Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ GIA MẬP

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 25/2024/DS-ST

Ngày 24-9-2024

“V/V TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN

DỤNG”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Ly

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phan Tấn Lãm
  2. Ông Nguyễn Văn Cường

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Kim Đức – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Hằng – Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 143/2023/TLST-DS ngày 18/12/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 52/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng N1; Địa chỉ: Số B, đường L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội
  2. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V, chức vụ: Tổng giám đốc

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn V1, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N1, chi nhánh huyện B - Bình Phước

    Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Chí C – Chức vụ: Trưởng phòng Kế hoạch và kinh doanh Ngân hàng N1, chi nhánh huyện B - Bình Phước (có mặt).

    Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước.

  3. Bị đơn: Ông Nông Quang H, sinh năm 1977 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Thôn Cầu Sắt, xã Bù Gia Mập, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  6. - Bà Vi Thị H1, sinh năm 1981 (vắng mặt)

    - Chị Nông Uyển N, sinh năm 2000 (vắng mặt)

    Địa chỉ: Thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người đại diện tham gia tố tụng của nguyên đơn ông Nguyễn Chí C trình bày tại các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa như sau:

Vào ngày 22/4/2022 Ngân hàng N1 chi nhánh huyện B - Bình Phước ký hợp đồng tín dụng số 5617-LAV-202201334 với ông Nông Quang H, Ngân hàng cho ông H vay số tiền 400.000.000 (bốn trăm triệu) đồng. Thời hạn vay là 12 tháng, lãi suất trong hạn là 9.5%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, mục đích vay là chăm sóc vườn điều, hồ tiêu, chăn nuôi bò; hạn trả nợ cuối cùng là ngày 22/4/2023. Ngân hàng đã giải ngân số tiền 400.000.000 đồng vào ngày 22/4/2022. Khi vay ông Hạ thế C1 tại Ngân hàng N1 chi nhánh B - Bình Phước theo hợp đồng thế chấp số 000991/HĐTC-QSDĐ ngày 20/4/2022 tài sản: Thửa đất số 243, tờ bản đồ số 19, diện tích 52890,6 m² địa chỉ thửa đất: Thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước; đất đã được Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy CNQSDĐ số CI 299410, số vào sổ cấp GCN: CH001090/CMOI-LP ngày 14/6/2018 cho hộ ông Nông Quang H. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông H không thanh toán được tiền vay gốc và lãi cho ngân hàng. Đến tháng 5/2024 ông H mới thanh toán cho ngân hàng được 150.000.000 đồng tiền vay gốc, đến nay còn nợ lại 250.000.000 đồng tiền vay gốc.

Do đó ngân hàng khởi kiện buộc ông H phải có nghĩa vụ trả cho ngân hàng số tiền gốc vay 250.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn, quá hạn cho đến khi trả hết nợ; trường hợp ông H không trả được nợ thì đề nghị Toà án tuyên ngân hàng được quyền liên hệ chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền để đề nghị xử lý tài sản thế chấp.

Tại phiên toà, ngân hàng rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 150.000.000 đồng do ông H đã trả cho ngân hàng và rút một phần yêu cầu khởi kiện về buộc nghĩa vụ liên đới trả nợ cho ngân hàng đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vi Thị H1, do bà H1 và ông H đã ly hôn từ năm 2008.

Bị đơn ông Nông Quang H trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 04/7/2024:

Vào ngày 22/4/2022 ông H có vay của Ngân hàng N1 chi nhánh huyện B - Bình Phước sô tiền 400.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, mục đích để chăm lo vườn tược. Tuy nhiên do kinh tế khó khăn, nên ông H không có khả năng trả tiền nợ gốc và nợ lãi, đến tháng 5/2024 ông H có trả cho ngân hàng được 150.000.000 đồng tiền vay gốc.

Số tiền 400.000.000 đồng ông H vay một mình để chăm sóc vườn. Bà Vi Thị H1 trước đây là vợ ông nhưng đã ly hôn vào năm 2018, nhưng bà H1 và ông H chưa chia tài sản chung nên chưa đổi giấy chứng nhận vẫn tên hộ ông Nông Quang H, do đó bà H1 và con gái là Nông Uyển N có ký hợp đồng thế chấp để ông H vay tiền ngân hàng, chứ bà H1 và bé N không sử dụng số tiền 400.000.000 đồng ông H vay.

Đối với số tiền còn nợ là 250.000.000 đồng do hoàn cảnh khó khăn nên ông H xin trả dần tiền cho ngân hàng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vi Thị H1 và chị Nông Uyển N đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, nên không có lời khai trong hồ sơ vụ án.

Ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập như sau:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, tòa án đã tiến hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Về những người tham gia tố tụng trong vụ án đã chấp hành đúng quy định.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng N1 về việc yêu cầu bị đơn ông H có nghĩa vụ trả số tiền gốc vay 250.000.000 đồng và tiền lãi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Đây là vụ án tranh chấp dân sự về hợp đồng tín dụng do nguyên đơn Ngân hàng N2 thực hiện quyền khởi kiện. Vì bị đơn ông Nông Quang H cư trú tại xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Đối với bị đơn ông Nông Quang H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vi Thị H1, chị Nông Uyển N, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.

[3] Xét về yêu cầu khởi kiện:

Hợp đồng ký kết giữa ông Nông Quang H và Ngân hàng N1 chi nhánh huyện B có thời hạn vay 12 tháng, từ ngày 22/4/2022 đến 22/4/2023, trong quá trình vay ông H vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc đến hạn và nợ lãi do đó phía ngân hàng được phát sinh quyền khởi kiện ông H.

Tài liệu, chứng cứ Ngân hàng N1 cung cấp để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình gồm hợp đồng tín dụng số 5617-LAV-202201334 ngày 22/4/2022, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất số 000991/HĐTC-QSDĐ ngày 20/4/2022 cùng các tài liệu liên quan. Các tài liệu này đều có chữ ký của ông H, nội dung thỏa thuận là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật về hình thức hợp đồng và nội dung, không trái các quy định tại các Điều 466, 468, 470 Bộ luật dân sự và Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng. Do đó Hội đồng xét xử công nhận hợp đồng tín dụng giữa ông H và Ngân hàng N1 chi nhánh huyện B là hợp pháp nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.

Do đó có đủ cơ sở xác định ông H đã vay của Ngân hàng N1 chi nhánh huyện B số tiền 400.000.000 đồng, hiện nay ông H chỉ mới trả được số tiền 150.000.000 đồng tiền vay gốc, còn nợ lại 250.000.000 đồng tiền vay gốc và nợ lãi. Do đó cần buộc ông H phải trả số tiền này cho ngân hàng.

Đối với tiền nợ lãi: Tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng các bên thoả thuận lãi suất trong hạn là 9.5%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Quá trình thực hiện hợp đồng ông H không thanh toán được tiền lãi. Hiện nay, ông H còn nợ Ngân hàng tiền lãi từ ngày 22/4/2022 cho đến nay với số tiền tổng cộng là 106.298.630 đồng, trong đó lãi trong hạn từ ngày 22/4/2022 đến ngày 21/4/2023 là 39.744.658 đồng; nợ lãi quá hạn từ ngày 22/4/2023 đến 24/9/2024 là 66.553.973 đồng.

Tổng cộng tiền vay gốc và lãi là 356.298.630 đồng, ông H phải có nghĩa vụ trả cho ngân hàng.

[4] Đối với bà Vi Thị H1 đã ly hôn với ông H theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 40/2008/QĐST-HNGĐ ngày 09/6/2008 của Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bình Phước và bà H1 không còn sống chung với ông H sau khi ly hôn; do đó số tiền vay 400.000.000 đồng do ông H vay ngày 22/4/2022 của ngân hàng là nợ riêng của ông H. Do đó bà H1 không có nghĩa vụ cùng ông H trả số tiền này. Do đó việc ngân hàng rút một phần yêu cầu khởi kiện về buộc nghĩa vụ liên đới trả nợ cho ngân hàng đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vi Thị H1 được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Xét hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất số 000991/HĐTC-QSDĐ ngày 20/4/2022 đã ký kết giữa ngân hàng và ông Nông Quang H tuân thủ đúng các quy định về nội dung và hình thức nên có hiệu lực pháp luật, nên trường hợp ông H vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

[6] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu bị đơn trả số tiền vay gốc và lãi theo yêu cầu khởi kiện. Xét thấy đề xuất của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[7] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và án phí dân sự sơ thẩm: ông H phải chịu do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 117, Điều 119, Điều 293, Điều 298, Điều 319, Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N1 về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng”

    Buộc bị đơn ông Nông Quang H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N1 số tiền gốc vay 250.000.000 đồng và các khoản tiền lãi tính đến ngày 24/9/2024 là 106.298.630 đồng, tổng cộng tiền vay gốc và tiền lãi 356.298.630 đồng (ba trăm năm mươi sáu triệu hai trăm chín mươi tám nghìn sáu trăm ba mươi nghìn đồng).

    Ông H có nghĩa vụ trả tiền lãi phát sinh trên nợ gốc chưa trả kể từ ngày 25/9/2024 cho Ngân hàng N1 theo mức lãi suất đã ký kết tại hợp đồng tín dụng số 5617-LAV-2022 01334 ngày 22/4/2022.

  2. Ngân hàng N1 chi nhánh B - Bình Phước có nghĩa vụ trả lại ông H toàn bộ bản chính giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp khi ông H trả hết nợ.
  3. Trường hợp ông H vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 000991/HĐTC-QSDĐ ngày 20/4/2022 để thu hồi nợ, bao gồm: Thửa đất số 243, tờ bản đồ số 19, diện tích 52890,6 m² địa chỉ thửa đất: Thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước; đất đã được Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 299410, số vào sổ cấp GCN: CH001090/CMOI-LP ngày 14/6/2018 cho hộ ông Nông Quang H, cùng tài sản trên đất để thu hồi nợ, gồm: 1000 nọc tiêu trồng năm 2018, 400 cây cà phê trồng năm 2018, 800 cây điều trồng năm 1998.

    Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  4. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 150.000.000 đồng và đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện về nghĩa vụ liên đới trả nợ đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vi Thị H1.
  5. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 4.000.000 đồng ông H phải chịu, do Ngân hàng đã nộp tạm ứng số tiền này nên ông H có nghĩa vụ trả lại Ngân hàng số tiền này.
  6. Án phí dân sự sơ thẩm: Là 17.814.931 đồng ông H phải chịu.

    Trả lại Ngân hàng N1 chi nhánh huyện B số tiền tạm ứng án phí 11.408.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006691 ngày 18/1210/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.

  7. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSDN tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND H. Bù Gia Mập;
  • - Chi cục THADS H. Bù Gia Mập;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hải Ly

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/DS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 25/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HĐ tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger