Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HOÀN KIẾM TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 25/2024/KDTM-ST

Ngày: 27/8/2024.

Về việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Việt Hùng - Thẩm phán.

Các Hội Thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Phương Mai.

Ông Trần Ngọc Thịnh.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Linh Chi - Thư ký.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 59/2022/TLST-KDTM ngày 19/12/2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-KDTM ngày 08/07/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 96/2024/QĐST-KDTM ngày 31/7/2024, giữa:

- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần S1.

Địa chỉ: Lô X, khu công nghiệp Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương, Việt Nam.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Yang Yoon S - Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Hoàng Thị H1, ông Bùi Đình H2 ( có mặt), ông Trương Đình T( vắng mặt).

Địa chỉ: Tầng E, tòa nhà C, số A phố T, phường T, quận C, thành phố Hà Nội.

Theo Hợp đồng ủy quyền số 83/2023/HĐUQ-SR ngày 01/12/2023.

- Bị đơn: Công ty Cổ phần S2 – C. Địa chỉ: Số B, Q, phường T, quận H thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật ( tại thời điểm khởi kiện): Ông Đỗ Hoàng V – Tổng giám đốc.

Đại diện theo pháp luật: Ông Đinh Văn H3 – chức vụ: Tổng Giám đốc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, đơn xin xét xử vắng mặt của nguyên đơn trình bày như sau:

Ngày 02/01/2019, Công ty Cổ phần S1 (sau đây gọi tắt là Công ty S1) và Công ty cổ phần S2 (sau đây gọi tắt là Công ty S2) đã cùng nhau ký kết hợp đồng kinh tế số 693/HĐNT/SR-THM/2018, sau đó ký bổ sung thêm phụ lục số 01 ngày 02/01/2019 với nội dung: Công ty S1 sẽ bán cho Công ty S2 các sản phẩm phụ gia bê tông sau:

  • Tên sản phẩm: ROADCON SK1000; đơn vị: VNĐ/lít; đơn giá: 15.500; đóng gói: 1.000 lít/ thùng;
  • Tên sản phẩm: ROADCON SPR1500; đơn vị: VNĐ/lít; đơn giá: 16.500; đóng gói: 1.000 lít/ thùng;
  • Tên sản phẩm: ROADCON SR3000F; đơn vị: VNĐ/lít; đơn giá: 24.500; đóng gói: 1.000 lít/ thùng.

Đơn giá trên đã bao gồm phí vận chuyển, chưa bao gồm thuế VAT 10%.

Công ty S1 có trách nhiệm giao hàng theo số lượng đặt hàng và trong thời gian yêu cầu của Công ty S2. Hàng tháng, Công ty S1 xuất hóa đơn và công ty S2 có nghĩa vụ thanh toán 100% giá trị hợp đồng cho Công ty S1 trong vòng 60 ngày kể từ ngày xuất hóa đơn tài chính. Việc thanh toán có thể được thực hiện bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản vào tài khoản của Công ty S1. Trong trường hợp thanh toán chậm so với thời hạn thanh toán nêu trên thì công ty S2 sẽ phải chịu lãi suất chậm thanh toán là 0,05%/ngày trên tổng số tiền chậm thanh toán.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty S1 đã tiến hành giao hàng nhiều lần cho công ty S2 với tổng số tiền hàng là 14.291.751.650 đồng (mười bốn tỷ hai trăm chín mươi mốt triệu bảy trăm năm mươi mốt nghìn sáu trăm năm mươi đồng) nhưng công ty S2 mới chỉ thanh toán cho Công ty S1 7.892.010.500 đồng (bảy tỷ tám trăm chín mươi hai triệu không trăm mười nghìn năm trăm đồng). Số tiền còn lại là 6.399.741.150 đồng (sáu tỷ ba trăm chín mươi chín triệu bảy trăm bốn mươi mốt nghìn một trăm năm mươi đồng) thì Công ty S2 đã không thanh toán cho Công ty S1.

Ngày 12/01/2023, Công ty S2 có thanh toán cho Công ty S1 số tiền 210.000.000 đồng (hai trăm mười triệu đồng).

Như vậy, số nợ gốc còn lại là 6.189.741.150 đồng (sáu tỷ một trăm tám mươi chín triệu bảy trăm bốn mươi mốt nghìn một trăm năm mươi đồng).

Với số tiền nợ trên, Công ty S1 đã rất nhiều lần đề nghị công ty S2 thanh toán dứt điểm nhưng công ty S2 vẫn tiếp tục trì hoãn việc trả nợ với nhiều lý do không chính đáng.

Nguyên đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết các vấn đề như sau:

  • Buộc công ty cổ phần S2 - CONCRETE phải thanh toán toàn bộ số tiền mua hàng chậm thanh toán là: 6.189.741.150 đồng (sáu tỷ một trăm tám mươi chín triệu bảy trăm bốn mươi mốt nghìn một trăm năm mươi đồng).
  • Công ty cổ phần S2 - CONCRETE phải chịu lãi chậm trả cho số tiền mua hàng chậm thanh toán là 6.189.741.150 đồng với lãi suất 0,05%/ ngày.

*Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn - Công ty Cổ phần S2 – CONCRETE, đại diện theo pháp luật ông Đinh Văn H3 đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng không lên Toà, không có văn bản trình bày ý kiến.

*Tại phiên tòa:

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – bà H1, ông H2 vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, Công ty S1 đã bán và giao hàng cho Công ty THM theo đúng Hợp đồng kinh tế số 693/HĐNT/SR-THM/2018, trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty S2 không khiếu nại về nhãn hiệu, chủng loại và chất lượng nên đề nghị Toà án buộc Công ty S2 phải thanh toán toàn bộ số tiền mua hàng chậm thanh toán là: 6.189.741.150 đồng cho Công ty S1.

Mặc dù có sự thay đổi về tiền chậm thanh toán và thời điểm sau 60 ngày kể từ ngày xuất hoá đơn VAT nhưng Công ty S1 chỉ tính lãi đối với số tiền chậm thanh toán tại thời điểm hiện tại 6.189.741.150 đồng và tính ngày quá hạn của hoá đơn cuối cùng ( ngày 01/3/2022) cho đến ngày xét xử sơ thẩm, yêu cầu Công ty S2 trả cho Công ty S1 số tiền lãi là 2.816.332.223 đồng.

Bị đơn vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thụ lý vụ án, tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự, tiến hành hòa giải, thu thập chứng cứ và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tiến hành đúng các thủ tục theo quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Tuy nhiên thời hạn xét xử còn chậm.

Đối với các đương sự: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn đã chấp hành pháp luật theo các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự 2015. Bị đơn đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên toà không có lý do là không có ý thức chấp hành pháp luật. Toà án xét xử vắng mặt bị đơn là theo đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty S1. Buộc Công ty S2 phải thanh toán số tiền hàng chậm thanh toán và tiền lãi theo thoả thuận giữa hai công ty cho Công ty S1.

Công ty S2 phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

Công ty S1 và Công ty S2 được quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, sau phần tranh luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật trong vụ án: Tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hoá giữa hai tổ chức đều có đăng ký kinh doanh, căn cứ vào khoản 1 Điều 30 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 đây là tranh chấp về kinh doanh thương mại.

Căn cứ vào Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9 của Hợp đồng kinh tế số 693/HĐNT/SR-THM/2018 ngày 02/01/2019, các bên thỏa thuận “Mọi tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng sẽ do H4 bên thương lượng, Trong trường hợp hai bên không giải quyết được thì tranh chấp sẽ được đưa ra Tòa án có thẩm quyền theo qui định của pháp luật Việt Nam....”. Trụ sở của bị đơn tại số B phố Q, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Do vậy, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm thụ lý và giải quyết vụ án kinh doanh thương mại về “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá” là đúng thẩm quyền.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Quá trình giải quyết vụ án, toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn và thông báo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị bị đơn cung cấp các tài liệu chứng cứ nhưng bị đơn không cung cấp. Toà án đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà cho bị đơn nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do nên toà án xét xử vắng mặt bị đơn là theo đúng qui định tại điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 02/01/2019 Công ty S1 và Công ty S2 ký Hợp đồng kinh tế số 693/HĐNT/SR-THM/2018 về việc mua bán chất phụ gia bê tông, ngày 27 tháng 1 năm 2022 là ngày cuối cùng Công ty S2 thanh toán cho Công ty S1 nên căn cứ vào điều 319 Luật thương mại thì vụ án còn thời hiệu khởi kiện.

[4] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[4.1] Về yêu cầu trả nợ tiền mua hàng còn nợ lại chưa thanh toán: Theo hợp đồng kinh tế số 693/HĐNT/SR-THM/2018 và phụ lục số 01 ngày 02/01/2019, Công ty S1 bán cho Công ty THM các sản phẩm phụ gia bê tông sau:

  • Tên sản phẩm: ROADCON SK1000; đơn vị: VNĐ/lít; đơn giá: 15.500; đóng gói: 1.000 lít/ thùng;
  • Tên sản phẩm: ROADCON SPR1500; đơn vị: VNĐ/lít; đơn giá: 16.500; đóng gói: 1.000 lít/ thùng;
  • Tên sản phẩm: ROADCON SR3000F; đơn vị: VNĐ/lít; đơn giá: 24.500; đóng gói: 1.000 lít/ thùng.

Đơn giá trên đã bao gồm phí vận chuyển, chưa bao gồm thuế VAT 10%.

Theo đơn khởi kiện và các văn bản của Công ty S1 gửi tới toà án khi khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án thì Công ty S1 yêu cầu Công ty S2 trả số tiền nợ do mua hàng chưa thanh toán là 6.189.741.150 đồng (Bằng chữ: Sáu tỷ một trăm tám mươi chín triệu bảy trăm bốn mươi mốt nghìn một trăm năm mươi đồng).

Căn cứ vào hợp đồng kinh tế, phụ lục hợp đồng kinh tế và các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Sau khi bán hàng Công ty S1 đã xuất 30 hoá đơn bán hàng cho công ty S2 với tổng số giá trị hàng hoá là: 14.291.751.650 đồng ( đã bao gồm thuế VAT).

Căn cứ trên báo cáo thuế năm 2019,2020,2021 của Công ty S2 tại chi cục thuế Quận H được cung cấp cho Toà án thì Công ty S2 đã báo cáo thuế 30 hoá đơn mua bán hàng hoá với tổng số tiền là 14.291.751.650 đồng.

Theo Biên bản đối chiếu công nợ ngày 31/07/2021 giữa Công ty Cổ phần S2 – CONCRETE(bên mua) và Công ty Cổ phần S1 (bên bán) có xác nhận: Số dư đến hết ngày 30/6/2021 là 6.973.241.150 đồng; Phát sinh từ 01/7/2021 đến 31/7/2021 là 215.600.000 đồng; Tổng số tiền bên mua đã thanh toán cho bên bán trong tháng 07/2021 là 250.000.000 đồng; Số tiền bên mua còn nợ bên bán là 6.938.841.150 đồng (Bằng chữ: Sáu tỷ chín trăm ba mươi tám triệu tám trăm bốn mươi mốt nghìn một trăm năm mươi đồng).

Sau ngày 31/7/2021 thì Công ty Cổ phần S1 vẫn tiếp tục bán hàng cho Công ty S2 và xuất các hoá đơn: Số 0000094 ngày 30/10/2021- số tiền: 270.600.000 đồng; Số 0000373 ngày 30/11/2021- số tiền: 108.900.000 đồng; Số 0000745 ngày 29/12/2021- số tiền: 81.400.000 đồng ( hai bên chưa đối chiếu công nợ nhưng Công ty S2 đã báo cáo thuế và hạch toán nhập và xuất chi phí 621).

Theo tài liệu Ngân hàng TMCP N – chi nhánh H5 cung cấp cho Toà án về các giao dịch thanh toán giữa Công ty TNHH S2 – C cho Công ty Cổ phần S1 sau ngày 31 tháng 7 tháng 2021 như sau:

  • Ngày giao dịch: 06/10/2021, số tài khoản nhận 341001912578 (STK của Công ty Cổ phần S1), số tiền: 100.000.000 đồng;
  • Ngày giao dịch: 23/10/2021, số tài khoản nhận 341001912578 (STK của Công ty Cổ phần S1), số tiền: 200.000.000 đồng;
  • Ngày giao dịch: 31/12/2021, số tài khoản nhận 341001912578 (STK của Công ty Cổ phần S1), số tiền: 100.000.000 đồng;
  • Ngày giao dịch: 22/01/2022, số tài khoản nhận 341001912578 (STK của Công ty Cổ phần S1), số tiền: 200.000.000 đồng;
  • Ngày giao dịch: 27/01/2022, số tài khoản nhận 341001912578 (STK của Công ty Cổ phần S1), số tiền: 300.000.000 đồng.

Công ty S1 cung cấp sao kê của Ngân hàng TMCP N – chi nhánh H5 ngày 12/01/2023, Công ty S2 tiếp tục thanh toán cho Công ty Cổ phần S1 số tiền 210.000.000 đồng.

Với những phân tích trên, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty S1, buộc Công ty S2 phải trả cho Công ty S1 số tiền nợ gốc là: nợ gốc 6.189.741.150 đồng.

[3.2] Về yêu cầu trả lãi: Công ty S1 yêu cầu trả lãi tính từ thời điểm ngày 1/3/2022 đến ngày 27/8/2024 với lãi suất 0,05%/ngày ( 15%/tháng) với lý do là công ty S1 chỉ tính lãi từ thời điểm sau 60 ngày tính từ ngày xuất hoá đơn cuối cùng ( 29/12/2021) trên số tiền mua hàng còn nợ lại tại thời điểm hiện nay 6.189.741.150 đồng, tiền lãi là: 6.189.741.150 đồng x 0,05%/ ngày x 910 ngày = 2.816.332.233 đồng.

Căn cứ theo điều 6 của Hợp đồng kinh tế số 693/HĐNT/SR-THM/2018 ngày 02/01/2019 thì hai bên có qui định:

Thanh toán:

6.1. Hàng tháng, bên bán xuất hoá đơn, bên mua có nghĩa vụ thanh toán 100% giá trị hợp đồng cho bên Bán trong vòng 60 ngày kể từ ngày xuất hoá đơn tài chính.

6.2. Việc thanh toán có thể được thực hiện bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản vào tài khoản của bên Bán.

6.3. Trong trường hợp Bên mua thanh toán chậm so với thời hạn thanh toán do các bên qui định trong hợp đồng này, Bên mua sẽ phải chịu mức lãi suất chậm thanh toán 0,05%/ ngày trên tổng số tiền chậm thanh toán.

Hội đồng xét xử nhận thấy Công ty S1 tính thời hạn sau 60 ngày kể từ ngày xuất hoá đơn cuối cùng (29/12/2021) trên số tiền mua hàng còn nợ lại tại thời điểm hiện nay 6.189.741.150 đồng cần ghi nhận sự tự nguyện của Công ty S1 vì trước đó Công ty S2 đã vi phạm các khoản chậm trả của các hoá đơn khác. Về lãi suất hai bên thoả thuận là phù hợp với qui định tại điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 nên cần chấp nhận mức lãi suất này.

Vì vậy, cần buộc Công ty S2 phải trả số tiền lãi đối với tiền mua hàng chậm chưa thanh toán là 2.816.332.233 đồng.

[4]Về án phí:Công ty S1 được chấp nhận yêu cầu khởi kiện và số nợ gốc và nợ lãi nên không phải chịu án phí.

Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật đối với số tiền nợ gốc, nợ lãi phải trả: 6.189.741.150 đồng + 2.816.332.233 đồng = 9.006.073.383 đồng nên phải nộp án phí là: 117.006.073 đồng ( làm tròn số 117.006.000 đồng).

[5]Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 30; Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 114; Điều 124; khoản 1 Điều 147; Điều 227; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ các Điều 11, Điều 24, Điều 50, Điều 55, Điều 306, Điều 317; Điều 319 Luật Thương mại
  • Căn cứ Điều 357; khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015
  • Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-NĐTPngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • Điều 2, 6, 7, 9, 30 của Luật Thi hành án dân sự.
  • Nghị quyết số 326/2016/UBNVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần S1 đối với Công ty Cổ phần S2 – C;
  2. Buộc Công ty Cổ phần S2 có nghĩa vụ trả cho Công ty Cổ phần S1 số tiền nợ mua hàng chưa thanh toán là: 6.189.741.150 đồng ( sáu tỷ một trăm tám mươi chín triệu bảy trăm bốn mươi mốt nghìn một trăm năm mươi đồng).
  3. Buộc Công ty Cổ phần S2 – CONCRETE trả cho Công ty Cổ phần S1, số tiền lãi chậm thanh toán: 2.816.332.233 đồng ( Hai tỷ tám trăm mười sáu triệu ba trăm ba mươi hai nghìn hai trăm ba mươi ba đồng).

Kể từ ngày kế tiếp xử sơ thẩm, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà hai bên thoả thuận trong hợp đồng.

  1. Án phí:

    Công ty Cổ phần S1 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 57.500.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 5197 ngày 19 tháng 12 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm.

    Công ty Cổ phần S2 – CONCRETE phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 117.006.000 đồng.

  2. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, Công ty Cổ phần S1 (có mặt) có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Công ty Cổ phần S2 ( vắng mặt) có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

  3. Thi hành án khi bản án có hiệu lực pháp luật: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND quận Hoàn Kiếm;
  • - Chi Cục Thi hành án DS
  • quận Hoàn Kiếm;
  • - Tòa án NDTP Hà Nội;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - Lưu Hồ sơ, Văn phòng;

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Việt Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/KDTM-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá

  • Số bản án: 25/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty Cổ phần S khởi kiện Công ty Cổ phần S1 tranh chấp mua bán hàng hoá
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger