Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÁT TIÊN

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 25/2024/HSST

Ngày 27 - 9 -2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT TIÊN - TỈNH LÂM ĐỒNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Cao Chức

Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Tam

Ông Lê Đình Bảo

Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Hoàng Thu cán bộ Tòa án nhân dân huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa : Ông Phan Văn Sinh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân huyện C, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo.

1. Họ và tên: Nguyễn Văn P

Sinh năm: 1998 tại Bình Phước.

Hộ khẩu thường trú: Ấp Phước Tiến, xã Hưng Phước, huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước

Chổ ở: Tổ dân phố 02, Thị trấn Cát Tiên, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không

Con ông: Nguyễn Văn M và bà Phạm Thị L.

Vợ: Chưa có

Tiền án: 0 ; tiền sự: 0.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/02/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Đoàn Thị Bích T ( tên gọi khác là Sói X).

Sinh năm: 2004 tại Sóc Trăng.

Hộ khẩu thường trú: Ấp Rạch Sên, xã Thạnh Phú, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng

Chổ ở: Tổ dân phố 6, Thị trấn Cát Tiên, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng.

Nghề nghiệp: Tiếp viên Karaoke; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Phật giáo

Con ông: Đoàn Văn T1 và bà Lâm Thị T2.

Chồng: Chưa có

Tiền án: 0 ; tiền sự: 0.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/02/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị Hồng H – Sinh năm 1995

Trú tại: Áp P, xã H, huyện B, tỉnh Bình Phước. Có mặt

4. Người làm chứng:

Anh Nông Quang H1 - Sinh năm: 1988

Trú tại: Tổ dân phố H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lâm Đồng.

Anh Trần Xuân H2 - Sinh năm: 1996

Trú tại: Tổ dân phố H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lâm Đồng.

Chị Phạm Thị Ngọc U - Sinh năm: 2007

Trú tại: Ấp D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước

Tất cả các nhân chứng đều vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Các bị cáo bị viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào lúc 23 giờ 30 phút ngày 22/02/2024, tại phòng 201 nhà nghỉ T5 thuộc TDP A, TT C, C, Lâm Đồng, CQ CSĐT Công an huyện C bắt quả tang đối tượng Nguyễn Văn P, SN: 1998 trú tại ấp P, H, B, Bình Phước có hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho Trần Xuân H2, SN: 1996 trú tại TDP 8, TT C.

Qúa trình điều tra xác định: Khoảng 23 giờ 20 phút ngày 22/02/2024, Trần Xuân H2 gọi điện thoại từ số 0961.236.xxx của H2 đến số điện thoại di động số 0393.439.xxx của Nguyễn Văn P để hỏi mua nửa hộp ma túy loại Ketamine với số tiền là 2.800.000 đồng, địa điểm hẹn giao ma túy là tại phòng 201 nhà nghỉ T5. Sau đó, P ra phía sau nhà trọ của mình tại TDP 2, TT C lấy 01 bịch ma túy loại Ketamine và điều khiển xe mô tô hiệu Future, biển kiểm soát 93P2 - 812.85 từ nhà trọ xuống nhà nghỉ T5, khi đến nhà nghỉ T5, P cầm theo bịch ma tuý đi lên thẳng phòng 201 để gặp H2 để giao ma tuý thì bị lực Công an kiểm tra bắt quả tang, tạm giữ cùng tang vật

Ngoài lần bị bắt quả tang, xác định, trước đó Nguyễn Văn P đã bán ma túy 01 lần cho Đoàn Thị Bích T, SN: 2004 trú tại ấp R, T, M, Sóc Trăng 01 lần, bán 01 lần cho Phạm Thị Ngọc U, sinh ngày: 15/3/2007 trú tại ấp D, Đ, Đ, Bình Phước (T và U đều là nhân viên quán Karaoke tại huyện C); bán 02 lần cho Trần Xuân H2, các lần cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào khoảng tháng 01/2024, P bán ma túy loại Ketamine cho T với số tiền 1.000.000 đồng, sau đó, P bỏ ra 01 lượng ma túy tương ứng với số tiền 1.000.000 đồng, T và P đã cùng nhau sử dụng ma túy tại phòng trọ của Nguyễn Văn P.

Lần thứ hai: Vào khoảng tháng 01/2024, P bán ma túy loại Ketamine cho U với số tiền 3.900.000 đồng, sau đó, U mang về phòng trọ sử dụng cho bản thân.

Lần thứ ba: Vào khoảng 11 giờ ngày 22/02/2024, khi P đang ở nhà trọ thì H2 gọi điện thoại cho P hỏi mua “một chấm” tức là 1.000.000 đồng tiền ma tuý, loại Ketamine. H2 nói tôi đem ma tuý tới quán C gần cầu hai cô để giao cho H2. Sau đó, P đi ra phía hông sau nhà trọ lấy một bịch nylon bên trong chứa ma tuý dạng Ketamine rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Future, biển kiểm soát 93P2 - 812.85 đem đến quán C giao. Sau khi nhận được ma tuý thì H2 chuyển khoản để trả tiền cho P từ số tài khoản của H2 sang số tài khoản 8886866868 của P ở ngân hàng T6.

Lần thứ tư: Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 22/02/2024, khi P đang ở nhà trọ của mình thì H2 tiếp tục gọi điện thoại cho P để mua một viên thuốc lắc, loại MDMA, địa điểm giao ma túy là tại phòng 201 thuộc nhà nghỉ T5. Sau đó, P mang ma tuý đến nhà nghỉ T5 giao cho H2 và lấy số tiền 300.000 đồng.

Ngoài ra, trước đó Nguyễn Văn P có tình cảm yêu đương với Đoàn Thị Bích T, T thường xuyên đến và ở lại phòng trọ của Nguyễn Văn P nên T biết P có ma túy bán cho người khác. P biết T làm nhân viên quán K nhiều khách nên P có đặt vấn đề nếu có khách hát cần mua ma túy để sử dụng thì T sẽ gọi điện cho P để P mang ma túy đến bán cho khách và được T đồng ý. Thông qua T, P đã thực hiện 03 lần bán ma tuý trái phép cho người khác cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: vào khoảng tháng 01/2024, lúc đó T đang ở quán K1 thì gặp đối tượng tên T3, T3 có rủ sử dụng ma túy, T đồng ý nói là lấy đồ đi rồi đi. Lúc này, T3 và P đang nói chuyện với nhau do T3 không có tiền nên P không bán ma tuý cho. T3 nói T đứng ra nhận nợ thay T3 sẽ trả sau, T đồng ý và P đã bán 02 chấm ma tuý loại Ketamin và 01 viên ma tuý loại thuốc lắc với giá là 2.300.000 đồng. Sau đó, cả ba người đến nhà nghỉ T5 sử dụng. T và T3 sử dụng số ma tuý mua của P, còn P tự lấy ma tuý ra chơi riêng. Hiện T đã trả tiền xong cho P.

Lần thứ hai: sau tết nguyên đán năm 2024, Nông Quang H1, SN: 1988 trú tại TDP 8, TT C gọị cho T nói là lấy cho nửa hộp ma tuý Ketamin với số tiền 3.000.000 đồng và đem đến phòng hát ở quán K Phố N. Sau đó, T gọi cho P nói là có khách mua ma tuý mang đến quán Karaoke Phố N giao cho H1. P đã mang ma túy giao cho H1 và nhận 3.000.000 đồng từ H1.

Lần thứ ba: vào khoảng giữa tháng 2/2024, T đang hát ở quán K2 thì có một cuộc gọi đến nhờ T lấy cho nửa hộp ma tuý loại Ketamin với số tiền 3.000.000 đồng, T gọi cho P nói là có khách mua ma túy đem xuống quán Karaoke Phố N. Lúc này, T đang hát ở phòng số 1 đi sang phòng số 2 thấy có 02 người thanh niên lạ, 01 người đưa cho T số tiền 3.000.000 đồng. Khoảng 10 phút sau thì P đến quán, T đi ra đưa tiền cho P và nhận từ P một bịch ma tuý loại Ketamin, T nhận và đưa vào phòng hát số 2 đưa cho khách. Tại cơ quan Công an các bị can và các đối tượng đã khai nhận hành vi của mình như trên.

Tại Kết luận giám định số 290/KL-KTHS ngày 26/02/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh L xác định:

Mẫu tinh thể (M1) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 1.3747 g, loại Ketamine.

Mẫu tinh thể (M2) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 9.1961 g, loại Ketamine.

Mẫu tinh thể (M3) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0.9587 g, loại MDMA.

Mẫu 16 viên nén và 01 mảnh viên nén (M4) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 6.5778 g, loại Methamphetamine.

Ketamine là chất ma tuý nằm trong Danh mục III, STT: 40, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.

MDMA là chất ma tuý nằm trong Danh mục IB, STT: 11, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.

Methaphetamine là chất ma tuý nằm trong Danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.

Số tang vật trên và mẫu vật sau giám định cơ quan CSĐT Công an huyện C đã chuyển đến Chi cục THADS huyện C. BL: 34- 38.

Qúa trình điều tra, Nguyễn Văn P khai nhận nguồn gốc chất ma túy P có là mua của 01 người tên D ở TP Hồ Chí Minh, sau đó P phân chia nhỏ số ma túy để bán lại kiếm lời và sử dụng cho bản thân.

Vật chứng thu giữ được gồm:

01 bịch nylon màu trắng có mếp gấp hàn kín 02 cạnh, kích thước 03cm x 03cm bên trong đựng các cục tinh thể màu trắng, không rõ hình dạng (thu giữ tại hiện trường).

Thu giữ trên người nguyễn Văn P số tiền 1.400.000 đồng.

01 điện thoại di động hiệu Iphone XsMax, màu hồng, mặt, lưng bị nứt vỡ của Nguyễn Văn P; 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi, màu vàng, màn hình bị nứt vỡ của Trần Xuân H2; 01 xe mô tô hiệu Honda Future, màu bạc, BKS 93P2-812.85 BL: 48- 49.

Tiến hành khám xét chỗ ở của Nguyễn Văn P thuộc TDP 2, TT C thu giữ tang vật gồm:

  • 01 đoạn ống hút hình tròn được cuộn bằng tờ tiền Polyme mệnh giá 10.000 đồng, kích thước 18cm x 01cm, bên ngoài ống hút được cố định bằng 02 đoạn vỏ đuôi điếu thuốc hút lá màu vàng, được phát hiện tạm giữ tại phòng ngủ số hai của đối tượng Nguyễn Văn P.
  • 01 đoạn ống hút hình tròn được cuộn bằng tờ tiền Polyme mệnh giá 20.000 đồng, kích thước 20cm x 01cm, bên ngoài ống hút được cố định bằng 02 đoạn vỏ đuôi điếu thuốc lá hút màu vàng, được phát hiện tạm giữ tại phòng ngủ của đối tượng Nguyễn Văn P.
  • 01 bịch nylon màu trắng, được hàn kín 03 canh, có miệng túi là rãnh gấp, kích thước 08cm x 14cm, bên trong bịch nylon đựng 04 bịch nylon khác nhau màu trắng trong 04 bịch nylon dựng các chất dạng tinh thể màu trắng, dạng rắn và các viên nén màu vàng, màu xanh nõn chuỗi và nhiều bịch nylon màu trắng, có rãnh gấp ở miệng túi bên trong bịch rỗng, bịch nylon được cất giấu dưới tấm bê tông hình vuông kích thước 50 em x30cm tại hông bên trái chuồng nuôi heo bỏ hoang tại chỗ ở của Nguyễn Văn P, cụ thể từng bịch có đặc điểm như sau:
  • + Bịch thứ nhất: 01 bịch nylon màu trắng, được hàn kín 03 cạnh, có miệng túi là rãnh gấp, kích thước bịch nylon là 08cm x 05cm, bên trong túi đựng 05 bịch nylon màu trắng, loại có miệng túi là rãnh gấp, cả 05 bịch cùng kích thước là 03 cm x 03cm, bên trong 05 bịch dựng các cục tinh thể màu trắng, dạng rắn.
  • + Bịch thứ hai: 01 bịch nylon màu trắng, được hàn kín 03 cạnh, có miệng túi là rãnh gấp, kích thước bịch nylon là 08cm x 05cm, bên trong bịch đựng 17 viên nén hình vuông, không có nhãn hiệu, màu vàng, kích thước 17 viên nén là 0,5cm x 0,5cm.
  • + Bịch thứ ba: 01 bịch nylon màu trắng, được hàn kín 03 cạnh, có miệng túi là rãnh gấp, kích thước bịch nylon là 07cm x 12cm, bên trong bịch đựng 02 viên nén hình bầu dục, không có nhãn hiệu, màu xanh nõn chuối.
  • + Bịch thứ tư: 01 bịch nylon màu trắng, được hàn kín 03 cạnh, có miệng túi là rãnh gấp, kích thước bịch nylon là 06cm x 09cm, bên trong túi đựng 05 bịch nylon màu trắng, loại có miệng túi là rãnh gấp, cả 05 bịch cùng kích thước là 02cm x 03cm, bên trong 05 bịch đựng các cục tinh thể màu trắng, dạng rắn và 01 bịch nylon kích thước 03cm x 03cm bên trong bịch chứa các cục tinh thể màu trắng, dạng rắn.
  • + 50 bịch nylon màu trắng, họa tiết đỏ, miệng túi có rãnh gấp, kích thước 50 bịch đều là 02cm x 03cm, bên trong rỗng.

Số vật chứng trên và mẫu vật sau giám định cơ quan CSĐT Công an huyện C đã chuyển đến Chi cục THADS huyện C.

Tại bản cáo trạng số 23/CT - VKSCT ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Tiên - Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b,p khoản 2 Điều 251 BLHS; bị cáo Đoàn Thị Bích T về tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS; .

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi mua bán chất ma túy của mình theo như nội dung của cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và không có ý kiến thắc mắc hay khiếu nại gì.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt từng bị cáo như sau:

Áp dụng điểm r, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; điểm b,p khoản 2 Điều 251 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ 08 năm đến 09 năm tù.

Áp dụng điểm r, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 ; Điều 58; Điều 38; điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS, xử phạt bị cáo Đoàn Thị Bích T từ 07 năm đến 08 năm tù.

Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng và truy thu của bị cáo P số tiền thu lợi bất chính.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố của các Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại nào về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được tiến hành hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung của vụ án và cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đã thể hiện ngoài lần Nguyễn Văn P mua chất ma túy để bán trái phép cho Trần Xuân H2 nhằm thu lợi bất chính bị cơ quan điều tra bắt quả tang vào ngày 22/02/2024.Nguyễn Văn P còn bán ma túy cho Nông Quang H1 01 lần, cho nhóm thanh niên không rõ lai lịch 01 lần và cho đối tượng tên T3 01 lần. Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ được của Nguyễn Văn P nhằm mục đích bán lại cho người khác là 10.5708g, loại Ketamine; 0.9587g, loại MDMA và 6.5778g, loại Methamphetamine. Đoàn Thị Bích T biết P mua ma tuý về bán cho các con nghiện để thu lợi bất chính, T không can ngăn và khuyên P dừng việc bán trái phép chất ma tuý mà còn giúp P trong việc bán chất trái phép chất ma tuý cho người khác.Thông qua T, P đã thực hiện 03 lần bán ma tuý trái phép cho người khác nhằm thu lợi bất chính

Do đó có đủ cơ sở kết tội bị cáo Nguyễn Văn P về tội " Mua bán trái phép chất ma túy " với tình tiết định khung là Phạm tội 02 lần trở lên; Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này theo điểm b,p khoản 2 Điều 251 BLHS. Bị cáo Đoàn Thị Bích T về tội " Mua bán trái phép chất ma túy " với tình tiết định khung là Phạm tội 02 lần trở lên theo điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS.

Trong vụ án trên, Trần Xuân H2, Nông Quang H1 và Phạm Thị Ngọc U đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hành vi nêu trên không cấu thành tội phạm Cơ quan điều tra đã tách xử lý riêng nên không đề nghị xử lý. Đối tượng tên T4 đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đối tượng tên D đã có hành vi bán ma túy cho Nguyễn Văn P, tuy nhiên, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, chưa làm việc với các đối tượng nên CQĐT tiếp tục xác minh, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Bị cáo P là người trực tiếp mua ma tuý về bán cho các đối tượng nghiện. Bị cáo T là người giúp sức trong việc tìm kiếm người mua để P bán ma tuý trái phép cho người khác nhằm thu lợi bất chính.

[3] Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, mà đây còn là mầm mống phát sinh các loại tệ nạn, tội phạm khác như hút chích, trộm cắp làm ảnh hưởng đến lối sống lành mạnh, sự phát triển giống nòi và ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. Do vậy cần áp dụng một mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội tự thú. Được quy định tại các điểm r,s khoản 1 Điều 51 BLHS, bị cáo T là người giúp sức trong vụ án nên áp dụng Điều 54 xử dưới mức khung hình phạt.

Về nhân thân của các bị cáo. Bị cáo Đoàn Thị Bích T có nhân thân tốt; Bị cáo Nguyễn Văn P có nhân thân xấu, cụ thể. Năm 2012, bị chủ tịch UBND huyện B, Bình Phước áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa đi trường G; ngày 22/8/2017, bị TAND huyện Bù Gia Mập, Bình Phước xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; ngày 23/9/2019, bị TAND thị xã Thuận An, Bình Dương áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng. Mặc dù bị cáo đã chấp hành xong các tiền án, tiền sự nhưng cho thấy bị cáo P không lấy đó làm bài học cho bản thân để tu dưỡng, sửa chữa để trở thành người có ích cho xã hội mà tiếp tục có hành vi phạm tội, thể hiện bị cáo là người coi thường pháp luật.

[4] Xét thấy: Cần cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để các bị cáo có điều kiện cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[5] Về xử lý vật chứng:

Số tiền 3.425.000 đ ( Ba triệu bốn trăm hai mươi lăm ngàn đồng) tại Lệnh phong toả tài khoản số 76/ LPT – ĐCSHS-KTMT ngày 19/6/2024 của Cơ quan điều tra Công an huyện C đối với bị cáo Nguyễn Văn P trong tài khoản số 8886866868 mở tại Ngân hàng T7 chi nhánh B và số tiền mà cơ quan điều tra thu giữ trên người của bị cáo Nguyễn Văn P khi bị bắt quả tang, số tiền 1.400.000 ₫ ( Một triệu bốn trăm ngàn đồng), đây là số tiền thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy giữa bị cáo và các đối tượng trên, cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, màu bạc, BKS: 93P2-81285. Đây là xe của chị Nguyễn Thị Hồng H mà bị cáo tự ý lấy đi để bán trái phép chất ma tuý nhưng chị H không biết nên cần trả lại cho chủ sở hữu chị Nguyễn Thị Hồng H.

- 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone XsMax, màu hồng; tình trạng: mặt, lưng bị nứt vỡ không rõ hình dạng; 01 điện thoại di dộng, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Xiaomi, màu vàng; tình trạng: màn hình bị nứt vỡ không rõ hình dạng. Đây là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

- Ma tuý, loại Ketamine (M1+M2), khối lượng: 9,5943 gam; Ma tuý loại MDMA (M3), khối lượng: 0,4596 gam; Ma tuý loại Methamphetamine (M4), khối lượng: 5,7733 gam được niêm phong trong túi có mã số 290/2024-PC09; Bịch nylon, số lượng 50 bịch, đặc điểm: màu trắng, họa tiết đỏ, miệng túi có rãnh gấp, kích thước 50 bịch đều giống nhau là 02cm x 03cm. Đây là tang vật của vụ án và xét thấy không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

[1] Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn PĐoàn Thị Bích T phạm tội " Mua bán trái phép chất ma túy".

Áp dụng điểm b, p khoản 2 Điều 251; Điều 17; Điều 58; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 07 ( bảy ) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 23/02/2024).

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 17; Điều 58; Điều 54; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Đoàn Thị Bích T 05 ( năm ) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 27/02/2024).

[2] Áp dụng Điều 46 BLHS; Điều 106 BLTTHS.

- Trả lại cho chị Nguyễn Thị Hồng H 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, màu bạc, BKS: 93P2-81285.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: Số tiền 4.825.000 đ ( Bốn triệu tám tram hai mươi lăm ngàn đồng); 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone XsMax, màu hồng; tình trạng: mặt, lưng bị nứt vỡ không rõ hình dạng; 01 điện thoại di dộng, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Xiaomi, màu vàng; tình trạng: màn hình bị nứt vỡ không rõ hình dạng.

- Tịch thu tiêu hủy: Ma tuý, loại Ketamine (M1+M2), khối lượng: 9,5943 gam; Ma tuý loại MDMA (M3), khối lượng: 0,4596 gam; Ma tuý loại Methamphetamine (M4), khối lượng: 5,7733 gam được niêm phong trong túi có mã số 290/2024-PC09; Bịch nylon, số lượng 50 bịch, đặc điểm: màu trắng, họa tiết đỏ, miệng túi có rãnh gấp, kích thước 50 bịch đều giống nhau là 02cm x 03cm.

Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục thi hành án dân sự huyện Cát Tiên ngày 31/7/2024. Và theo Lệnh phong toả tài khoản số 76/ LPT – ĐCSHS-KTMT ngày 19/6/2024 của Cơ quan điều tra Công an huyện C.

[3] Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND huyện Cát Tiên;
  • - Công an huyện Cát Tiên;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Cát Tiên;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Bộ phận theo dõi THA phạt tù;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Bùi Cao Chức

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/HSST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT TIÊN - TỈNH LÂM ĐỒNG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 25/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT TIÊN - TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Phụng cùng đồng phạm phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger