Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 25/2024/DS-ST

Ngày 06 tháng 9 năm 2024

“V/v Chia di sản thừa kế”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Điêu Thị Bích Lượt.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hảo;

Ông Nguyễn Xuân Đào.

Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 04/2024/TLST - DS ngày 16 tháng 01 năm 2024 về việc: “Tranh chấp chia di sản thừa kế”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXX-ST ngày 01 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lê Trọng O, sinh năm 1960

Địa chỉ: Số nhà C, đường H, khu G, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ;

Bị đơn: Bà Lê Thị A, sinh năm 1964

Địa chỉ: Khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ;

Đại diện theo ủy quyền của bà A: Anh Bùi Tiến P, sinh năm 1994

Địa chỉ: Khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:

Cụ Hà Thị T, sinh năm 1931

Địa chỉ: Khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ;

Đại diện theo ủy quyền của cụ Hà Thị T:

Ông Lê Trọng O, sinh năm 1960

Địa chỉ: Số nhà C, đường H, khu G, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. UBND huyện C, tỉnh Phú Thọ
  2. Địa chỉ: Thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T1 - Chức vụ: Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C;

  3. UBND xã T, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ
  4. Địa chỉ: Khu Tranh Ngô, xã Tam Sơn, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

    Đại diện theo ủy quyền: Ông Lại Thế C - Chức vụ: Công chức địa chính xây dựng xã T;

  5. Bà Lê Thị Hương L, sinh năm 1969
  6. Địa chỉ: Khu E, phường P, thị xã K, tỉnh Hải Dương;

  7. Bà Lê Thị Thu H, sinh năm 1972
  8. Địa chỉ: Khu X, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ;

  9. Bà Lê Thị Mai H1, sinh năm 1976
  10. Địa chỉ: Khu Đ, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện theo ủy quyền của bà L, bà H, bà H1: Ông Lê Trọng O, sinh năm 1960

Địa chỉ: Số nhà C, đường H, khu G, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ;

(Ông O, anh P có mặt; những người tham gia tố tụng khác vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết tại Tòa án nhân dân (TAND) tỉnh Phú Thọ, nguyên đơn là ông Lê Trọng O trình bày:

Bố tôi là Lê Kim D đã chết năm 2018, mẹ tôi là Hà Thị T sinh năm 1931, hiện nay còn sống.

Bố mẹ tôi sinh được 05 người con chung gồm :

  1. Lê Trọng O, sinh năm 1960
  2. Địa chỉ: Số nhà C, đường H, khu G, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

  3. Lê Thị A, sinh năm 1964
  4. Địa chỉ: Khu G, xã T, C, Phú Thọ

  5. Lê Thị Hương L, sinh năm 1969
  6. Địa chỉ: Khu E, phường P, thị xã K, Hải Dương.

  7. Lê Thị Thu H, sinh năm 1972
  8. Địa chỉ: Khu X, xã P, C, Phú Thọ.

  9. Lê Thị Mai H1, sinh năm 1976
  10. Địa chỉ: Khu Đ, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Ngoài ra bố mẹ tôi không có con nuôi hay con riêng nào khác, bố mẹ đẻ của cụ Lê Kim D cũng chết trước khi cụ D chết. Khi bố tôi còn sống, bố mẹ tôi tạo dựng khối tài sản chung như sau:

  1. Thửa đất số 01, tờ bản đồ số 26 tại địa chỉ: Khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ, Giấy CNQSD đất số 0589677 do UBND huyện S cấp ngày 22/10/1999, tên chủ sở hữu đất “Hộ bà Hà Thị T”, diện tích đất là: 5.040m².
  2. Thửa đất số 26, tờ bản đồ số 02, đất trồng cây hàng năm khác diện tích 680m²; thửa đất số 26, tờ bản đồ số 03, đất trồng cây hàng năm khác diện tích 510m² tại địa chỉ: Khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Giấy CNQSD đất, chủ sở hữu nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất cấp cho ông Lê Kim D và bà Hà Thị T số BV955330 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 06/5/2015:
  3. Thửa đất số 24, tờ bản đồ số 17, diện tích 1.765m² đất trồng cây lâu năm khác ở khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
  4. Thửa đất số 344, tờ bản đồ số 17, diện tích 85,1m² đất trồng cây lâu năm ở khu G, xã T, huyện C, Phú Thọ, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
  5. Thửa đất số 345, tờ bản đồ số 17, diện tích 69,4m² đất trồng cây lâu năm ở khu G, xã T, huyện C, Phú Thọ, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
  6. Thửa đất số 346, tờ bản đồ số 17, diện tích 200m² đất trồng cây lâu năm ở khu G, xã T, huyện C, Phú Thọ, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
  7. Thửa đất số 82, bản đồ số 17, diện tích 1.279,7m² ở khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ. UBND huyện C, tỉnh Phú Thọ đã cấp Giấy chúng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Bùi Trọng H2 và bà Lê Thị A (ông H2 là con rể và bà A là con gái của cụ D, cụ T) từ ngày 09/8/2021. Thửa đất này có nguồn gốc là của bố mẹ tôi quản lý, sử dụng. Trong quá trình sử dụng, ông Bùi Trọng H2, bà Lê Thị A hoàn cảnh gia đình quá khó khăn xin bố mẹ tôi đất làm nhà để ở. Năm 1993 bố tôi có cho bà A 360m² đất làm nhà ở, có giấy xác nhận của UBND xã T ngày 25/5/1993, phần còn lại bố mẹ tôi sử dụng. Nhưng trong quá trình sử dụng bà A chiếm để sử dụng nên bố tôi đã yêu cầu bà A trả lại nhưng bà A không đồng ý trả nên bố tôi phải yêu cầu chính quyền địa phương xã T và UBND huyện C giải quyết. Năm 2006, cả UBND xã T và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C giải quyết đều xác định 360m² đất là của bà A, phần còn lại là của bố tôi.

Tôi làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giải quyết tranh chấp:

Chia di sản thừa kế của bố tôi để lại gồm ½ diện tích các thửa đất đã được cấp Giấy CNQSD đất và chưa được cấp Giấy CNQSD đất.

Các thửa đất theo GCNQSDĐ số 0589677 do UBND huyện S cấp ngày 22/10/1999;

Các thửa đất theo GCNQSDĐ số BV955330 do UBND huyện C cấp ngày 06/5/2015;

Các thửa số 24, thửa đất số 344, thửa đất số 345, thửa đất số 346 đều ở bản đồ số 17 là đất trồng cây lâu năm chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 82, tờ bản đồ số 17, diên tích 1.279,7m² đất UBND huyện C, tỉnh Phú Thọ cấp cho vợ chồng ông H2, bà A; Hủy Giấy CNQSD đất do UBND huyện C đã cấp cho ông Đỗ Văn D1 và bà Đặng Thị Hồng P1; Hủy Giấy CNQSD đất do UBND huyện C cấp cho ông Bùi Quang T2 và bà Nguyễn Thị T3; Hủy Giấy CNQSD đất do UBND huyện C cấp cho anh Bùi Tiến P và chị Nguyễn Thị Phương L1.

Xác định tài sản chung của bố mẹ tôi gồm các thửa đất đã được cấp Giấy CNQSD đất, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và 1.279,7m² đất thuộc thửa đất số 82, tờ bản đồ số 17, UBND huyện C cấp trái pháp luật cho vợ chồng ông H2, bà A. Nay bố tôi đã chết, tôi đề nghị Tòa án chia thừa kế phần di sản của bố tôi trong khối tài sản chung của bố mẹ tôi theo quy định của pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế trong đó có tôi.

Quá trình giải quyết vụ án, ông O xin rút một phần yêu cầu khởi kiện. Không đề nghị chia di sản thừa kế của cụ Lê Kim D đối với ½ các thửa đất số 82, 344, 345, 346, tờ bản đồ số 17. Ông O đề nghị chia di sản thừa kế của cụ Lê Kim D gồm: ½ thửa đất số 01, tờ bản đồ số 26, diện tích 2520m² trong đó có 200m² đất ở và 2320m² đất vườn; ½ thửa đất số 26, tờ bản đồ số 02, đất trồng cây hàng năm khác diện tích 340m²; ½ thửa đất số 26, tờ bản đồ số 03, đất trồng cây hàng năm khác diện tích 225m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; ½ thửa đất số 24, tờ bản đồ số 17, đất trồng cây lâu năm khác diện tích 882,5m² ở khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trình bày của bị đơn bà Lê Thị A: Quá trình giải quyết vụ án bà A trình bày không liên quan đến di sản thừa kế của cụ Lê Kim D. Nếu Tòa án chia di sản thừa kế thì bà từ chối nhận phần di sản mà mình được hưởng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa ngày 26/8/2024, bà A xin thay đổi ý kiến đề nghị được nhận di sản thừa kế do cụ D để lại và xin nhận giá trị bằng tiền. Tại phiên tòa ngày 06/9/2024, anh P là đại diện theo ủy quyền của bà A vẫn giữ nguyên ý kiến như bà A đã trình bày tại phiên tòa ngày 26/8/2024.

Trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cụ Hà Thị T và đại diện theo ủy quyền của cụ T:

Tôi và chồng tôi Lê Kim D kết hôn từ năm 1954, vợ chồng tôi sinh được 05 người con chung có thông tin như ông O đã trình bày là đúng. Ngoài ra vợ chồng tôi không có con nuôi hay con riêng nào khác.

Ngày 06/01/2018, chồng tôi cụ D chết. Khi chồng tôi còn sống vợ chồng tôi tạo dựng được khối tài sản như ông O trình bày như trên là đúng. Nay tôi có yêu cầu độc lập đề nghị Tòa án: Xác định ½ thửa đất số 01, tờ bản đồ số 26, diện tích 2520m² trong đó có 200m² đất ở và 2320m² đất vườn; ½ thửa đất số 26, tờ bản đồ số 02, đất trồng cây hàng năm khác diện tích 340m²; ½ thửa đất số 26, tờ bản đồ số 03, đất trồng cây hàng năm khác diện tích 225m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; ½ thửa đất số 24, tờ bản đồ số 17, đất trồng cây lâu năm khác diện tích 882,5m² ở khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng của tôi và tôi đồng ý tặng cho ông O là con trai tôi toàn bộ phần diện tích của tôi được chia.

Đối với yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ D theo đơn đề nghị của ông O, tôi đồng ý. Cụ có ý kiến: Di sản thừa kế của cụ D chia, phần của cụ được hưởng cụ tặng cho ông O. Quá trình giải quyết vụ án cụ Hà Thị T đã rút yêu cầu độc lập đề nghị xác định quyền sử dụng ½ diện tích các thửa đất số 82, 344, 345, 346, tờ bản đồ số 17 ở khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Hương L, Lê Thị Thu H và Lê Thị Mai H1 thống nhất trình bày:

Về các thông tin liên quan đến năm sinh, năm mất, con chung của cụ Lê Kim D và cụ Hà Thị T, thông tin về tài sản chung của cụ D, cụ T và quá trình tranh chấp với ông Bùi Trọng H2, bà Lê Thị A xác định như ông Lê Trọng O và cụ Hà Thị T trình bày.

Về yêu cầu khởi kiện của ông Lê Trọng O và yêu cầu độc lập của cụ Hà Thị T: Đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Lê Trọng O và yêu cầu độc lập của cụ Hà Thị T.

Đối với phần di sản các bà được hưởng thừa kế của cụ Lê Kim D theo quy định của pháp luật thì các bà tự nguyện tặng toàn bộ cho anh trai là Lê Trọng O (là nguyên đơn trong vụ án).

Trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện C:

Đối với thửa đất số 24, tờ bản đồ số 17, diện tích 1.765m² đất trồng cây lâu năm khác ở khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tuy nhiên thửa đất này hiện nay đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại tiết b, mục 1, phần I văn bản số 2147/QĐ-UBND - NNTN ngày 13/6/2013 của UBND tỉnh P.

Trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND xã T, huyện C:

Nhất trí như trình bày của UBND huyện C: Đối với thửa đất số 24, tờ bản đồ số 17, diện tích 1.765m² đất trồng cây lâu năm khác ở khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tuy nhiên thửa đất này đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại tiết b, mục 1, phần I văn bản số 2147/QĐ-UBND-NNTN ngày 13/6/2013 của UBND tỉnh P.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quan điểm của Viện kiểm sát về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Trọng O, chấp nhận yêu cầu độc lập của cụ Hà Thị T.

Xác định ½ thửa đất số 01, tờ bản đồ số 26, diện tích 2520m² trong đó có 200m² đất ở và 2320m² đất vườn; ½ thửa đất số 26, tờ bản đồ số 02, đất trồng cây hàng năm khác diện tích 340m²; ½ thửa đất số 26, tờ bản đồ số 03, đất trồng cây hàng năm khác diện tích 225m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; ½ thửa đất số 24, tờ bản đồ số 17 đất trồng cây lâu năm khác diện tích 882,5m² ở khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng của cụ T.

Chia di sản thừa kế của cụ Lê Kim D gồm: ½ thửa đất số 01, tờ bản đồ số 26, diện tích 2520m² trong đó có 200m² đất ở và 2320m² đất vườn; ½ thửa đất số 26, tờ bản đồ số 02, đất trồng cây hàng năm khác diện tích 340m²; ½ thửa đất số 26, tờ bản đồ số 03, đất trồng cây hàng năm khác diện tích 225m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; ½ thửa đất số 24, tờ bản đồ số 17 đất trồng cây lâu năm khác diện tích 882,5m² ở khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Hàng thừa kế thứ nhất của cụ D gồm: Cụ Hà Thị T, ông Lê Trọng O, bà Lê Thị Hương L, bà Lê Thị Thu H và bà Lê Thị Mai H1, bà Lê Thị Anh .

Chia cho cụ Hà Thị T, ông Lê Trọng O, bà Lê Thị Hương L, bà Lê Thị Thu H và bà Lê Thị Mai H1, bà Lê Thị A mỗi người được hưởng 1/6 diện tích đất là di sản thừa kế được xác định trên, tương đương số tiền theo kết quả định giá.

Ghi nhận sự tự nguyện của cụ Hà Thị T, bà Lê Thị Hương L, bà Lê Thị Thu H và bà Lê Thị Mai H1 tặng cho ông Lê Trọng O toàn bộ diện tích đất được chia.

Ông Lê Trọng O có trách nhiệm thanh toán cho bà Lê Thị A số tiền tương đương phần di sản thừa kế bà A được chia.

Ông Lê Trọng O có quyền sử dụng toàn bộ các thửa đất:

Thửa đất số 01, tờ bản đồ số 26 diện tích 5040m² (trong đó có 400m² đất ở và 4640m² đất vườn) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0 589677 ngày 22/10/1999 đứng tên hộ bà Hà Thị T, có địa chỉ tại: khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Thửa đất số 26, tờ bản đồ số 02, diện tích 680m² đất trồng cây hàng năm khác giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 955330 ngày 06/5/2015 đứng tên ông Lê Kim D, bà Hà Thị T có địa chỉ tại: khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Thửa đất số 26, tờ bản đồ số 03, diện tích 510m² đất trồng cây hàng năm khác giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 955330 ngày 06/5/2015 đứng tên ông Lê Kim D, bà Hà Thị T có địa chỉ tại: khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Thửa đất số 24, tờ bản đồ số 17 diện tích 1.765m² đất đất trồng cây lâu năm khác.

Các thửa đất trên đều có địa chỉ tại: khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Đình chỉ đối với yêu cầu chia di sản thừa kế của ông O, và yêu cầu độc lập của cụ T đối với các thửa đất số 82, 344, 345, 346 tờ bản đồ số 17 ở khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Về án phí và chi phí tố tụng: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật. Ghi nhận sự tự nguyện của ông O chịu toàn bộ chi phí tố tụng và án phí dân sự thay cho bà H, bà L, bà H1.

(Chi tiết bài phát biểu của Viện kiểm sát lưu trong hồ sơ vụ án)

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Lê Trọng O đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giải quyết chia di sản thừa kế do cụ Lê Kim D là bố đẻ ông O chết để lại, đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu độc lập của cụ Hà Thị T đề nghị xác định ½ các thửa đất thuộc quyền sử dụng của cụ T, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền phù hợp với quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án ông O rút yêu cầu khởi kiện đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử đất. Theo quy định của pháp luật, TAND tỉnh Phú Thọ đã thụ lý giải quyết thì vẫn tiếp tục giải quyết. Do vậy, TAND tỉnh Phú Thọ thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật.

[2] Về trình tự, thủ tục tố tụng:

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã tiến hành các trình tự, thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự.

Ông Lê Trọng O khởi kiện đề nghị giải quyết chia di sản thừa kế 8 thửa đất, cụ Hà Thị T có đơn yêu cầu độc lập xem xét xác định ½ diện tích 8 thửa đất thuộc quyền sử dụng của cụ. Tuy nhiên, sau đó ông O xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, không đề nghị chia di sản thừa kế của cụ Lê Kim D đối với ½ các thửa đất số 82, 344, 345, 346 tờ bản đồ số 17. Quá trình giải quyết vụ án cụ Hà Thị T cũng đã rút một phần yêu cầu độc lập đề nghị xác định quyền sử dụng 1/2 các thửa đất số 82, 344, 345, 346 tờ bản đồ số 17. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của ông O và rút một phần yêu cầu độc lập của cụ T phù hợp với pháp luật, nên được chấp nhận. Hội đồng xét xử đình chỉ đối với các yêu cầu khởi kiện cũng như yêu cầu độc lập đương sự đã rút.

Quá trình giải quyết vụ án, theo yêu cầu khởi kiện ban đầu của ông O Tòa án đưa ông Bùi Trọng H2, anh Bùi Tiến P, chị Nguyễn Thị Phương L1, ông Đỗ Văn D1, bà Đặng Thị Hồng P1, ông Bùi Quang T2, bà Nguyễn Thị T3 vào tham gia tố tụng. Nhưng, sau đó ông O rút yêu cầu khởi kiện các thửa đất số 82, 344, 345, 346 tờ bản đồ số 17. Do vậy, quyền và nghĩa vụ của ông H2, ông D1, bà P1, anh P1, chị L1, ông T2, bà T3 không còn liên quan đến vụ án, nên Hội đồng xét xử không đưa những người trên vào tham gia tố tụng.

[4] Về nội dung:

Xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Đối với yêu cầu độc lập của cụ Hà Thị T đề nghị Tòa án xác định ½ thửa đất số 01, tờ bản đồ số 26 diện tích 2520m² (trong đó có 200m² đất ở và 2320m² đất vườn); ½ thửa đất số 26, tờ bản đồ số 02 đất trồng cây hàng năm khác diện tích 340m²; ½ thửa đất số 26, tờ bản đồ số 03, đất trồng cây hàng năm khác, diện tích 255m²; ½ thửa đất số 24, tờ bản đồ số 17 diện tích 882,5m² đất trồng cây lâu năm khác đều có địa chỉ tại: Khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Các thửa đất này đã được tất cả các đương sự trong vụ án xác định là tài sản chung của cụ Lê Kim D và cụ Hà Thị T. Nay cụ D đã chết, cụ T đề nghị xác định ½ thửa đất trên thuộc quyền sử dụng của cụ T là có căn cứ, phù hợp với pháp luật, nên được chấp nhận. Toàn bộ phần diện tích đất trên cụ T tự nguyện tặng cho ông O, xét thấy sự tự nguyện của cụ T phù hợp với pháp luật, nên được chấp nhận.

Phần di sản thừa kế của cụ D gồm: ½ thửa đất số 01, tờ bản đồ số 26 diện tích 2520m² (trong đó có 200m² đất ở và 2320m² đất vườn); ½ thửa đất số 26, tờ bản đồ số 02, đất trồng cây hàng năm khác diện tích 340m²; ½ thửa đất số 26, tờ bản đồ số 03, đất trồng cây hàng năm khác diện tích 255m²; ½ thửa đất số 24, tờ bản đồ số 17 diện tích 1.765m² đất trồng cây lâu năm khác diện tích 882,5m².

Cụ Lê Kim D đã chết năm 2018, trước khi chết cụ D không để lại di chúc. Cụ D có hàng thừa kế thứ nhất gồm:

  • Cụ Hà Thị T, sinh năm 1939 (vợ cụ D)
  • Địa chỉ: Khu G, xã T, C, Phú Thọ

  • Các con của cụ D, cụ T gồm:
    1. Ông Lê Trọng O, sinh năm 1960
    2. Địa chỉ: Số nhà C, đường H, khu G, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    3. Bà Lê Thị A, sinh năm 1964
    4. Địa chỉ: Khu G, xã T, C, Phú Thọ.

    5. Bà Lê Thị Hương L, sinh năm 1969
    6. Địa chỉ: Khu E, phường P, thị xã K, Hải Dương.

    7. Bà Lê Thị Thu H, sinh năm 1972
    8. Địa chỉ: Khu X, xã P, C, Phú Thọ.

    9. Bà Lê Thị Mai H1, sinh năm 1976
    10. Địa chỉ: Khu Đ, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Bố mẹ đẻ của cụ Lê Kim D đều đã chết trước cụ D, cụ D không có con riêng, không có con nuôi nào khác. Do vậy, xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ D gồm có 6 người: Cụ T, ông O, bà H, bà H1, bà L, bà A.

Phần di sản thừa kế một xuất được chia như sau:

Đối với di sản thừa kế là ½ thửa đất số 01, tờ bản đồ số 26 diện tích 2520m² (trong đó có 200m² đất ở và 2320m² đất vườn), được chia cho 6 xuất gồm: Cụ T, ông O, bà H, bà H1, bà L, bà A mỗi xuất được hưởng 2520m²:6 = 420m² (trong đó có 33,3m² đất ở và 386,7 m² đất vườn). Theo định giá 1m² đất ở trị giá 3.000.000đồng/m²; 1m² đất vườn giá 300.000đồng/m². Như vậy, mỗi xuất thừa kế được hưởng tương đương giá trị 33,3 m² x 3.000.000đồng/m² + 386,7m² x 300.000đồng/m² = 215.910.000đồng.

Đối với di sản thừa kế là ½ thửa đất số 26, tờ bản đồ số 02, diện tích 340m² đất trồng cây hàng năm khác (BHK) được chia cho 6 xuất gồm: Cụ T, ông O, bà H, bà H1, bà L, bà A mỗi xuất được hưởng 340m² : 6 = 56,6m². Theo định giá 1m² (BHK) trị giá 120.000đồng/m². Như vậy, mỗi xuất thừa kế được hưởng tương đương giá trị 56,6m² x 120.000đồng/m² = 6.792.000đồng.

Đối với di sản thừa kế là ½ thửa đất số 26, tờ bản đồ số 03, diện tích 255m² đất trồng cây hàng năm khác (BHK) diện tích 255m² được chia cho 6 xuất gồm: Cụ T, ông O, bà H, bà H1, bà L, bà A mỗi xuất được hưởng 255m² : 6 = 42,5m². Theo định giá 1m² đất BHK trị giá 120.000đồng/m². Như vậy, mỗi suất thừa kế được hưởng tương đương giá trị 42,5m² x 120.000đồng/m² = 5.100.000đồng.

Đối với di sản thừa kế là ½ thửa đất số 24, tờ bản đồ số 17 diện tích 882,5m² đất trồng cây lâu năm khác được chia cho 6 xuất gồm: Cụ T, ông O, bà H, bà H1, bà L, bà A mỗi xuất được hưởng 882,5m² : 6 = 147m². Theo định giá 1m² đất trồng cây lâu năm khác trị giá 150.000đồng/m². Như vậy, mỗi xuất thừa kế được hưởng tương đương giá trị 147m² x 150.000đồng/m² = 22.050.000đồng.

Tổng 01 xuất thừa kế được hưởng giá trị bằng tiền là: 215.910.000đồng + 6.792.000đồng + 5.100.000đồng + 22.050.000đồng = 249.852.000đồng.

Toàn bộ tài sản cụ T được chia và di sản thừa kế của cụ T, bà H, bà H1, bà L tự nguyện tặng cho ông Lê Trọng O, xét thấy tự nguyện của các đương sự phù hợp với pháp luật, nên được chấp nhận.

Đối với phần di sản thừa kế của bà A: Tại phiên tòa ngày 26/8/2024 bà A xin được chia bằng tiền, tại phiên tòa ngày 06/9/2024 anh P1 là đại diện theo ủy quyền của bà A vẫn giữ nguyên ý kiến như bà A xin nhận bằng tiền. Xét thấy, phần diện tích đất trồng cây hàng năm, trồng cây lâu năm và diện tích đất ở được chia không đủ điều kiện tách thửa và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng theo quyết định của UBND tỉnh P, nên đề nghị của bà A phù hợp với pháp luật, phía ông O nhất trí không có ý kiến hoặc đề nghị gì, nên giao toàn bộ diện tích đất là di sản thừa kế bà A được chia cho ông O sử dụng. Ông O có trách nhiệm thanh toán cho bà A số tiền 249.852.000đồng.

Như vậy, ông Lê Trọng O được toàn quyền sử dụng các thửa đất: Thửa đất số 01, tờ bản đồ số 26 diện tích 5040m² (trong đó có 400m² đất ở và 4640m² đất vườn); thửa đất số 26, tờ bản đồ số 02, diện tích 680m² đất trồng cây hàng năm khác; thửa đất số 26, tờ bản đồ số 03, diện tích 510m² đất trồng cây hàng năm khác; Thửa đất số 24, tờ bản đồ số 17, diện tích 1.765m² đất trồng cây lâu năm khác. Các thửa đất trên đều có địa chỉ tại: khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án ông Lê Trọng O là nguyên đơn đã nộp tiền chi phí tạm ứng cho việc xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản hết 5.000.000đồng (có bảng quyết toán lưu hồ sơ vụ án) được chia cho 6 người gồm cụ T, bà L, bà H1, bà H, ông O, bà A, mỗi người chịu 833.000đồng. Toàn bộ phần di sản thừa kế, cũng như tài sản của cụ T, bà L, bà H1, bà H được chia các đương sự đều thống nhất tặng cho ông O, ông O tự nguyện chịu toàn bộ chi phí thay cho cụ T, bà L, bà H1, bà H. Phần bà A có trách nhiệm hoàn trả ông O 833.000đồng.

[5] Về án phí: Cụ T, ông O đã có đơn xin miễn án phí nên thuộc trường hợp được miễn án phí. Bà A thuộc trường hợp được miễn án phí, tại phiên tòa anh P1 đại diện theo ủy quyền của bà A được Hội đồng xét xử giải thích và hướng dẫn làm đơn, nhưng anh P1 không làm đơn và xin chịu toàn bộ án phí, nên bà A phải chịu án phí trên số tiền được chia 249.852.000đồng. Bà L, bà H, bà H1 phải chịu án phí, tuy nhiên, bà L, bà H, bà H1 đã tặng cho ông O toàn bộ phần di sản, ông O tự nguyện chịu toàn bộ án phí thay bà L, bà H, bà H1, xét thấy sự tự nguyện của ông O phù hợp với pháp luật nên được chấp nhận.

Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án. Xét thấy, đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 2 Điều 147, khoản 2 Điều 157, Điều 165, Điều 217, 218 khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 611, 612, 613, 614, khoản 1 Điều 620, 623, Điều 649, Điều 650, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 651, khoản 2 Điều 660 Bộ luật Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

[1]. Xử: Chấp nhận đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Trọng O và đơn xin rút một phần yêu cầu độc lập của cụ Hà Thị T.

Đình chỉ giải quyết đơn yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Lê Trọng O đối với di sản của cụ Lê Kim D là ½ các thửa đất số 82, 344, 345, 346 tờ bản đồ số 17 tại: khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Đình chỉ giải quyết đơn yêu cầu độc lập của cụ Hà Thị T đề nghị xác định ½ diện tích thuộc quyền sử dụng của cụ T đối với các thửa đất số 82, 344, 345, 346 tờ bản đồ số 17 tại: khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Đình chỉ giải quyết yêu cầu Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 82, tờ bản đồ số 17, diên tích 1.279,7m² do UBND huyện C, tỉnh Phú Thọ cấp cho vợ chồng ông H2, bà A; Hủy Giấy CNQSD đất do UBND huyện C đã cấp cho ông Đỗ Văn D1 và bà Đặng Thị Hồng P1; Hủy Giấy CNQSD đất do UBND huyện C cấp cho ông Bùi Quang T2 và bà Nguyễn Thị T3; Hủy Giấy CNQSD đất do UBND huyện C cấp cho anh Bùi Tiến P và chị Nguyễn Thị Phương L1.

Ông Lê Trọng O và cụ Hà Thị T có quyền khởi kiện lại đối với các yêu cầu đã rút.

[2]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Trọng O và yêu cầu độc lập của cụ Hà Thị T.

[2.1] Xác định cụ Hà Thị T được quyền sử dụng ½ thửa đất số 01, tờ bản đồ số 26 diện tích 2520m² (trong đó có 200m² đất ở và 2320m² đất vườn); ½ thửa đất số 26, tờ bản đồ số 02, đất trồng cây hàng năm khác, diện tích 340m²; ½ thửa đất số 26, tờ bản đồ số 03, đất trồng cây hàng năm khác, diện tích 255m²; ½ thửa đất số 24, tờ bản đồ số 17 đất trồng cây lâu năm khác, diện tích 882,5m²; địa chỉ các thửa đất tại: khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

[2.2]. Xác định di sản thừa kế của cụ Lê Kim D gồm: ½ thửa đất số 01, tờ bản đồ số 26, diện tích 2520m² (trong đó có 200m² đất ở và 2320m² đất vườn); ½ thửa đất số 26, tờ bản đồ số 02 đất trồng cây hàng năm khác, diện tích 340m²; ½ thửa đất số 26, tờ bản đồ số 03, đất trồng cây hàng năm khác, diện tích 255m²; ½ thửa đất số 24, tờ bản đồ số 17 đất trồng cây lâu năm khác, diện tích 882,5m², địa chỉ các thửa đất tại: Khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

[2.3]. Xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ Lê Kim D gồm: Cụ Hà Thị T, ông Lê Trọng O, bà Lê Thị Hương L, bà Lê Thị Thu H, bà Lê Thị A và bà Lê Thị Mai H1.

[2.4]. Ghi nhận sự tự nguyện của cụ Hà Thị T, bà Lê Thị Hương L, bà Lê Thị Thu H và bà Lê Thị Mai H1 tặng cho ông Lê Trọng O toàn bộ diện tích đất được chia.

[2.5]. Ông Lê Trọng O có trách nhiệm thanh toán cho bà Lê Thị A số tiền 249.852.000đồng (Hai trăm bốn mươi chín triệu tám trăm năm mươi hai nghìn đồng) tương đương phần di sản thừa kế bà A được chia.

[3]. Ông Lê Trọng O có quyền sử dụng các thửa đất:

Thửa đất số 01, tờ bản đồ số 26 diện tích 5040m² (trong đó có 400m² đất ở và 4640m² đất vườn) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0 589677 ngày 22/10/1999 đứng tên hộ bà Hà Thị T, có địa chỉ tại: khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Thửa đất số 26, tờ bản đồ số 02, diện tích 680m² đất trồng cây hàng năm khác giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 955330 ngày 06/5/2015 đứng tên ông Lê Kim D, bà Hà Thị T có địa chỉ tại: khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Thửa đất số 26, tờ bản đồ số 03, diện tích 510m² đất trồng cây hàng năm khác giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 955330 ngày 06/5/2015 đứng tên ông Lê Kim D, bà Hà Thị T có địa chỉ tại: khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Thửa đất số 24, tờ bản đồ số 17 diện tích 1.765m² đất đất trồng cây lâu năm khác, có địa chỉ tại: khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ (có sơ đồ thửa đất kèm theo).

[4]. Ông Lê Trọng O có quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền đề nghị cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 01, tờ bản đồ số 26; thửa số 26, tờ bản đồ số 02; thửa số 26, tờ bản đồ số 03 và có quyền đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 24, tờ bản đồ số 17 diện tích 1.765m² theo quyết định của Tòa án, sau khi thực hiện các nghĩa vụ thuế, lệ phí đất (nếu có) đối với nhà nước.

[5] Về chi phí tố tụng: Ông Lê Trọng O phải chịu 4.167.000đồng (Bốn triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Bà Lê Thị A có trách nhiệm hoàn trả cho ông Lê Trọng O số tiền xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản 833.000đồng (tám trăm ba mươi ba nghìn đồng).

[6] Về án phí: Ông Lê Trọng O, cụ Hà Thị T thuộc trường hợp được miễn án phí. Ông Lê Trọng O phải chịu thay bà Lê Thị Hương L, bà Lê Thị Thu H, bà Lê Thị Mai H1 mỗi người 12.492.600đồng (Mười hai triệu bốn trăm chín mươi hai nghìn sáu trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Tổng số tiền án phí ông Lê Trọng O phải chịu là 37.477.800đồng (ba mươi bảy triệu bốn trăm bảy mươi bảy nghìn tám trăm đồng).

Bà Lê Thị A phải chịu 12.492.600đồng (Mười hai triệu bốn trăm chín mươi hai nghìn sáu trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

“Trường hîp quyÕt ®Þnh được thi hµnh theo qui ®Þnh t'i ĐiÒu 2 LuËt thi hµnh n d©n sù th× người được thi hunh ¸n d©n sù, ngêi phi thi hunh ¸n d©n sù cã quyÒn tho¶ thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc bÞ cưìng chÕ thi hµnh ¸n theo qui ®Þnh t'i c¸c ĐiÒu 6, 7, 7a νμ 9 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù; thêi hiÖu thi hµnh ¸n ®ược thùc hiÖn theo qui ®Þnh t'i ĐiÒu 30 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù”.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa cã quyÒn kh¸ng c¸o trong h'n 15 ngµy kó tõ ngµy tuyn. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết ®Ó ®Ò nghÞ xÐt xô theo trình tự phóc thÈm.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Cục THA dân sự tỉnh Phú Thọ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Điêu Thị Bích Lượt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/DS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp chia di sản thừa kế

  • Số bản án: 25/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Trọng O - Lê Thị A - Chia di sản thừa kế
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger