TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN Bản án số: 25/2024/KDTM-ST Ngày 26-9-2024 V/v "Tranh chấp Hợp đồng tín dụng" | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Công Hạnh và ông Trần Đại Minh.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Cao Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Sơn – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2024/TLST-KDTM ngày 02 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXX-ST ngày 26 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng N; Địa chỉ: Số B đường L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội; Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Cao Tấn T – Chức vụ: Trưởng phòng kế hoạch kinh doanh Ngân hàng N – Chi nhánh Nam thành phố T; Địa chỉ: 3 N, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên (Theo Giấy uỷ quyền ngày 13/5/2024 của Giám đốc Ngân hàng N – Chi nhánh N thành phố T). Có mặt tại phiên toà.
2. Bị đơn: Ông Phan Thanh P, sinh năm 1964 và bà Trịnh Thị Hồng H, sinh năm 1972; Địa chỉ: P V, đường N, Phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Đều vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Thanh L, sinh năm 1971 và bà Trịnh Thị Thúy H1, sinh năm 1971; HKTT: C H, Phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Địa chỉ: D N, Phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày: Để có vốn kinh doanh, ông Phan Thanh P và bà Trịnh Thị Hồng H ký kết thỏa thuận vay vốn với Ngân hàng N tại Hợp đồng tín dụng số: 4607-LAV-202300600 ngày 09/6/2023: Hạn mức cho vay 10.000.000.000 đồng; phương thức cho vay theo hạn mức; mục đích vay là trồng, chăm sóc và mua bán hoa, cây giống, cây cảnh; thời gian duy trì hạn mức là 01 năm, kể từ ngày ký kết Hợp đồng này đến hết ngày 09/6/2024; Số tiền cho vay, thời hạn cho vay, kỳ hạn trả nợ và lãi suất vay thoả thuận theo từng báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ với tổng dư nợ gốc là 8.600.000.000 đồng.
Để đảm bảo cho khoản vay, ông Phan Thanh P và bà Trịnh Thị Hồng H có thế chấp cho Ngân hàng N gồm 02 tài sản: Tài sản thứ nhất là nhà ở và quyền sử dụng đất tại thửa đất số 120, tờ bản đồ số 7 (chỉnh lý năm 2004), địa chỉ thửa đất: Lô P, Phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN 950849, số vào sổ cấp GCN: CS 01848 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh P cấp ngày 25/9/2018, tặng cho ông Phan Thanh P được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T xác nhận ngày 19/6/2019 tại Hợp đồng thế chấp bất động sản để bảo đảm nghĩa vụ của bên thứ ba số CN950849/HĐTC ngày 26/01/2021 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp số CN950849/HĐTC/PLHĐ/02 ngày 08/6/2023 được ký kết giữa các bên có đăng ký giao dịch bảo đảm; Tài sản thứ hai là nhà ở và quyền sử dụng đất tại thửa đất số 165, tờ bản đồ số 256-D-10, địa chỉ thửa đất: D N, Phường E, thị xã T (nay Phường G, thành phố T), tỉnh Phú Yên theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 3901054901, hồ sơ gốc số 290/SH-TXTH do Ủy ban nhân dân tỉnh P cấp ngày 02/02/1999, chuyển nhượng cho ông Phan Thanh P được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T xác nhận ngày 07/7/2020 tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 3901054901/HĐTC ngày 08/7/2020 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp số 3901054901/HĐTC/PLHĐ/02 ngày 08/6/2023 được ký kết giữa các bên có đăng ký giao dịch bảo đảm.
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, ông Phan Thanh P và bà Trịnh Thị Hồng H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ vào ngày 01/3/2024, Ngân hàng đã nhiều lần làm việc trực tiếp và có văn bản yêu cầu ông Phan Thanh P và bà Trịnh Thị Hồng H thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng vẫn không thực hiện, liên tiếp vi phạm nghĩa vụ đã cam kết. Đến ngày 22/7/2024, ông Phan Thanh P và bà Trịnh Thị Hồng H đã trả cho Ngân hàng nợ gốc là 6.500.000.000 đồng, hiện dư nợ gốc là 2.100.000.000 đồng và Ngân hàng đã giải chấp một tài sản là quyền sử dụng đất và nhà ở tại thửa đất số 120, tờ bản đồ số 7 (chỉnh lý năm 2004), địa chỉ thửa đất: Lô P, Phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Tính đến ngày 26/9/2024, bị đơn ông Phan Thanh P và bà Trịnh Thị Hồng H còn nợ Ngân hàng N tổng cộng là 2.273.084.931 đồng (Trong đó: Nợ gốc là 2.100.000.000 đồng, lãi trong hạn là 134.728.767 đồng, lãi quá hạn là 38.356.164 đồng).
Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Phan Thanh P và bà Trịnh Thị Hồng H phải thanh toán dứt điểm số nợ trên và kể từ ngày 27/9/2024 cho đến khi trả xong số tiền trên, ông Phan Thanh P và bà Trịnh Thị Hồng H còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số: 4607-LAV-202300600 ngày 09/6/2023 và các Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ được ký kết giữa các bên. Trong trường hợp ông Phan Thanh P và bà Trịnh Thị Hồng H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán số nợ nêu trên cho Ngân hàng N thì Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 165, tờ bản đồ số 256-D-10, địa chỉ thửa đất: D N, Phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên để thu hồi nợ.
Ngân hàng xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về số tiền nợ gốc bị đơn đã trả là 6.500.000.000 đồng và tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và nhà ở tại thửa đất số 120, tờ bản đồ số 7 (chỉnh lý năm 2004), địa chỉ thửa đất: Lô P, Phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên tại Hợp đồng thế chấp bất động sản để bảo đảm nghĩa vụ của bên thứ ba số CN950849/HĐTC ngày 26/01/2021 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp số CN950849/HĐTC/PLHĐ/02 ngày 08/6/2023 được ký kết giữa Ngân hàng N và ông Phan Thanh P, bà Trịnh Thị Hồng H.
Bị đơn ông Phan Thanh P trình bày: Vợ chồng chúng tôi có ký kết thỏa thuận vay vốn với Ngân hàng N tại Hợp đồng tín dụng số: 4607-LAV-202300600 ngày 09/6/2023. Để đảm bảo cho khoản vay, chúng tôi có thế chấp 02 tài sản là nhà ở tại Lô P, Phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên và nhà ở tại D N, Phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên như đại diện Ngân hàng trình bày. Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, chúng tôi đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện. Tính đến ngày 14/5/2024, vợ chồng chúng tôi còn nợ Ngân hàng tổng cộng là 8.954.505.479 đồng (Trong đó: Nợ gốc là 8.600.000.000 đồng, lãi trong hạn là 316.013.698 đồng, lãi quá hạn là 38.491.781 đồng) như đại diện Ngân hàng trình bày. Do quá trình kinh doanh thua lỗ, chúng tôi thống nhất bán hai căn nhà nói trên để trả nợ cho Ngân hàng, thời gian trả nợ trong vòng 30 ngày (tính từ ngày 14/5/2024).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Thanh L trình bày: Hiện nhà và đất tại thửa đất số 165, tờ bản đồ số 256-D-10, địa chỉ thửa đất: D N, Phường E, thị xã T, (nay Phường G, thành phố T), tỉnh Phú Yên do ông và bà Trịnh Thị Thúy H1 trực tiếp quản lý và sử dụng. Tài sản này hiện đang thế chấp tại Ngân hàng N, chúng tôi xin Toà cho thêm thời gian đến ngày 20/9/2024, chúng tôi và vợ chồng ông Phan Thanh P, bà Trịnh Thị Hồng H tất toán nợ cho Ngân hàng.
Bị đơn bà Trịnh Thị Hồng H; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị Thúy H1 vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa:
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn giữ nguyên ý kiến trình bày. Bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 463, 465, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 100, 103 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2024. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N, buộc bị đơn ông Phan Thanh P và bà Trịnh Thị Hồng H có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Ngân hàng N số tiền 2.273.084.931 đồng (Trong đó: Nợ gốc là 2.100.000.000 đồng, nợ lãi là 173.084.931 đồng) tính đến ngày 26/9/2024. Căn cứ các Điều 317, 318, 319, 320, 323, 326 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nếu bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, nguyên đơn có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và nhà ở tại thửa đất số 165, tờ bản đồ số 256-D-10, địa chỉ thửa đất: D N, Phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên để thu hồi nợ. Căn cứ Điều 217 của Bộ luật tố tụng Dân sự, đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền bị đơn đã trả là 6.500.000.000 đồng và tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và nhà ở tại thửa đất số 120, tờ bản đồ số 7, địa chỉ thửa đất: Lô P, Phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N về Hợp đồng tín dụng giữa cá nhân và tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận là tranh chấp kinh doanh thương mại theo quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn cư trú tại thành phố T, tỉnh Phú Yên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Về giải quyết vắng mặt của đương sự: Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa đã tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để xét xử nhưng vắng mặt nên căn cứ vào các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về hiệu lực của Hợp đồng: Hợp đồng tín dụng số: 4607-LAV-202300600 ngày 09/6/2023 được ký kết giữa nguyên đơn Ngân hàng N và bị đơn ông Phan Thanh P, bà Trịnh Thị Hồng H có nội dung và hình thức phù hợp với quy định pháp luật nên có hiệu lực thi hành.
- Căn cứ Hợp đồng tín dụng số: 4607-LAV-202300600 ngày 09/6/2023, các báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ được ký kết giữa các bên và các tài liệu, chứng cứ khác, đủ cơ sở xác định: Bị đơn ông Phan Thanh P và bà Trịnh Thị Hồng H có vay của nguyên đơn Ngân hàng N, hạn mức cho vay 10.000.000.000 đồng; phương thức cho vay theo hạn mức; mục đích vay là trồng, chăm sóc và mua bán hoa, cây giống, cây cảnh; thời gian duy trì hạn mức là 01 năm, kể từ ngày ký kết Hợp đồng này đến hết ngày 09/6/2024; Số tiền cho vay, thời hạn cho vay, kỳ hạn trả nợ và lãi suất vay thoả thuận theo từng báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ với tổng dư nợ gốc là 8.600.000.000 đồng. Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, là vi phạm Hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết. Đến ngày 22/7/2024, ông Phan Thanh P và bà Trịnh Thị Hồng H đã trả cho Ngân hàng nợ gốc là 6.500.000.000 đồng, hiện dư nợ gốc là 2.100.000.000 đồng và Ngân hàng đã giải chấp một tài sản là quyền sử dụng đất và nhà ở tại thửa đất số 120, tờ bản đồ số 7 (chỉnh lý năm 2004), địa chỉ thửa đất: Lô P, Phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N là có căn cứ chấp nhận, buộc bị đơn ông Phan Thanh P và bà Trịnh Thị Hồng H phải có trách nhiệm trả nợ cho nguyên đơn Ngân hàng N đến ngày 26/9/2024, tổng cộng là 2.273.084.931 đồng (Trong đó: Nợ gốc là 2.100.000.000 đồng, lãi trong hạn là 134.728.767 đồng, lãi quá hạn là 38.356.164 đồng).
- Kể từ ngày 27/9/2024 cho đến khi trả xong nợ gốc, bị đơn còn phải tiếp tục trả lãi trên nợ gốc chưa thanh toán theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số: 4607-LAV-202300600 ngày 09/6/2023 và các báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ được ký kết giữa các bên.
- Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về số tiền nợ gốc bị đơn đã trả là 6.500.000.000 đồng và tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và nhà ở tại thửa đất số 120, tờ bản đồ số 7 (chỉnh lý năm 2004), địa chỉ thửa đất: Lô P, Phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên tại Hợp đồng thế chấp bất động sản để bảo đảm nghĩa vụ của bên thứ ba số CN950849/HĐTC ngày 26/01/2021 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp số CN950849/HĐTC/PLHĐ/02 ngày 08/6/2023 được ký kết giữa Ngân hàng N và ông Phan Thanh P, bà Trịnh Thị Hồng H nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 217 của Bộ luật tố tụng Dân sự, chấp nhận việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn đối với số tiền nợ gốc bị đơn đã trả là 6.500.000.000 đồng và tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và nhà ở tại thửa đất số 120, tờ bản đồ số 7 (chỉnh lý năm 2004), địa chỉ thửa đất: Lô P, Phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
- Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm, xét thấy: Việc thế chấp tài sản để đảm bảo cho khoản vay của bị đơn tại Ngân hàng N được lập thành văn bản và có đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng trình tự, quy định tại các Điều 297, 298, 317, 318, 319 của Bộ luật Dân sự, các bên không ai có ý kiến gì nên Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 3901054901/HĐTC ngày 08/7/2020 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp số 3901054901/HĐTC/PLHĐ/02 ngày 08/6/2023 được ký kết giữa các bên phát sinh hiệu lực nên buộc các bên phải thi hành. Do đó, trường hợp bị đơn không trả hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 165, tờ bản đồ số 256-D-10, địa chỉ thửa đất: D N, Phường E, thị xã T (nay Phường G, thành phố T), tỉnh Phú Yên theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 3901054901 do Ủy ban nhân dân tỉnh P cấp ngày 02/02/1999, chuyển nhượng cho ông Phan Thanh P được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T xác nhận ngày 07/7/2020 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 3901054901/HĐTC ngày 08/7/2020 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp số 3901054901/HĐTC/PLHĐ/02 ngày 08/6/2023 được ký kết giữa Ngân hàng N và ông Phan Thanh P, bà Trịnh Thị Hồng H để thu hồi nợ là có căn cứ theo quy định tại Điều 299, khoản 7 Điều 323 và Điều 368 của Bộ luật Dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Đối với ý kiến trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Thanh L, Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện nhà và đất tại thửa đất số 165, tờ bản đồ số 256-D-10, địa chỉ thửa đất: D N, Phường E, thị xã T, (nay Phường G, thành phố T), tỉnh Phú Yên do ông Phan Thanh L và bà Trịnh Thị Thúy H1 trực tiếp quản lý và sử dụng là phù hợp với ý kiến trình bày của bị đơn ông Phan Thanh P và bà Trịnh Thị Hồng H tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 05/6/2024. Tài sản này hiện đang thế chấp tại Ngân hàng N, ông Phan Thanh L xin Toà cho thêm thời gian đến ngày 20/9/2024, ông và vợ chồng ông Phan Thanh P, bà Trịnh Thị Hồng H tất toán nợ cho Ngân hàng.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Căn cứ Điều 157 của Bộ luật tố tụng Dân sự, bị đơn ông Phan Thanh P và bà Trịnh Thị Hồng H phải chịu số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng, nguyên đơn Ngân hàng N đã nộp tạm ứng số tiền 3.000.000 đồng nên bị đơn phải có trách nhiệm hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 3.000.000 đồng.
- Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định pháp luật, hoàn trả cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 297, 298, 299, 317, 318, 319, 323, 368, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 100, 103 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N.
Buộc bị đơn ông Phan Thanh P và bà Trịnh Thị Hồng H phải có trách nhiệm trả nợ cho nguyên đơn Ngân hàng N đến ngày 26/9/2024, tổng cộng là 2.273.084.931 đồng (Trong đó: Nợ gốc là 2.100.000.000 đồng, lãi trong hạn là 134.728.767 đồng, lãi quá hạn là 38.356.164 đồng) về khoản tranh chấp Hợp đồng tín dụng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (tức ngày 27/9/2024) cho đến khi trả xong nợ gốc, bị đơn ông Phan Thanh P và bà Trịnh Thị Hồng H còn phải tiếp tục trả lãi trên nợ gốc chưa thanh toán theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số: 4607-LAV-202300600 ngày 09/6/2023 và các báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ được ký kết giữa nguyên đơn Ngân hàng N và bị đơn ông Phan Thanh P, bà Trịnh Thị Hồng H.
Trường hợp bị đơn ông Phan Thanh P và bà Trịnh Thị Hồng H không trả hoặc trả không đầy đủ thì nguyên đơn Ngân hàng N được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 165, tờ bản đồ số 256-D-10, địa chỉ thửa đất: D N, Phường E, thị xã T (nay Phường G, thành phố T), tỉnh Phú Yên theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 3901054901 do Ủy ban nhân dân tỉnh P cấp ngày 02/02/1999, chuyển nhượng cho ông Phan Thanh P được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T xác nhận ngày 07/7/2020 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 3901054901/HĐTC ngày 08/7/2020 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp số 3901054901/HĐTC/PLHĐ/02 ngày 08/6/2023 được ký kết giữa nguyên đơn Ngân hàng N và bị đơn ông Phan Thanh P, bà Trịnh Thị Hồng H để thu hồi nợ.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền nợ gốc bị đơn đã trả là 6.500.000.000 đồng và tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và nhà ở tại thửa đất số 120, tờ bản đồ số 7 (chỉnh lý năm 2004), địa chỉ thửa đất: Lô P, Phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên tại Hợp đồng thế chấp bất động sản để bảo đảm nghĩa vụ của bên thứ ba số CN950849/HĐTC ngày 26/01/2021 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp số CN950849/HĐTC/PLHĐ/02 ngày 08/6/2023 được ký kết giữa nguyên đơn Ngân hàng N và bị đơn ông Phan Thanh P, bà Trịnh Thị Hồng H.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Căn cứ Điều 157 của Bộ luật tố tụng Dân sự, bị đơn ông Phan Thanh P và bà Trịnh Thị Hồng H phải có trách nhiệm hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng N số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng.
- Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị đơn ông Phan Thanh P và bà Trịnh Thị Hồng H phải chịu 77.461.699 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng N số tiền 58.398.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002362 ngày 01 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Yên; - VKSND TP. Tuy Hòa; - Chi cục THADS TP. Tuy Hoà; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thanh Vân |
Bản án số 25/2024/KDTM-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 25/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và bị đơn Phan Thanh Phong, Trịnh Thị Hồng Hoa
