|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2024/KDTM-ST
Ngày: 21/9/2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văng Thị Ngọc Yến
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Hoàng Vũ
- Bà Nguyễn Thị Thanh Hương
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quang Tú, Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ: Bà Lê Hoàng Dung- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 13, 21 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 60/2023/TLST-KDTM ngày 22 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 716/2024/QĐXXST-KDTM ngày 28 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V.
Địa chỉ trụ sở chính: Số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Địa chỉ liên lạc: Tầng C, số C, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Phước G theo văn bản ủy quyền số 7112/2023/UQ-PGĐ ngày 28/9/2023 (Có mặt).
Địa chỉ liên lạc: Tầng C, số C, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Công ty Cổ phần X2.
Địa chỉ: Số A, đường N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Phan Diệp Hồng N, chức vụ: Giám đốc (Yêu cầu giải quyết vắng mặt).
Địa chỉ liên lạc: Số D, đường N, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ.
· Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phan Việt T, sinh năm: 1998 (Yêu cầu giải quyết vắng mặt);
- Bà Phan Diệp Hồng N, sinh năm: 1985 (Yêu cầu giải quyết vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị Ánh X, sinh năm: 1981;
- Ông Trịnh Lê Anh T1, sinh năm: 2003 (Yêu cầu giải quyết vắng mặt).
- Bà Cao Hà G1, sinh năm: 1960 (Yêu cầu giải quyết vắng mặt);
- Văn phòng C1 (Yêu cầu giải quyết vắng mặt);
- Văn phòng C2 (Yêu cầu giải quyết vắng mặt);
Địa chỉ: Số G, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
Địa chỉ: Số D, đường N, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ: Số A, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Văn Đ, sinh năm: 2000 theo văn bản ủy quyền ngày 03/01/2024 (Có mặt).
Địa chỉ: Số C, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ: Số A, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ: Số B, đường B, khu phố A, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Số B, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ: Số A, đường N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 28/9/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V trình bày và yêu cầu:
Ngân hàng TMCP V và Công ty Cổ phần T2 (Nay là Công ty Cổ phần X2) ký kết các hợp đồng tín dụng, cụ thể như sau:
- Hợp đồng cho vay hạn mức số ETP/22211 ngày 17/10/2022, hạn mức cho vay 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng); Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động kinh doanh; Thời hạn duy trì hạn mức 12 tháng. Thực hiện hợp đồng tín dụng,
Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty CP X2 tổng số tiền 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng) theo các khế ước nhận nợ gồm:
- Khế ước nhận nợ số 251022-8917297-ONL-4 ngày 25/10/2022, số tiền vay 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng); Thời hạn vay 04 tháng; Lãi suất vay trong hạn 17,1%/năm (Được áp dụng cố định trong tháng đầu tiên, sau đó sẽ được điều chỉnh theo quy định của Ngân hàng), lãi suất quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn; Kỳ hạn trả nợ gốc: Cuối kỳ, kỳ hạn trả nợ lãi: 01 tháng/lần (Vào ngày 20 hàng tháng).
- Khế ước nhận nợ số 251022-8917297-ONL-6 ngày 26/10/2022, số tiền vay 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng); Thời hạn vay 04 tháng; Lãi suất vay trong hạn 17,4%/năm (Được áp dụng cố định trong tháng đầu tiên, sau đó sẽ được điều chỉnh theo quy định của Ngân hàng), lãi suất quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn; Kỳ hạn trả nợ gốc: Cuối kỳ, kỳ hạn trả nợ lãi: 01 tháng/lần (Vào ngày 20 hàng tháng).
- Hợp đồng cho vay hạn mức số ETP/22208 ngày 18/10/2022, hạn mức cho vay 27.000.000.000 đồng (Hai mươi bảy tỷ đồng); Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động kinh doanh; Thời hạn duy trì hạn mức 12 tháng. Thực hiện hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty CP X2 tổng số tiền 4.400.000.000 đồng (Bốn tỷ bốn trăm triệu đồng) theo các khế ước nhận nợ gồm:
- Khế ước nhận nợ lần 1 số ETP/22208-01 ngày 22/10/2022, số tiền vay 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng); Thời hạn vay 04 tháng; Lãi suất vay 11,3%/năm (Được áp dụng cố định trong tháng đầu tiên, sau đó sẽ được điều chỉnh theo quy định của Ngân hàng), lãi suất quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn; Kỳ hạn trả nợ gốc: Cuối kỳ, kỳ hạn trả nợ lãi: 01 tháng/lần (Vào ngày 20 hàng tháng).
- Khế ước nhận nợ số 251022-8917297-ONL-3 ngày 24/10/2022, số tiền vay 1.900.000.000 đồng (Một tỷ chín trăm triệu đồng); Thời hạn vay 04 tháng; Lãi suất vay trong hạn 11,3%/năm (Được áp dụng cố định trong tháng đầu tiên, sau đó sẽ được điều chỉnh theo quy định của Ngân hàng), lãi suất quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn; Kỳ hạn trả nợ gốc: Cuối kỳ, kỳ hạn trả nợ lãi: 01 tháng/lần (Vào ngày 20 hàng tháng).
- Khế ước nhận nợ số 251022-8917297-ONL-5 ngày 26/10/2022, số tiền vay 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng); Thời hạn vay 04 tháng; Lãi suất
vay trong hạn 11,6%/năm (Được áp dụng cố định trong tháng đầu tiên, sau đó sẽ được điều chỉnh theo quy định của Ngân hàng), lãi suất quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn; Kỳ hạn trả nợ gốc: Cuối kỳ, kỳ hạn trả nợ lãi: 01 tháng/lần (Vào ngày 20 hàng tháng).
Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của Công ty CP X2, ông Phan Việt T, bà Phan Diệp Hồng N đã ký kết các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ sau:
Ông Phan Việt T đã thế chấp cho Ngân hàng tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 124, tờ bản đồ số 59, đất tọa lạc tại khu V, đường T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 946639 (Số vào sổ CS10719) do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 03/8/2016 cho bà Cao Hà G1, được điều chỉnh sang tên ông Phan Việt T ngày 16/9/2022 (Theo Hợp đồng thế chấp số ETP/22208/HDTC-02 ngày 21/10/2022).
Bà Phan Diệp Hồng N đã ký Hợp đồng bảo lãnh số ETP/22211/HDBL ngày 17/10/2022 và Hợp đồng bảo lãnh số ETP/22208/HDBL ngày 18/10/2022 đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho Công ty CP X2 trong trường hợp Công ty CP X2 không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, do Công ty Cổ phần X2 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
- Buộc Công ty CP X2 phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ tạm tính đến ngày 28/9/2023 là 8.203.910.781 đồng (Tám tỷ hai trăm lẻ ba triệu chín trăm mười nghìn bảy trăm tám mươi mốt đồng), trong đó: Nợ gốc là 7.377.358.091 đồng, nợ lãi 822.818.867 đồng, lãi phạt chậm trả 3.733.823 đồng; Và tiền lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng đã ký kết từ ngày 29/9/2023 cho đến khi trả hết nợ.
- Trường hợp Công ty CP X2 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp của ông Phan Việt T để thu hồi nợ.
- Trường hợp tài sản đảm bảo không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì yêu cầu bà Phan Diệp Hồng N tiếp tục liên đới thanh toán nợ vay theo các hợp đồng bảo lãnh đã ký kết.
Theo đơn yêu cầu độc lập ngày 26/4/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ánh X trình bày và yêu cầu:
Vào ngày 05/9/2022, bà Nguyễn Thị Ánh X nhận chuyển nhượng từ bà Cao Hà G1 tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 124, tờ bản đồ số 59, đất tọa lạc tại khu V, đường T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 946639 (Số vào sổ CS10719) do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 03/8/2016. Tuy nhiên, để giảm các chi phí về việc chuyển nhượng tài sản, bà X và bà G1 thỏa thuận không lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất mà lập văn bản ủy quyền với nội dung: Bà Cao Hà G1 ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Ánh X được toàn quyền định đoạt đối với tài sản là nhà đất nêu trên, văn bản ủy quyền được công chứng ngày 05/9/2022 tại Văn phòng C1, theo số công chứng 5137, quyển số 09/2022 TP/CC-SCC/HĐGD. Tại thời điểm chuyển nhượng, hai bên đã nhận đủ số tiền chuyển nhượng và bàn giao tài sản.
Sau đó, bà X đã cho ông Phan Việt Thiên M tài sản trên để phục vụ kinh doanh và để thuận tiện cho việc đăng ký giấy tờ, bà đã ký hợp đồng chuyển nhượng tài sản cho ông T (Hợp đồng chuyển nhượng được công chứng tại Văn phòng C1 ngày 07/9/2022). Do mục đích của việc ký hợp đồng chuyển nhượng là để mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên tài sản vẫn do X đã quản lý, sử dụng tài sản từ năm 2022 (Thời điểm nhận chuyển nhượng từ bào C) đến nay.
Ông Phan Việt T cam kết sẽ sớm hoàn trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà X nhưng đến nay ông T vẫn không thực hiện. Do vậy, bà X yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 07/9/2022, giữa bà Nguyên Thị Ánh X1 và ông Phan Việt T đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 124, tờ bản đồ số 59, đất tọa lạc tại khu V, đường T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 946639 (Số vào sổ CS10719) do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 03/8/2016, được công chứng tại Văn phòng C1 ngày 07/9/2022, theo số công chứng 5167, quyển số 09/2022 TP/CC-SCC/HĐGD.
- Hủy hợp đồng thế chấp số ETP/22208/HDTC-02 ngày 21/10/2022, giữa ông Phan Việt T và Ngân hàng TMCP V, đối với quyền sử dụng đất và tài sản
gắn liền với đất tại thửa số 124, tờ bản đồ số 59, đất tọa lạc tại khu V, đường T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 946639 (Số vào sổ CS10719) do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 03/8/2016, được công chứng tại Văn phòng C2 ngày 21/10/2022, theo số công chứng 4772, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD.
Tại Biên bản làm việc ngày 24/7/2024, bà Phan Diệp Hồng N là người đại diện theo pháp luật của bị đơn Công ty Cổ phần X2, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Vào năm 2022, Công ty Cổ phần T2 (Nay là Công ty Cổ phần X2) có vay của Ngân hàng TMCP V tổng số tiền 7.400.000.000 (Bảy tỷ bốn trăm triệu đồng). Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của Công ty CP X2, ông Phan Việt T đã thế chấp cho Ngân hàng tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền tọa lạc tại đường T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Đồng thời, bà đã ký hợp đồng bảo lãnh cho Công ty CP X2 đối với các khoản vay của Công ty tại Ngân hàng.
Trong quá trình hoạt động, Công ty CP X2 gặp khó khăn nên không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng đúng hạn. Nay đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Công ty CP X2 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định. Tuy nhiên, do hiện nay Công ty CP X2 đang khó khăn về kinh tế nên đề nghị Ngân hàng xem xét giảm lãi cho Công ty.
Đối với yêu cầu của Ngân hàng về việc buộc bà thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, bà đồng ý và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định. Do hiện nay bà bận công việc nên bà đề nghị Tòa án cho bà và Công ty CP X2 được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Tại Biên bản làm việc ngày 31/7/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Việt T trình bày: Vào năm 2022, bà Phan Diệp Hồng N có nhận chuyển nhượng từ bà Nguyễn Thị Ánh X (Đại diện cho bà Cao Hà G1) quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS10719 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 03/8/2022 cho bà Cao Hà G1, với số tiền 5.300.000.000 đồng (Năm tỷ ba trăm triệu đồng). Tuy nhiên, bà N nhờ ông ký hợp đồng chuyển nhượng và đứng tên tài sản thay cho bà N. Giá chuyển nhượng thực tế là 5.300.000.000 đồng nhưng để giảm thuế phí, hai bên thỏa thuận ghi nhận giá chuyển nhượng trên hợp đồng 1.350.000.000 đồng (Một tỷ
ba trăm năm mươi triệu đồng). Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng, hai bên đã giao nhận đủ tiền chuyển nhượng và bàn giao tài sản, tuy nhiên, hai bên không lập biên bản giao nhận tiền và bàn giao tài sản.
Vào ngày 16/9/2022, ông được điều chỉnh sang tên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Sau đó, ông đã ký hợp đồng thế chấp nhà đất nêu trên cho Ngân hàng TMCP V để đảm bao cho khoản vay của Công ty Cổ phần X2. Nay ông thống nhất với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Đối với yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Ánh X, ông không đồng ý, do ông và bà N đã trả đủ tiền chuyển nhượng cho bà X. Do ông ở xa và bận công việc nên ông đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Tại Biên bản làm việc ngày 13/9/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Cao Hà G1 trình bày: Vào tháng 9/2022, thông qua môi giới, bà đã chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Ánh X quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại số A, khu V, đường T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS10719 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 03/8/2016, với giá chuyển nhượng là 4.500.000.000 đồng (Bốn tỷ năm trăm triệu đồng). Để giảm các chi phí về việc chuyển nhượng tài sản, bà Nguyễn Thị Ánh X yêu cầu hai bên không lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất mà lập văn bản ủy quyền với nội dung: Bà ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Ánh X được toàn quyền định đoạt đối với tài sản là nhà đất nêu trên, văn bản ủy quyền được công chứng ngày 05/9/2022 tại Văn phòng C1, theo số công chứng 5137, quyển số 09/2022 TP/CC-SCC/HĐGD. Tại thời điểm chuyển nhượng, bà đã nhận đủ số tiền chuyển nhượng, đồng thời, bà đã bàn giao tài sản cho bà X. Hiện nay, đối với các giao dịch liên quan đến nhà đất nêu trên bà không rõ. Do vậy, bà không có ý kiến và yêu cầu gì liên quan đến tranh chấp giữa các bên. Ngoài ra, do bà ở xa nên bà xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Tại Biên bản tự khai và đơn xin vắng mặt ngày 25/6/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Lê Anh T1 trình bày: Hiện ông đang sinh sống tại căn nhà số A, khu V, đường T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ của bà Nguyễn Thị Ánh X. Do gia đình ông ở xa nên trong quá trình học tập và làm việc tại thành phố Cần Thơ, bà Nguyễn Thị Ánh X giúp đỡ cho ông sống nhờ tại căn nhà nêu trên. Đối với các giao dịch liên quan đến tài sản trên ông không biết
và không có ý kiến. Ông xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 20/5/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C2 trình bày:
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số công chứng 4772, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD, giữa bên thế chấp ông Phan Việt T và bên nhận thế chấp đã được Công chứng viên Văn phòng C2 chứng nhận theo đúng quy định pháp luật. Văn phòng C2 đề nghị được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Tại văn bản trình bày ý kiến và đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 17/5/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng Công chứng Đỗ Thị H trình bày: Ngày 07/9/2022, Văn phòng C1 tiếp nhận yêu cầu công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, giữa bên chuyển nhượng bà Cao Hà G1 (Ủy quyền cho bà Nguyên Thị Ánh X1) và bên nhận chuyển nhượng ông Phan Việt T đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 124, tờ bản đồ số 59, đất tọa lạc tại khu V, đường T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 946639 (Số vào sổ CS10719) do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 03/8/2016. Sau khi tiếp nhận yêu cầu công chứng, Công chứng viên Văn phòng C1 đã giải thích rõ quyền và nghĩa vụ của các bên. Hợp đồng chuyển nhượng nêu trên đã được Công chứng viên Văn phòng C1 tiến hành công chứng đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Đối với yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị Ánh X Văn phòng Công chứng Đỗ Thị H đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Đồng thời, Văn phòng C1 yêu cầu được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu giải quyết các vấn đề sau:
- Buộc Công ty CP X2 thanh toán nợ gốc và lãi cho Ngân hàng theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết, tạm tính đến ngày 21/9/2024 với tổng số tiền là 9.965.471.671 đồng (Chín tỷ chín trăm sáu mươi lăm triệu bốn trăm bảy mươi mốt nghìn sáu trăm bảy mươi mốt đồng), trong đó: Nợ gốc là 7.377.358.091 đồng, lãi trong hạn 95.006.443 đồng, lãi quá hạn 2.493.107.137 đồng. Cụ thể theo các hợp đồng tín dụng như sau:
- + Hợp đồng tín dụng số ETP/22211 ngày 17/10/2022:
Nợ gốc: 2.980.000.000 đồng;
Lãi trong hạn: 45.068.096 đồng;
Lãi quá hạn: 1.283.180.466 đồng.
- + Hợp đồng tín dụng số ETP/22208 ngày 18/10/2022:
Nợ gốc: 4.397.358.091 đồng;
Lãi trong hạn: 49.938.347 đồng;
Lãi quá hạn: 1.209.926.671 đồng.
Ngoài ra, yêu cầu Công ty CP X2 tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 22/9/2024 cho đến khi hoàn trả đầy đủ số tiền nợ cho Ngân hàng theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết.
2. Trường hợp Công ty CP X2 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp của ông Phan Việt T để thu hồi nợ.
3. Trường hợp tài sản đảm bảo không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì yêu cầu bà Phan Diệp Hồng N tiếp tục liên đới thanh toán nợ vay theo các hợp đồng bảo lãnh đã ký kết.
Ngân hàng tự nguyện hỗ trợ di dời cho bà Nguyễn Thị Ánh X với số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Ánh X trình bày và yêu cầu: Yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 07/9/2022, giữa bà Nguyên Thị Ánh X1 và ông Phan Việt T đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 124, tờ bản đồ số 59, đất tọa lạc tại khu V, đường T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 946639 (Số vào sổ CS10719) do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 03/8/2016; Buộc ông Phan Việt T phải trả cho bà Nguyễn Thị Ánh X số tiền chuyển nhượng là 5.300.000.000 đồng (Năm tỷ ba trăm triệu đồng). Sau khi ông Phan Việt T hoàn thành nghĩa vụ trả tiền, bà Nguyễn Thị Ánh X sẽ bàn giao tài sản cho ông T.
Đồng thời, bà X rút lại một phần yêu cầu độc lập đối với yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp số ETP/22208/HDTC-02 ngày 21/10/2022, giữa ông Phan Việt T và Ngân hàng TMCP V đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 124, tờ bản đồ số 59, đất tọa lạc tại khu V, đường T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 946639 (Số vào sổ CS10719) do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày
03/8/2016, được công chứng tại Văn phòng C2 ngày 21/10/2022, theo số công chứng 4772, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD.
Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, vị đại diện Viện kiểm sát nêu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Việc thụ lý, giải quyết của Tòa án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp.
Tại phiên tòa, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên việc Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với quy định Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Từ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa đủ cơ sở để kết luận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền nợ theo các hợp đồng tín dụng tạm tính đến hết ngày 21/9/2024 là 9.965.471.671 đồng (Chín tỷ chín trăm sáu mươi lăm triệu bốn trăm bảy mươi mốt nghìn sáu trăm bảy mươi mốt đồng), trong đó: Nợ gốc là 7.377.358.091 đồng, lãi trong hạn 95.006.443 đồng, lãi quá hạn 2.493.107.137 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày ngày 22/9/2024 cho đến khi hoàn trả đầy đủ tiền nợ cho Ngân hàng. Trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 124, tờ bản đồ số 59, đất tọa lạc tại khu V, đường T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 946639 (Số vào sổ CS10719) do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 03/8/2016 để thu hồi nợ. Trường hợp tài sản đảm bảo không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng được yêu cầu bà Phan Diệp Hồng N tiếp tục liên đới thanh toán nợ vay theo các hợp đồng bảo lãnh đã ký kết.
Ghi nhận Ngân hàng tự nguyện hỗ trợ di dời cho bà Nguyễn Thị Ánh X với số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Ánh X, buộc ông Phan Việt T phải trả cho bà Nguyễn Thị Ánh X số tiền 5.300.000.000 đồng (Năm tỷ ba trăm triệu đồng). Bà Nguyễn Thị Ánh X có trách nhiệm bàn giao tài sản cho ông T sau khi ông Phan Việt T hoàn thành nghĩa vụ trả tiền. Đình chỉ
một phần yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Ánh X đối với yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp ngày 21/10/2022, giữa ông Phan Việt T và Ngân hàng TMCP V.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng TMCP V khởi kiện yêu cầu buộc Công ty Cổ phần X2 thanh toán tiền nợ vay theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa hai bên. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu độc lập yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hủy hợp đồng thế quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa số 124, tờ bản đồ số 59, đất tọa lạc tại khu V, đường T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 946639 (Số vào sổ CS10719) do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 03/8/2016. Đây là quan hệ pháp luật về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tranh chấp hợp đồng thế chấp” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn Công ty Cổ phần X2 có địa chỉ trụ sở quận N, thành phố Cần Thơ nên thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về tư cách đương sự:
Tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng vào ngày 17 và ngày 18 tháng 10 năm 2022, bên vay là Công ty CP T2. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động Công ty CP T2 đã đăng ký thay đổi tên công ty từ Công ty CP T2 thành Công ty CP X2. Do vậy, bị đơn được xác định là Công ty CP X2.
Căn cứ giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đăng ký thay đổi lần thứ 6 ngày 12/12/2023, Công ty CP X2 đăng ký địa chỉ trụ sở chính tại số A, đường N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ và người đại diện theo pháp luật là bà Phan Diệp Hồng N. Do vậy, bà Phan Diệp Hồng N có đủ tư cách đại diện cho Công ty CP X2 tham gia tố tụng tại Tòa án.
Căn cứ văn bản ủy quyền số 7112/2023/UQ-PGĐ ngày 28/9/2023 của Ngân hàng TMCP V là ủy quyền hợp lệ nên ông Võ Phước Giàu C đủ tư cách đại diện nguyên đơn tham gia tố tụng tại Tòa án.
[3] Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Bị đơn Công ty CP X2, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Việt T, bà Phan Diệp Hồng N, bà Cao Hà G1, ông Trịnh Lê Anh T1, Văn phòng C2 và Văn phòng C1 có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Về nội dung:
[4.1] Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Ánh X thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Yêu cầu ông Phan Việt T tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 07/9/2022, giữa bà Cao Hà G1 do bà Nguyễn Thị Ánh X đại diện và ông Phan Việt T; Đồng thời rút một phần yêu cầu độc lập đối với yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp số ETP/22208/HDTC-02 ngày 21/10/2022, giữa ông Phan Việt T và Ngân hàng TMCP V. Do sự thay đổi yêu cầu độc lập của bà X không vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4.2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[4.2.1] Căn cứ Hợp đồng cho vay hạn mức số ETP/22211 ngày 17/10/2022, Hợp đồng cho vay hạn mức số ETP/22208 ngày 18/10/2022, cùng các tài liệu liên quan đến việc giải ngân tiền cho vay gồm: Khế ước nhận nợ số 251022-8917297-ONL-4 ngày 25/10/2022, Khế ước nhận nợ số 251022-8917297-ONL-6 ngày 26/10/2022, Khế ước nhận nợ lần 1 số ETP/22208-01 ngày 22/10/2022, Khế ước nhận nợ số 251022-8917297-ONL-3 ngày 24/10/2022, Khế ước nhận nợ số 251022-8917297-ONL-5 ngày 26/10/2022 đã thể hiện:
- Ngày 25/10/2022, Ngân hàng TMCP V cho Công ty Cổ phần X2 vay số tiền 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng); Thời hạn vay 04 tháng; Lãi suất vay trong hạn 17,1%/năm (Được áp dụng cố định trong tháng đầu tiên, sau đó sẽ được điều chỉnh theo quy định của Ngân hàng), lãi suất quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn; Kỳ hạn trả nợ gốc: Cuối kỳ, kỳ hạn trả nợ lãi: 01 tháng/lần (Vào ngày 20 dương lịch hàng tháng).
- Ngày 26/10/2022, Ngân hàng TMCP V cho Công ty Cổ phần X2 vay số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng); Thời hạn vay 04 tháng; Lãi suất vay trong hạn 17,4%/năm (Được áp dụng cố định trong tháng đầu tiên, sau đó sẽ được điều chỉnh theo quy định của Ngân hàng), lãi suất quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn; Kỳ hạn trả nợ gốc: Cuối kỳ, kỳ hạn trả nợ lãi: 01 tháng/lần (Vào ngày 20 dương lịch hàng tháng).
- Ngày 22/10/2022, Ngân hàng TMCP V cho Công ty Cổ phần X2 vay số tiền 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng); Thời hạn vay 04 tháng; Lãi suất vay 11,3%/năm (Được áp dụng cố định trong tháng đầu tiên, sau đó sẽ được điều chỉnh theo quy định của Ngân hàng), lãi suất quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn; Kỳ hạn trả nợ gốc: Cuối kỳ, kỳ hạn trả nợ lãi: 01 tháng/lần (Vào ngày 20 dương lịch hàng tháng).
- Ngày 24/10/2022, Ngân hàng TMCP V cho Công ty Cổ phần X2 vay số tiền 1.900.000.000 đồng (Một tỷ chín trăm triệu đồng); Thời hạn vay 04 tháng; Lãi suất vay trong hạn 11,3%/năm (Được áp dụng cố định trong tháng đầu tiên, sau đó sẽ được điều chỉnh theo quy định của Ngân hàng), lãi suất quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn; Kỳ hạn trả nợ gốc: Cuối kỳ, kỳ hạn trả nợ lãi: 01 tháng/lần (Vào ngày 20 dương lịch hàng tháng).
- Ngày 26/10/2022, Ngân hàng TMCP V cho Công ty Cổ phần X2 vay số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng); Thời hạn vay 04 tháng; Lãi suất vay trong hạn 11,6%/năm (Được áp dụng cố định trong tháng đầu tiên, sau đó sẽ được điều chỉnh theo quy định của Ngân hàng), lãi suất quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn; Kỳ hạn trả nợ gốc: Cuối kỳ, kỳ hạn trả nợ lãi: 01 tháng/lần (Vào ngày 20 dương lịch hàng tháng).
Như vậy, tổng số tiền Ngân hàng TMCP V cho Công ty Cổ phần X2 vay là 7.400.000.000 đồng (Bảy tỷ bốn trăm triệu đồng).
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, do Cổ phần Xuất nhập khẩu X2 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Cổ phần Xuất nhập khẩu AAP trả nợ theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 91 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tính đến hết ngày 21/9/2024, Cổ phần Xuất nhập khẩu AAP còn nợ Ngân hàng TMCP V tổng số tiền là 9.965.471.671 đồng (Chín tỷ chín trăm sáu mươi lăm triệu bốn trăm bảy mươi mốt nghìn sáu trăm bảy mươi mốt đồng), trong đó: Nợ gốc là 7.377.358.091 đồng, lãi trong hạn 95.006.443 đồng, lãi quá hạn 2.493.107.137 đồng. Cụ thể theo các hợp đồng tín dụng như sau:
- + Hợp đồng tín dụng số ETP/22211 ngày 17/10/2022:
Nợ gốc: 2.980.000.000 đồng;
Lãi trong hạn: 45.068.096 đồng;
Lãi quá hạn: 1.283.180.466 đồng.
- + Hợp đồng tín dụng số ETP/22208 ngày 18/10/2022:
Nợ gốc: 4.397.358.091 đồng;
Lãi trong hạn: 49.938.347 đồng;
Lãi quá hạn: 1.209.926.671 đồng.
Đồng thời, Công ty CP X2 còn phải tiếp tục trả lãi cho Ngân hàng kể từ ngày 22/9/2024 theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ.
[4.2.2] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp của của ông Phan Việt T để thu hồi nợ, nhận thấy:
Để đảm bảo cho khoản vay, Ngân hàng TMCP V và Phan Việt T đã ký kết Hợp đồng thế chấp số ETP/22208/HDTC-02 ngày 21/10/2022, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 124, tờ bản đồ số 59, đất tọa lạc tại khu V, đường T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 946639 (Số vào sổ CS10719) do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 03/8/2016 cho bà Cao Hà G1, được điều chỉnh sang tên ông Phan Việt T ngày 16/9/2022.
Hợp đồng thế chấp đã được công chứng và đăng ký thế chấp theo đúng quy định pháp luật. Tại thời điểm thế chấp ông Phan Việt T đã được công nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản theo đúng quy định pháp luật. Do vậy, Hợp đồng thế chấp số ETP/22208/HDTC-02 ngày 21/10/2022, giữa ông Phan Việt T và Ngân hàng TMCP V có hiệu lực pháp luật.
Tại Điều 8 của hợp đồng thế chấp về xử lý tài sản thế chấp thể hiện nội dung Ngân hàng TMCP V được quyền xử lý tài sản thế chấp khi bên vay “không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ”. Thực tế, Công ty CP X2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng đã ký kết nên Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của bên thế chấp ông Phan Việt T để thu hồi nợ là có căn cứ chấp nhận.
Tại phiên tòa, Ngân hàng TMCP V tự nguyện hỗ trợ di dời cho người đang quản lý tài sản là bà Nguyễn Thị Ánh X với số tiền là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng). Xét thấy đây là sự tự nguyện hỗ trợ của Ngân hàng nên ghi nhận.
[4.2.3] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bà Phan Diệp Hồng N liên đới cùng Công ty Cổ phần X2 thanh toán nợ vay cho Ngân hàng TMCP V theo các hợp đồng bảo lãnh đã ký kết, nhận thấy:
Vào ngày 17/10/2022 và ngày 18/10/2022, bà Phan Diệp Hồng N và Ngân hàng TMCP V ký kết Hợp đồng bảo lãnh số ETP/22211/HDBL ngày 17/10/2022 và Hợp đồng bảo lãnh số ETP/22208/HDBL ngày 18/10/2022, với nội dung: Bà Phan Diệp Hồng N bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho Công ty CP X2 trong trường hợp Công ty CP X2 không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số EPT/22211 ngày 17/10/2022 và Hợp đồng tín dụng số EPT/22208 ngày 18/10/2022 được ký kết giữa TMCP Việt Nam V và Công ty Cổ phần X2.
Bà Phan Diệp Hồng N xác nhận bà và Ngân hàng TMCP V đã ký kết các hợp đồng bảo lãnh như đã nêu trên và đồng ý thực hiện theo nội dung đã bảo lãnh.
Tại Điều 3 của các hợp đồng bảo lãnh về thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thể hiện nội dung: Bên bảo lãnh bà Phan Diệp Hồng N có nghĩa vụ thay bên được bảo lãnh thực hiện toàn bộ nghĩa vụ của bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ. Do vậy, việc Ngân hàng TMCP V yêu cầu bà Phan Diệp Hồng N thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh là có căn cứ chấp nhận.
[4.3] Xét yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Ánh X, xét thấy:
Ngày 07/9/2022, bà Nguyễn Thị Ánh X là người đại diện theo ủy quyền của bà Cao Hà G1 và ông Phan Việt T ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 124, tờ bản đồ số 59, đất tọa lạc tại khu V, đường T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 946639 (Số vào sổ CS10719) do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 03/8/2016; Hợp đồng được Văn phòng Công chứng Đỗ Thị H công chứng cùng ngày 07/9/2022, theo số công chứng 5167, quyển số 09/2022 TP/CC-SCC/HĐGD.
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nêu trên đã được công chứng theo đúng quy định pháp luật. Về nội dung, các bên đều thừa nhận bản chất của hợp đồng là thỏa thuận về việc chuyển nhượng tài sản.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị Ánh X cho rằng ông Phan Việt T chưa thực hiện nghĩa vụ trả tiền nên bà chưa bàn giao tài sản cho ông T. Về Phía ông T cho rằng ông đã giao đầy đủ số tiền chuyển nhượng cho bà X, tuy nhiên, ông T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho
việc đã giao tiền chuyển nhượng cho bà X. Mặt khác, căn cứ vào quá trình quản lý, sử dụng, thể hiện tài sản chuyển nhượng hiện do bà X quản lý, sử dụng. Do vậy, việc ông T cho rằng ông đã giao đủ số tiền chuyển nhượng cho bà X là không có căn cứ.
Căn cứ theo hợp đồng chuyển nhượng, thì bên chuyển nhượng tài sản là bà Cao Hà G1, bà Nguyễn Thị Ánh X là người đại diện theo ủy quyền cho bà G1. Tuy nhiên, bà Cao Hà G1 và bà Nguyễn Thị Ánh X đều xác nhận, tài sản chuyển nhượng là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 124, tờ bản đồ số 59, đất tọa lạc tại khu V, đường T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ, bà G1 đã chuyển nhượng cho bà X nhưng để giảm chi phí nên hai bên không lập hợp đồng chuyển nhượng theo quy định mà lập hợp đồng ủy quyền. Đồng thời, bà Cao Hà G1 xác nhận đã nhận đủ tiền chuyển nhượng đất từ bà Nguyễn Thị Ánh X, do vậy, bà X có toàn quyền quyết định đối với tài sản đã nhận chuyển nhượng.
Như vậy, việc bà Nguyễn Thị Ánh X yêu cầu ông Phan Việt T trả tiền chuyển nhượng tài sản là có căn cứ để chấp nhận. Về số tiền chuyển nhượng, mặc dù tại hợp đồng chuyển nhương thể hiện giá trị chuyển nhượng là 1.350.000.000 đồng (Một tỷ ba trăm năm mươi triệu đồng), tuy nhiên, bà X bà ông T đều thừa nhận giá trị chuyển nhượng thực tế là 5.300.000.000 đồng (Năm tỷ ba trăm triệu đồng). Do vậy, ông T có nghĩa vụ trả lại cho bà X số tiền chuyển nhượng tài sản là 5.300.000.000 đồng (Năm tỷ ba trăm triệu đồng). Bà Nguyễn Thị Ánh X có nghĩa vụ bàn giao tài sản cho ông Phan Việt T sau khi ông Phan Việt T hoàn thành nghĩa vụ trả tiền.
Đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ánh X về việc tuyên hủy hợp đồng thế chấp số ETP/22208/HDTC-02 ngày 21/10/2022 giữa ông Phan Việt T và Ngân hàng TMCP V, do bà Nguyễn Thị Ánh X đã rút lại yêu cầu nên Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết.
[5] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Ánh X. Đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp nên chấp nhận.
[6] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Là 3.870.000 đồng, nguyên đơn đã nộp tạm ứng, bị đơn có trách nhiệm trả lại cho nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[7] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đối với số tiền phải trả cho nguyên đơn. Ông Phan Việt T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả cho bà Nguyễn Thị Ánh X.
[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 157, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Điều 295, Điều 298, Điều 299, Điều 317, Điều 318, Điều 324, Điều 335, Điều 336, Điều 342, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 167, Điều 188 Luật đất đai năm 2013;
- Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- Khoản 2 Điều 26 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V.
- Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Ánh X.
- Đình chỉ một phần yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Ánh X đối với yêu cầu hủy Hợp đồng thế chấp số ETP/22208/HDTC-02 ngày 21/10/2022, giữa bên thế chấp ông Phan Việt T và bên nhận thế chấp Ngân hàng TMCP V.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bị đơn Công ty Cổ phần X2 phải chịu 3.870.000 đồng (Ba triệu tám trăm bảy mươi nghìn đồng). Công ty Cổ phần X2 có nghĩa vụ hoàn trả lại cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP V số tiền này.
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Buộc bị đơn Công ty Cổ phần X2 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP V tổng số tiền nợ tín dụng tạm tính đến hết ngày 21/9/2024 là 9.965.471.671 đồng (Chín tỷ chín trăm sáu mươi lăm triệu bốn trăm bảy mươi mốt nghìn sáu trăm bảy mươi mốt đồng), trong đó: Nợ gốc là 7.377.358.091 đồng, lãi trong hạn 95.006.443 đồng, lãi quá hạn 2.493.107.137 đồng. Cụ thể theo các hợp đồng tín dụng như sau:
+ Hợp đồng tín dụng số ETP/22211 ngày 17/10/2022:
Nợ gốc: 2.980.000.000 đồng;
Lãi trong hạn: 45.068.096 đồng;
Lãi quá hạn: 1.283.180.466 đồng.
+ Hợp đồng tín dụng số ETP/22208 ngày 18/10/2022:
Nợ gốc: 4.397.358.091 đồng;
Lãi trong hạn: 49.938.347 đồng;
Lãi quá hạn: 1.209.926.671 đồng.
Công ty Cổ phần X2 còn phải tiếp tục trả lãi cho Ngân hàng TMCP V kể từ ngày 22/9/2024 theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ.
Trong trường hợp Công ty Cổ phần X2 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP V được quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 124, tờ bản đồ số 59, đất tọa lạc tại khu V, đường T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 946639 (Số vào sổ CS10719) do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 03/8/2016 để thu hồi nợ (Theo Hợp đồng thế chấp số ETP/22208/HDTC-02 ngày 21/10/2022).
Trường hợp tài sản đảm bảo không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP V thì Ngân hàng TMCP V được yêu cầu bà Phan Diệp Hồng N liên đới thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho Công ty Cổ phần X2 theo các hợp đồng bảo lãnh đã ký kết (Hợp đồng bảo lãnh số ETP/22211/HDBL ngày 17/10/2022 và Hợp đồng bảo lãnh số ETP/22208/HDBL ngày 18/10/2022).
Buộc ông Phan Việt T phải trả cho bà Nguyễn Thị Ánh X số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là 5.300.000.000 đồng (Năm tỷ ba trăm triệu đồng).
Bà Nguyễn Thị Ánh X có nghĩa vụ bàn giao tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 124, tờ bản đồ số 59, đất tọa lạc tại khu V, đường T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 946639 (Số vào sổ CS10719) do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 03/8/2016 cho ông Phan Việt T sau khi ông Phan Việt T hoàn thành nghĩa vụ trả tiền.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Bị đơn Công ty Cổ phần X2 phải chịu 117.965.472 đồng (Một trăm mười bảy triệu chín trăm sáu mươi lăm nghìn bốn trăm bảy mươi hai đồng).
Ông Phan Việt T phải chịu 113.300.000 đồng (Một trăm mười ba triệu ba trăm nghìn đồng).
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP V được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 58.102.000 đồng (Năm mươi tám triệu một trăm lẻ hai nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000341 ngày 24/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Bà nguyễn Thị Ánh X được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001302 ngày 14/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Văng Thị Ngọc Yến |
19
20
Bản án số 25/2024/KDTM-ST ngày 21/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
- Số bản án: 25/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
