa có đủ cơ sở vững chắc để kết tội bị cáo Mai Văn B vể Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Trong vụ án này, vai trò của Mai Văn B là nhân viên của quán K1, phục vụ theo sự phân công của chủ quán, giữa các bị cáo và Mai Văn B không có sự phân công, bàn bạc thống nhất về cách thức tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Mai Văn B chỉ là người phạm tội về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy Đề nghị Hội đồng xét xử cần phải xem xét sự thật khách quan của vụ án và đánh giá đúng vai trò của Mai Văn B đồng thời tuyên bố bị cáo Mai Văn B không phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Các bị cáo nói lời sau cùng đều rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử, cũng như các quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân huyện Phú Vang trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác, đủ căn cứ kết luận:

Lúc 02 giờ 30 phút ngày 21/12/2023, tại phòng hát số 2 của quán K1 tại TDP T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nguyễn Minh Ngọc D, Nguyễn Ngọc K, Nguyễn Thị Q1, Mai Văn B, Trần Văn X đã có hành vi bố trí địa điểm, điều hành, rủ rê con người, chuẩn bị công cụ phương tiện để sử dụng ma túy cùng với Ngô Thị Mỹ L1 (dưới 18 tuổi), Lê Thị Hà T1, Đặng Quang T2, Nguyễn Thị Phương T3 (dưới 18 tuổi), Phan Thị Hồng H1 và Nguyễn Đoàn Thùy T4 với tổng trọng lượng ma túy thu giữ là: 0,2918g ma túy loại Ketamine. Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của 11 đối tượng trên đều dương tính.

Hành vi của Nguyễn Minh Ngọc D, Nguyễn Ngọc K, Nguyễn Thị Q1, Mai Văn B, Trần Văn X đã đủ điều kiện cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang truy tố các bị cáo về hành vi phạm tội như trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm, tổ chức cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây dư luận xấu và ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn xã hội, trật tự tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Các bị cáo còn rủ rê người dưới 18 tuổi sử dụng ma túy, gây hệ lụy vô cùng to lớn cho thế hệ trẻ về sau. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức án nghiêm khắc và cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét vai trò của các bị cáo, thấy rằng: Đây là vụ án phạm tội có tính chất đồng phạm, các bị cáo chưa có sự bàn bạc thống nhất khi thực hiện hành vi phạm tội mà chỉ xảy ra bộc phát. Trong đó Nguyễn Minh Ngọc D là người khởi xướng, chọn địa điểm, chuẩn bị ma túy, rủ rê, phân chia, nghiền ma túy cho những người khác sử dụng nên bị cáo đóng vai trò chính trong vụ án.

Đối với là bị cáo Nguyễn Ngọc K là người hưởng ứng tích cực việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, có hành vi dùng tờ tiền có mệnh giá: 10.000 đồng quấn lại thành dạng ống là công cụ để sử dụng ma túy và có hành vi rủ rê người khác cùng sử dụng ma túy.

Trần Văn X có hành vi phân chia ma túy, rủ rê và có ý thức đóng góp trả tiền sau khi sử dụng ma túy.

Nguyễn Thị Q1 có hành vi rủ rê và giúp sức cho D, K trong việc chuẩn bị tiền để làm ống hút và thẻ sim điện thoại để xào hàng ma túy sử dụng.

Đối với bị cáo Mai Văn B, thời điểm phạm tội, B đóng vai trò là quản lý của quán K1, B có mối quan hệ từ trước với nhóm của Nguyễn Minh Ngọc D và biết trước được nhóm của D vào quán với mục đích là tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên B đã đồng ý chuẩn bị địa điểm, chuẩn bị đĩa sứ được ngụy trang dưới hình thức đựng khăn lạnh; dầu nhị để phục vụ cho việc sử dụng ma túy. Đồng thời, B đã chủ động cùng với Trần Văn X sẽ thỏa thuận góp tiền phòng sau khi sử dụng Ma túy.

Vì vậy các bị cáo Nguyễn Ngọc K, Trần Văn X, Mai Văn B, Nguyễn Thị Q1 là đồng phạm đóng vai trò giúp sức và thực hành tích cực cho bị cáo Nguyễn Minh Ngọc D thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu trách nhiệm hình sự ngang nhau và sau bị cáo D.

[3] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng nào. Các bị cáo Nguyễn Minh Ngọc D, Nguyễn Ngọc K, Mai Văn B, Nguyễn Thị Q1, Trần Văn X được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 01 Điều 51 BLHS năm 2015. Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.

[4] Về quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã phân tích ở trên, trên cơ cở khung hình phạt quy định, xét cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian cải tạo, trở thành công dân tốt cho xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[5] Xét về ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Mai Văn B tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Mai Văn B không phạm tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Hội đồng xét xử xét thấy tại phiên tòa bị cáo Mai Văn B đã thừa nhận tội như bản cáo trạng truy tố, hơn nữa căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa không có cơ sở để chấp nhận ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Mai Văn B.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • 01 (một) gói niêm phong bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 (hai) chữ ký của Giám định viên Trần N5, 02 (hai) chữ ký của Điều tra viên Hoàng Trọng L2, 02 (hai) dấu tròn đỏ của phòng K2 Công an tỉnh T và dòng chữ “H4 mẫu vật vụ Nguyễn Minh Ngọc D và 10 người khác, bắt ngày 21/12/2023".
  • 04 (bốn) túi ni lông màu trắng trong, có viền màu đỏ
  • 02 (hai) túi nilong màu đen.
  • 01 (một) cái đĩa bằng sứ màu trắng.
  • 01 (một) thẻ sim điện thoại Mobifone, không lắp sim.

Xét đây các vật chứng trên là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy.

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu đen, số Imei 1: 35373039321130, số Imei 2: 353730393107011, lắp sim điện thoại số: 0862.805.xxx đã qua sử dụng của Nguyễn Minh Ngọc D.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng gold, số Imei 1: 355060586706017, số Imei 2: 355060586429529, lắp sim số điện thoại số: 0964.513.xxx, đã qua sử dụng của Nguyễn Thị Q1.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A13, màu trắng, số Imei 1: 354690578144438, số Imei 2: 355864868144437, lắp sim điện thoại số: 0969.486.xxx, đã qua sử dụng của Nguyễn Ngọc K.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng gold, số Imei 1: 353899102762133, số Imei 2: 353899102666029, lắp sim điện thoại số: 0976.658.xxx, đã qua sử dụng của Trần Văn X.

Xét đây là tài sản đã thu giữ nhưng các bị cáo không dùng vào việc phạm tội nên cần thiết trả lại cho chủ sở hữu.

  • Đối với Số tiền VNĐ: 10.000 đồng (Mười nghìn đồng) và 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A15, màu trắng, số Imei 1: 866493056704158, số Imei 2: 866493056704141, lắp sim điện thoại số: 0338.003.xxx, đã qua sử dụng của Mai Văn B các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

[7] Đối với hành vi sử dụng ma túy của Ngô Thị Mỹ L1, Lê Thị Hà T1, Đặng Quang T2, Nguyễn Thị Phương T3, Phan Thị Hồng H1 và Nguyễn Đoàn Thùy T4 đã bị Công an huyện P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với hành vi của bà Trần Thị N4 là chủ cơ sở kinh doanh Karaoke Yến Nhi, Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã chuyển hồ sơ liên quan vi phạm của cơ sở kinh doanh Y để Đội CSQLHC về TT - XH, Công an huyện P lập hồ sơ xử phạt hành chính nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với đối tượng tên “Lỳ” đã bán số ma tuý trên cho bị cáo Nguyễn Minh Ngọc D, Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã tiến hành xác minh, điều tra nhưng chưa xác định được người đó là ai và ở đâu, khi nào xác định được sẽ điều tra xử lý theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Minh Ngọc D, Nguyễn Ngọc K, Trần Văn X, Mai Văn B, Nguyễn Thị Q1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Minh Ngọc D, Nguyễn Ngọc K, Trần Văn X, Mai Văn B, Nguyễn Thị Q1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

  • Áp dụng khoản b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Ngọc D 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giữ 21/12/2023.
  • Áp dụng khoản b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc K 07 (Bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giữ 21/12/2023.
  • Áp dụng khoản b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn X 07 (Bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giữ 21/12/2023.
  • Áp dụng khoản b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Mai Văn B 07 (Bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giữ 21/12/2023.
  • Áp dụng khoản b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Q1 07 (Bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 27/12/2023.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

* Tịch thu, tiêu hủy:

  • 01 (một) gói niêm phong bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 (hai) chữ ký của Giám định viên Trần N5, 02 (hai) chữ ký của Điều tra viên Hoàng Trọng L2, 02 (hai) dấu tròn đỏ của phòng K2 Công an tỉnh T và dòng chữ “H4 mẫu vật vụ Nguyễn Minh Ngọc D và 10 người khác, bắt ngày 21/12/2023".
  • 04 (bốn) túi ni lông màu trắng trong, có viền màu đỏ
  • 02 (hai) túi nilong màu đen.
  • 01 (một) cái đĩa bằng sứ màu trắng.
  • 01 (một) thẻ sim điện thoại Mobifone, không lắp sim.

* Tịch thu sung công quỹ nhà nước gồm:

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A15, màu trắng, số Imei 1: 866493056704158, số Imei 2: 866493056704141, lắp sim điện thoại số: 0338.003.xxx, đã qua sử dụng của Mai Văn B.
  • Số tiền VNĐ: 10.000 đồng (Mười nghìn đồng), đã nộp vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Vang tại Kho bạc nhà nước huyện P ( Theo giấy ủy nhiệm chi ngày 17 tháng 7 năm 2024).

* Trả lại cho chủ sở hữu:

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu đen, số Imei 1: 35373039321130, số Imei 2: 353730393107011, lắp sim điện thoại số: 0862.805.xxx đã qua sử dụng của Nguyễn Minh Ngọc D.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A13, màu trắng, số Imei 1: 354690578144438, số Imei 2: 355864868144437, lắp sim điện thoại số: 0969.486.xxx, đã qua sử dụng của Nguyễn Ngọc K.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng gold, số Imei 1: 353899102762133, số Imei 2: 353899102666029, lắp sim điện thoại số: 0976.658.xxx, đã qua sử dụng của Trần Văn X.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng gold, số Imei 1: 355060586706017, số Imei 2: 355060586429529, lắp sim số điện thoại số: 0964.513.xxx, đã qua sử dụng của Nguyễn Thị Q1.

Tất cả các vật chứng nêu trên có đặc điểm theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 18 tháng 7 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Nguyễn Minh Ngọc D, Nguyễn Ngọc K, Trần Văn X, Mai Văn B, Nguyễn Thị Q1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TT-Huế;
  • - VKSND tỉnh TT-Huế;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ
  • Công an tỉnh TT-Huế;
  • - VKSND huyện Phú Vang;
  • - CQĐT Công an huyện Phú Vang;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh TT-Huế;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Phú Vang
  • - Chi cục THADS huyện Phú Vang;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu: HSVA; Lưu bộ phận;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thúy Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/HS-ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 25/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh Ngọc Duy và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger