|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH O THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Số: 25/2024/DS -ST Ngày: 26/9/2024 V/v:Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH O –TP HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Tiến Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Bá Ngọc
Bà Nguyễn Thị Nguyệt
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Anh Bích -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh O.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh O tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thọ Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh O, Thành phố Hà Nội. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 04/2024/TLST- DS ngày 09 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXX-ST ngày 05 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 38/2024/QĐST- HPT ngày 20 tháng 9 năm 2029 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank), địa chỉ trụ sở: Số 89 Láng Hạ, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Phóng, sinh năm 1997, chuyên viên xử lý nợ Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) theo giấy Ủy quyền số: 1207/2024/UQ-LCC-KHCNMB1 ngày 12/7/2024.
- Bị đơn: Ông Phạm Văn K, sinh năm 1985, CCCD số: 03608501**** do Cục cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 27/12/2021. ĐKHKTT: P932, HH01B, KĐT Thanh H, xã Cự Kh, huyện Thanh O, thành phố Hà Nội.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Phạm Thị T, sinh năm 1992, CCCD số: 03619201**** do Cục cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 25/10/2022 (là vợ của ông Phạm Văn K).
ĐKHKTT: P932, HH01B, KĐT Thanh H, xã Cự Kh, huyện Thanh O, thành phố Hà Nội.
(Tại phiên tòa: Nguyên đơn có mặt; Bị đơn xin xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai, nguyên đơn và người đại diện của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) đã cho ông Phạm Văn K vay vốn tổng số tiền là 790,000,000 đồng (Bảy trăm chín mươi triệu đồng) theo Hợp đồng cho vay và văn bản tín dụng, cụ thể như sau:
Theo Hợp đồng cho vay số LN2212277968998 ngày 04/01/2023 cùng khế ước nhận nợ kèm theo:
Số tiền cho vay: 790,000,000 đồng (Bảy trăm chín mươi triệu đồng).
Thời hạn vay: 84 tháng.
Mục đích vay: Thanh toán tiền mua xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, Camry 2.5Q, 2.5L, AT.
Lãi suất: Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 13% năm (lãi suất được tính theo năm với một năm là 365 ngày). Lãi suất cho vay được cố định 12 tháng kể từ ngày giải ngân. Lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/1 lần vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07 và 01/10 hàng năm. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 05/01/2024, ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là ngày 01/04/2024. Mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng Lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 84 tháng được bên Ngân hàng công bố có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh (+) biên độ 3,6%/năm.
Lãi suất cho vay áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn (lãi suất quá hạn): bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả: Bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên theo Hợp đồng thế chấp số LN2212277968998 ngày 04/01/2023 giữa VPBank với ông Phạm Văn K và bà Phạm Thị T là: 01 xe ô tô, nhãn hiệu TOYOTA CAMRY 2.5Q, 2.5L, AT số khung MR2BF3HK60401***, số máy 2AR254****; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 29001784, biển kiểm soát 30K-124.99 do Công an huyện Thanh O, TP. Hà Nội cấp ngày 30/12/2022 thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Ông Phạm Văn K và Bà Phạm Thị T. Tất cả các phụ tùng, thiết bị, vật phụ ... được lắp thêm, thay thế vào Tài sản thế chấp cũng thuộc tài sản Thế chấp.
Quá trình thực hiện các hợp đồng tín dụng, ông K đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với VPBank kể từ ngày 15/4/2023 nên bị chuyển nợ quá hạn và phải chịu mức lãi suất quá hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng.
Tính đến ngày 26/9/2024, ông Phạm Văn K đã thanh toán cho VPBank số tiền theo Hợp đồng cho vay số LN2212277968998 ngày 04/01/2023 là 38,989,019 đồng (trả nợ gốc là 19,412,483 đồng, trả nợ lãi là 19,576,536 đồng).
Tính đến ngày 26/9/2024, theo Hợp đồng cho vay số LN2212277968998 ngày 04/01/2023 ông Phạm Văn K còn nợ VPBank tổng số tiền là: 987,022,874 đồng, trong đó số tiền nợ gốc là 770,587,517 đồng, số tiền nợ lãi là 216,435,357 đồng.
Nay Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết: Buộc ông Phạm Văn K phải thanh toán cho VPBank toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền lãi chậm trả lãi và các khoản phát sinh liên quan đến các hợp đồng tín dụng nêu trên. Tạm tính đến ngày 26/9/2024 số tiền này là: 987,022,874 đồng đồng (Chín trăm tám mươi bảy triệu, không trăm hai mươi hai nghìn, tám trăm bảy mươi tư đồng), trong đó số tiền nợ gốc là 770,587,517 đồng, số tiền nợ lãi là 216,435,357 đồng.
Buộc ông Phạm Văn K tiếp tục phải chịu lãi suất theo đúng thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng đã ký cho đến ngày ông Phạm Văn K thực tế thanh toán hết nợ cho ngân hàng VPBank.
Trường hợp ông Phạm Văn K không thanh toán hoặc thanh toán không đủ khoản nợ theo các Hợp đồng nêu trên cho VPBank, yêu cầu Tòa án tuyên trong bản án VPBank có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản là 01 xe ô tô, nhãn hiệu TOYOTA CAMRY 2.5Q, 2.5L, AT số khung MR2BF3HK60401***, số máy 2AR254****; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 29001784, biển kiểm soát 30K-124.99 do Công an huyện Thanh O, TP. Hà Nội cấp ngày 30/12/2022 thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Ông Phạm Văn K và Bà Phạm Thị T để thu hồi nợ cho VPBank. Tất cả các phụ tùng, thiết bị, vật phụ ... được lắp thêm, thay thế vào Tài sản thế chấp cũng thuộc tài sản Thế chấp.
Trường hợp tài sản trên không đủ để thanh toán nghĩa vụ của ông Phạm Văn K tại VPBank, ông Phạm Văn K phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Bản án/Quyết định của Tòa án cho đến khi hết toàn bộ nghĩa vụ với VPBank.
- Bị đơn là ông Phạm Văn K trình bày: ông có vay vốn của ngân hàng VPBank và tính đến ngày 26/9/2024 xác nhận: dư nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết là 987,022,874 đồng, trong đó số tiền nợ gốc là 770,587,517 đồng, số tiền nợ lãi là 216,435,357 đồng. Ông xác nhận ông và bà T (vợ ông) đã thế chấp xe ô tô để vay vốn tại ngân hàng VPBank. Nếu ông không thanh toán được số tiền trên thì đồng ý để ngân hàng VPBank xử lý tài sản thế chấp.
- Tại phiên tòa: Đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn, cụ thể yêu cầu ông Phạm Văn K phải thanh toán trả VPBank toàn bộ số tiền tạm tính đến ngày 26/9/2024 là 987,022,874 đồng (Chín trăm tám mươi bảy triệu, không trăm hai mươi hai nghìn, tám trăm bảy mươi tư đồng), trong đó số tiền nợ gốc là 770,587,517 đồng, số tiền nợ lãi là 216,435,357 đồng. Và khoản tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng đã ký kể từ ngày 27/9/2024 đến khi ông K tất toán toàn bộ khoản vay.
Kể từ khi Toà án thụ lý vụ án để giải quyết cho đến nay, bị đơn đều đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của VPBank.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh O phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không thực hiện đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Từ những căn cứ có trong hồ sơ và ý kiến của nguyên đơn tại phiên tòa, có đủ cơ sở đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo số liệu đề nghị chi tiết tại phiên tòa và quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo thủ tục chung.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp thanh toán phát sinh từ Hợp đồng tín dụng trong thời hiệu quy định tại điều 429 Bộ luật dân sự, nơi cư trú của bị đơn và tài sản liên quan trong vụ án tại huyện Thanh O nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh O theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 39, Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung khởi kiện: Hợp đồng tín dụng được ký kết giữa các bên trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với ngành nghề đăng ký kinh doanh của nguyên đơn nên có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành.
Các tài liệu do nguyên đơn xuất trình thể hiện: Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) đã giải ngân cho ông Phạm Văn K vay số tiền 790,000,000 đồng (Bảy trăm chín mươi triệu đồng) theo Hợp đồng cho vay số LN2212277968998 ngày 04/01/2023 cùng khế ước nhận nợ kèm theo.
Tính đến ngày 26/9/2024, ông Phạm Văn K đã thanh toán cho VPBank số tiền theo Hợp đồng cho vay số LN2212277968998 ngày 04/01/2023 là: 38.989.019 đồng (trả nợ gốc là: 19.412.483 đồng, trả nợ lãi là: 19.576.536 đồng).
Tính đến ngày 26/9/2024, theo Hợp đồng cho vay số LN2212277968998 ngày 04/01/2023 ông Phạm Văn K còn nợ VPBank tổng số tiền là: 987.022.874 đồng, trong đó số tiền nợ gốc là 770,587,517 đồng, số tiền nợ lãi là 216,435,357 đồng.
Nguyên đơn yêu cầu Tòa án Buộc ông Phạm Văn K phải thanh toán trả VPBank: Toàn bộ số tiền tạm tính đến ngày 26/9/2024 là: 987,022,874 đồng, trong đó số tiền nợ gốc là 770,587,517 đồng, số tiền nợ lãi là 216,435,357 đồng. Và khoản tiền lãi phát sinh theo các Hợp đồng đã ký đến khi ông K tất toán toàn bộ khoản vay.
Đối chiếu với các thỏa thuận ghi trong các Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ, bảng kê tính lãi do VPBank cung cấp, thấy mức lãi suất Ngân hàng áp dụng và yêu cầu bị đơn phải trả là phù hợp với quy định của VPBank, của Thống đốc ngân hàng nhà nước cũng như quy định của Bộ luật dân sự về lãi suất; phù hợp với các thỏa thuận tại các Hợp đồng, khế ước nhận nợ giữa các bên nên có cơ sở chấp nhận.
Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) buộc ông Phạm Văn K phải thanh toán trả VPBank: Toàn bộ số tiền tạm tính đến ngày 26/9/2024 là: 987.022.874 đồng (Chín trăm tám mươi bảy triệu, không trăm hai mươi hai nghìn, tám trăm bảy mươi tư đồng), và khoản tiền lãi phát sinh kể từ ngày 27/9/2024 đến khi tất toán toàn bộ khoản vay theo số liệu chi tiết trên.
Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của nguyên đơn thì thấy: theo Hợp đồng thế chấp số LN2212277968998 ngày 04/01/2023 giữa VPBank với ông Phạm Văn K và bà Phạm Thị T thế chấp 01 xe ô tô, nhãn hiệu TOYOTA CAMRY 2.5Q, 2.5L, AT số khung MR2BF3HK60401***, số máy 2AR254****; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 29001784, biển kiểm soát 30K-124.99 do Phòng Cảnh sát giao thông công an TP. Hà Nội cấp ngày 30/12/2022 thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Ông Phạm Văn K và Bà Phạm Thị T có nội dung và hình thức phù hợp nên là hợp đồng hợp pháp. Các hợp đồng được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định nên có hiệu lực thi hành. Vì vậy trường hợp ông Phạm Văn K không thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ thì Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) có quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp theo thủ tục chung để thu hồi nợ.
[3] Về ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh O: Yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Nguyên đơn. Hội đồng xét xử nhận thấy quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh O là đúng quy định của pháp luật nên chấp nhận.
[4] Về án phí sơ thẩm: Yêu cầu của Nguyên đơn được Tòa án chấp nhận toàn bộ nên theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2026 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán trả lại nguyên đơn. Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH;
Căn cứ điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 317, 318, 319, 320,321, 322, 323, 466, 468 Bộ Luật dân sự; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2016 của Chính phủ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2026 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 90, 91, 94, 95 Luật các tổ chức tín dụng.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) đối với ông Phạm Văn K.
-
Buộc ông Phạm Văn K phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank):
- Toàn bộ số tiền còn nợ cho đến ngày 26/9/2024 theo Hợp đồng cho vay số LN2212277968998 ngày 04/01/2023 là: 987.022.874 đồng (Chín trăm tám mươi bảy triệu, không trăm hai mươi hai nghìn, tám trăm bảy mươi tư đồng) trong đó số tiền nợ gốc là 770,587,517 đồng, số tiền nợ lãi là 216.435.357 đồng. Và khoản tiền lãi phát sinh trên khoản nợ gốc theo các thỏa thuận tại các văn bản tín dụng hai bên đã ký kết đến khi ông Phạm Văn K tất toán toàn bộ khoản vay.
- Trường hợp ông Phạm Văn K không trả được khoản tiền tại mục 2.1 nêu trên thì Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản là 01 xe ô tô, nhãn hiệu TOYOTA CAMRY 2.5Q, 2.5L, AT số khung MR2BF3HK60401***, số máy 2AR254****; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 29001784, biển kiểm soát 30K-124.99 do Công an huyện Thanh O, TP. Hà Nội cấp ngày 30/12/2022 thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Ông Phạm Văn K và Bà Phạm Thị T theo Hợp đồng thế chấp số LN2212277968998 ngày 04/01/2023 giữa VPBank với ông Phạm Văn K và bà Phạm Thị T để thu hồi nợ. Tất cả các phụ tùng, thiết bị, vật phụ... được lắp thêm, thay thế vào Tài sản thế chấp cũng thuộc tài sản Thế chấp.
- Trường hợp ông Phạm Văn K trả được khoản nợ ghi tại mục 2 nêu trên thì Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) có trách nhiệm làm thủ tục giải chấp ngay theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp sau khi phát mại tài sản thế chấp, số tiền phát mại không đủ thanh toán cho khoản vay được bảo đảm thì ông Phạm Văn K có nghĩa vụ tiếp tục trả số tiền còn nợ cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) đến khi thanh toán hết số tiền toàn bộ số tiền còn nợ. Trường hợp số tiền phát mại tài sản thế chấp có giá trị lớn hơn số tiền ông Phạm Văn K còn nợ Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) thì số tiền còn lại sau khi thanh toán khoản vay được trả lại cho người thế chấp.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án.
-
Về án phí: Ông Phạm Văn K phải chịu 41.600.000₫ (Bốn mươi mốt triệu sáu trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
-Trả lại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) số tiền 10,000,000 đồng Tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0020603 ngày 03/01/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh O, Hà Nội.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 26/9/2024. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Tiến Dũng |
Bản án số 25/2024/DS -ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH O –TP HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 25/2024/DS -ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH O –TP HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng (Ngân hàng VP Bank - Phạm Văn K)
