|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH ----- |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ----- |
|
Bản án số: 25/2024/DS-ST Ngày: 25-8-2024 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu trả lại tài sản”. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Đức Quang
Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Hồng
Ông Nguyễn Sỹ Quân
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Soan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quyết - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, xét xử công khai sơ thẩm vụ án Dân sự thụ lý số: 04/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu Hủy Giấy CNQSD đất và yêu cầu trả lại tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXX-DS ngày 25 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 29/2024/QÐST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần Viết T, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn X, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Đặng Thị Phương A, sinh năm 1996; địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phan Văn C; bà Bùi Hoàng Linh C1 và bà Trần Thị H; địa chỉ: Số B, đường V, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Trần Đức T1 (tên gọi khác: Trần Đắc T2; Trần Đức T3) và bà Trần Thị A1; cùng địa chỉ: Thôn Q, xã Y, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đồng thời là đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Ông Nguyễn H1 – Luật sư Văn phòng L và Cộng sự thuộc Đoàn Luật sư tỉnh H. Có mặt.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Nguyễn Bá T4, sinh năm 1979 và bà Phan Thị A2, sinh năm 1993; cùng địa chỉ: Thôn Q, xã Y, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt - Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- - Ngân hàng N1 chi nhánh huyện C.
Đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng N1 chi nhánh huyện C: Ông Trần Đức S – Phó giám đốc A4 Chi nhánh huyện C. Có mặt.
- - Ủy ban nhân dân xã Y, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện theo ủy quyền của UBND xã Y, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh: Bà Nguyễn Thị N – Chức vụ Công chức Tài nguyên môi trường. Vắng mặt - Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- - Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện theo uỷ quyền của UBND huyện C, tỉnh Hà Tĩnh: Ông Nguyễn Hồng V – Chức vụ Chuyên viên phòng T7. Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, bản tự khai, quan điểm trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn anh Trần Viết T và người đại diện theo ủy quyền của anh T trình bày:
Năm 1992 anh Trần Viết T lên khai hoang một thửa đất có diện tích khoảng 600m² thuộc một phần thửa đất số 190, tờ bản đồ 39 địa chỉ tại thôn Q, xã Y, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh có tứ cận:
- + Phía Bắc: Giáp đường ngõ vào nhà ông Trần Đắc T2
- + Phía Nam: Giáp trục đường thôn 3m
- + Phía Đông: Giáp trục đường xã
- + Phía Tây: Giáp đất ông Trần Đắc T2
Sau khi khai hoang, anh T làm nhà ở và sửa chữa xe đạp, xe máy phục vụ cuộc sống. Năm 1997, anh T lấy vợ, sinh con và gia đình sinh sống ổn định trên thửa đất. Năm 2005 vì điều kiện kinh tế khó khăn nên gia đình anh T vào miền N để làm việc và sinh sống. Thỉnh thoảng trong khoảng thời gian từ 2005 đến nay gia đình anh có về quê hương và sinh hoạt trong căn nhà trên thửa đất nói trên.
Năm 2013, theo chủ trương của Nhà nước về việc xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân trên địa bàn xã Y, huyện C anh T được thông tin về quê thực hiện thủ tục đề nghị cấp Giấy chứng nhận theo quy định. Sau khi đo đạc, cung cấp các hồ sơ liên quan đến thửa đất, do điều kiện công việc nên anh T có nhờ ông Trần Đắc T2 hoàn thiện các giấy tờ còn lại và nộp cho UBND xã Y để được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh T đối với thửa đất nói trên.
Sau 10 năm từ năm 2013 đến năm 2023 qua nhiều lần liên lạc với ông T2, bà A1 để biết lý do về việc anh T chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông T2 luôn giải thích về việc khó khăn trong thủ tục đề nghị cấp. Do tin tưởng ông T2, bà A1 vì là chị gái ruột và anh rể nên anh T chờ đợi.
Về sau anh T được biết ngày 01/04/2011 ông Trần Đắc T2 và bà Trần Thị A1 đã được UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC 989387, số vào sổ cấp giấy CNQSD đất: H-09927 đối với toàn bộ thửa đất số 299, tờ bản đồ số 01 (299/TTg), diện tích 1569m² trong đó bao gồm thửa đất có diện tích khoảng 600m² anh T khai hoang từ năm 1992.
Ngày 03/06/2013 ông Trần Đắc T2, bà Trần Thị A1 chuyển nhượng 350m² đất trong tổng diện tích 1569m² cho ông Nguyễn Bá T4, bà Phan Thị A2 (trú tại thôn Q, xã Y, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh) nay là thửa 191, tờ bản đồ 350. Sau khi hoàn thiện thủ tục chuyển nhượng UBND huyện C, tỉnh Hà Tĩnh đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BQ 668254, số vào sổ cấp GCN: CH 00605 ngày 20/01/2014 mang tên Nguyễn Bá T4, Phan Thị A2.
Ngày 20/01/2014 sau khi chuyển nhượng 350m² đất cho ông Nguyễn Bá T4, bà Phan Thị A2 thì ông Trần Đắc T2, bà Trần Thị A1 được UBND huyện C thực hiện thủ tục đăng ký biến động (cấp đổi) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BQ 535777, số vào sổ cấp GCN: CH 00604 đối với thửa đất số 190, tờ bản đồ 39, có diện tích 1184m². Việc ông Trần Đắc T2, bà Trần Thị A1 chiếm đoạt toàn bộ ngôi nhà, thửa đất anh T khai hoang từ năm 1992 và UBND huyện C, tỉnh Hà Tĩnh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Đắc T2, bà Trần Thị A1 trên diện tích đất của anh T là trái quy định pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của anh. Vì vậy, anh T đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giải quyết những yêu cầu sau:
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BC 989387, số vào sổ cấp giấy CNQSD đất: H-09927 do UBND huyện C cấp ngày 01/04/2011 mang tên Trần Đức T3, Trần Thị A1.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BQ 535777, số vào sổ cấp GCN: CH 00604 do UBND huyện C cấp ngày 20/4/2014 mang tên Trần Đức T3, Trần Thị A1.
- Hủy Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DH 355786, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH 01205 do UBND huyện C cấp ngày 14/9/2022 mang tên Trần Đức T1 và bà bà Trần Thị A1.
- Buộc ông Trần Đức T3, bà Trần Thị A1 trả lại thửa đất có diện tích 600m, tứ cận: phía Bắc: giáp đường ngõ vào nhà ông Trần Đức T3, phía Nam: giáp trục đường thôn, phía Đông: giáp trục đường xã, phía Tây: Giáp đất ông Trần Đức T3 và ngôi nhà trên đất cho nguyên đơn.
- Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Trần Đức T1 (tên gọi khác Trần Đắc T2, Trần Đức T3, bà Trần Thị Al và người đại diện trình bày:
Năm 1983 ông T1, bà A1 đã lên khai hoang thửa đất hiện nay anh T khởi kiện. Đến năm 1993 ông T1, bà A1 xây kiot để bán vật tư nông nghiệp. Năm 2011 ông bà được UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2013 ông T1, bà Al chuyển nhượng cho ông Nguyễn Bá T4 và bà Phan Thị A2 diện tích đất 350m². Năm 2014 ông T1, bà A1 và ông T4, bà A2 được cấp 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2022 ông T1, bà A1 được cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 1212,2m².
Về các tài sản trên đất tranh chấp có một dãy kiot do ông, bà xây dựng năm 1993 và kiot của anh T xây dựng năm 1996, năm 2005 anh T xây dựng thêm một gian phía sau để ở, tổng diện tích công trình của anh T khoảng 30m². Xung quanh thửa đất đã được xây dựng hệ thống tường rào bao quanh.
Vào thời điểm năm 2013 khi làm thủ tục để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông T1 có thông báo cho anh T biết với mục đích anh T về để vợ chồng ông T1, bà A1 làm thủ tục cắt một phần đất cho anh T, nhưng anh T không về được và có gửi về cho ông T1 1.000.000 đồng để làm thủ tục tách thửa và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; do anh T không về nên ông T1, bà A1 và cơ quan có thẩm quyền không làm được thủ tục tách thửa cho anh T. Vì vậy, ông T1, bà A1 đã làm thủ tục để cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận toàn bộ thửa đất cho ông bà.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T1, bà A1 không đồng ý vì phần đất đó do ông, bà khai hoang phục hóa từ năm 1983. Anh T là em út của bà A1 nên ông T1, bà A1 cho mượn đất để ở tạm. Việc ông, bà nhất trí cắt một phần thửa đất cho anh T khi giải quyết tại UBND xã là vì trước đây ông, bà cho anh T mượn đất và anh T đã xây nhà trên đất đó nên ông, bà nhất trí cho anh T diện tích có chiều rộng 8m, dài 30m, diện tích 240m², anh T nhất trí nhận diện tích này nhưng do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông, bà đang thế chấp tại Ngân hàng nên không làm thủ tục tách đất được cho anh T dẫn đến tranh chấp. Hiện nay anh T đã khởi kiện yêu cầu đòi lại 600m² đất là không có cơ sở, đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của anh Trần Viết T.
- Quá trình giải quyết vụ án người đại diện UBND huyện C trình bày:
Thửa đất anh Trần Viết T khởi kiện thuộc thửa đất số 299, tờ bản đồ số 01 (299ttg) mang tên ông T3 có diện tích 1620m². Thửa đất đã được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận số BC989387 ngày 01/4/2011 cho ông Trần Đức T3, bà Trần Thị A1. Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu thì thửa đất có nguồn gốc do vợ chồng ông T3, bà A1 khai phá sử dụng vào mục đích làm nhà ở từ năm 1983 cho đến nay. Ngày 02/7/2013 ông Trần Đức T3, bà Trần Thị A1 đã tách thửa đất, chuyển nhượng một phần thửa đất cho ông Nguyễn Bá T4 và bà Phan Thị A2 (đã được UBND xã C (cũ) chứng thực hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 02/7/2013); thửa đất nay tách thành 02 thửa gồm: Thửa số 190, tờ bản đồ số 39, với tổng diện tích 1184 m², trong đó đất ở 150m², đất trồng cây lâu năm 1034 m² tại thôn Q, xã Y; thửa đất đã được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận số BQ 535777 ngày 20/01/2014 cho ông Trần Đức T3, bà Trần Thị A1; thửa còn lại được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận QSD đất số BQ 668254 ngày 20/01/2014 với tổng diện tích 350 m², trong đó đất ở 150m², đất trồng cây lâu năm 200m² cho ông Nguyễn Bá T4 và bà Phan Thị A2. Đến ngày 18/4/2022 ông Trần Đức T3, bà Trần Thị A1 xây dựng hồ sơ đề nghị cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất số BQ 535777 ngày 20/01/2014 và đã được UBND huyện C cấp đổi tại giấy chứng nhận QSD đất số DH 355786 ngày 14/9/2022 với tổng diện tích 1212,2 m², trong đó đất ở 150m², đất trồng cây lâu năm 1062,2 m² thuộc thửa đất số 224, tờ bản đồ số 39.
Về yêu cầu khởi kiện của anh Trần Viết T do hồ sơ không thể hiện được việc anh T khai hoang đối với thửa đất này, căn cứ vào hiện trạng về việc ông T3 cho ông T xây dựng nhà vì vậy đề nghị Tòa án tiến hành hòa giải để đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp cho các bên đương sự. Trường hợp không hòa giải được đề nghị tòa án căn cứ quy định pháp luật để giải quyết.
- Quá trình giải quyết vụ án đại diện Ủy ban nhân dân xã Y trình bày:
Thửa đất tranh chấp có nguồn gốc theo hồ sơ cấp Giấy CNQSD đất năm 2011 là do hộ ông T3, bà A1 sử dụng từ năm 1983. Qua kiểm tra thực tế sử dụng đất, căn cứ bản đồ địa chính chính quy và sổ mục kê lưu trữ tại UBND xã Y thửa đất hộ ông T3 được đo tách thành 02 thửa, có 01 thửa mang tên ông Trần Viết T tại thửa số 145 tờ bản đồ số 39 với diện tích 322m² tại thôn Q, xã Y; thửa đất 145 tờ bản đồ số 39 đã có công trình xây dựng trên đất. Hiện nay thửa đất ông T3 được cấp giấy chứng nhận QSD đất đã bao gồm phần diện tích 322m² thuộc thửa đất 145 tờ bản đồ số 39, bản đồ địa chính chính quy. Do đó việc ông Trần Viết T khởi kiện là có cơ sở, đề nghị hai bên gia đình thống nhất để vụ việc được giải quyết dứt điểm tránh tình trạng kéo dài gây mất đoàn kết.
- Quá trình giải quyết vụ án người đại diện Ngân hàng N1 chi nhánh C trình bày:
Ông Trần Đức T1, bà Trần Thị A1 có khoản vay Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng số 3705-LAV-202304493 ngày 13/7/2023 với số tiền 200.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, hạn đến ngày 13/7/2024 là tất toán khoản vay trên. Ngân hàng cho vay theo hình thức tín chấp giữ Giấy CNQSD số phát hành DH 355786 do UBND huyện C cấp ngày 14/9/2022 mang tên Trần Đức T1 và bà bà Trần Thị A1 để đảm bảo khoản vay. Trong trường hợp tòa có quyết định làm thay đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DH 355786 làm ảnh hưởng tới quyền lợi của A4 chi nhánh huyện C đối với khoản vay của ông Trần Đức T1 và bà Trần Thị A1. Đề nghị ông Trần Đức T1 và bà Trần Thị A1 hoàn thành xong nghĩa vụ trả nợ của mình tại A4 chi nhánh huyện C. Sau khi ông Trần Đức T1 và bà Trần Thị A1 hoàn thành xong nghĩa vụ trả nợ, A4 chi nhánh huyện C có nghĩa vụ xuất tài sản cho khách hàng theo đúng quy định. Trường hợp hai bên không giải quyết được thì Ngân hàng sẽ khởi kiện yêu cầu giải quyết bằng một vụ án khác.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Bá T4 và chị Phan Thị A2 trình bày:
Năm 2013 vợ chồng thuê đất để mua bán phế liệu, ông T3 và bà A1 cho thuê tại vị trí đã có ki ốt để kinh doanh. Sau ông T3 và bà A1 có nói nếu vợ chồng mua thì ông T3 và bà A1 bán đất cho tại vị trí không có ki ốt. Vợ chồng anh T4, chị A2 và ông T3, bà A1 đã làm thủ tục chuyển nhượng tại cơ quan có thẩm quyền với diện tích nhận chuyển nhượng là 350m². Từ khi nhận chuyển nhượng và đến khi làm nhà, không có ai nói gì về thửa đất vợ chồng anh T4, chị A2 nhận chuyển nhượng và đến hiện nay vẫn không có ai có ý kiến và không thấy ai tranh chấp. Trong quá trình sinh sống có thấy anh T về, anh T có biết việc vợ chồng anh T4, chị A2 đã mua đất và xây nhà, sinh sống tại đó nhưng anh T không có ý kiến. Vợ chồng anh T4, chị A2 làm thủ tục nhận chuyển nhượng từ năm 2013, đến năm 2014 thì được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ668254 ngày 20 tháng 01 năm 2014. Sau khi nhận chuyển nhượng vợ chồng đã xây nhà, sinh sống, canh tác trên đất nhận chuyển nhượng từ đó cho đến nay. Thời điểm nhận chuyển nhượng không có ai tranh chấp hay ý kiến nào khác. Vì vậy, đề nghị Tòa án căn cứ quy định pháp luật để giải quyết bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho vợ chồng.
Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 16/05/2024 đối với thửa đất tranh chấp phản ánh:
* Về đất: Thửa đất số 299, tờ bản đồ số 01 bản đồ 299 diện tích 1569m², nay thuộc thửa đất số 222 và 224 tờ bản đồ địa chính số 39 có diện tích theo hiện trạng sử dụng 1549,7m²; trong đó phần thửa đất tranh chấp thuộc thửa 224 tờ bản đồ số 39 mang tên ông Trần Đức T1, bà Trần Thị A1 có diện tích 1212,2m², đất ở 150m², đất trồng cây lâu năm 1062,2m², có vị trí tứ cận:
- + Phía Bắc giáp đường trục chính của xã (đường bê tông và nhựa) dài 33,34m.
- + Phía Nam giáp thửa số 223 của ông Trần Đức T1, bà Trần Thị A1 dài 35,06m.
- + Phía Đông giáp đường đất dài 36m
- + Phía Tây giáp thửa đất số 222 của anh Nguyễn Bá T4, chị Phan Thị A2 dài 32, 89m; giáp thửa số 223 của ông Trần Đức T1, bà Trần Thị A1 dài 2,11m.
- Về giá trị thửa đất:
- + Đất ở 150m² x 2.418.000 đồng x 2,4 (hệ số k) = 870.480.000 đồng (tám trăm bảy mươi triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng).
- + Đất trồng cây lâu năm 1062,2m² x 55.700 đồng = 59.164.540 đồng (năm chín triệu một trăm sáu mươi tư nghìn năm trăm bốn mươi đồng.
Tổng giá trị thửa đất 929.644.540 đồng (chín trăm hai mươi chín triệu sáu trăm bốn mươi bốn nghìn năm trăm bốn mươi đồng).
* Các tài sản gắn liền với thửa đất số 224, tờ bản đồ số 39, gồm có:
- + 01 ngôi nhà có diện tích 33,3m² kết cấu xây gạch taplo, mái lợp Phi rô xi măng đã xây hơn 30 năm, đã hết khấu hao (do ông T1, bà A1 xây dựng).
- + 01 ngôi nhà có diện tích 30,6m² kết cấu tường xây gạch đỏ + taplo mái lợp ngói đỏ và Phi rô xi măng đã xây hơn 30 năm và chái phía sau nhà diện tích 6,8m² đã hết giá trị khấu hao (do anh T xây dựng).
- + Mặt đường sân bê tông diện tích 99,6m² đổ đá dăm đá cuội, sỏi dày 20cm, có giá 40.635.000 đồng (do ông T1, bà A1 xây dựng).
- + T5 rào xây bằng gạch taplo năm 2008, dài 63,59m² đã hết khấu hao (do ông T1, bà A1 xây dựng).
- + 09 cột bê tông cốt thép cao 2m/cột có giá 100.000 đồng/cột = 900.000 đồng (do ông T1, bà A1 xây dựng).
- + Cổng và trụ cổng xây dựng năm 2008, đã hết khấu hao (do ông T1, bà A1 xây dựng).
- + 01 cây phượng, 01 cây dừa, 01 cây hoa giấy (của ông T1, bà A1 trồng). Các đương sự đề nghị không định giá.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, khoản 5 Điều 70, khoản 1 Điều 91, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, khoản 2, khoản 3 Điều 168 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 32, Điều 193 Luật tố tụng hành chính; Điều 158, Điều 160, Điều 166, khoản 1 Điều 579 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 12, Điều 100 Luật đất đai năm 2013; Điều 70 Nghị định số 43 ngày 15/5/2014 của Chính phủ; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15, khoản 4 Điều 26, khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Viết T:
1.1. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BC 989387, số vào sổ cấp giấy CNQSD đất: H-09927 do UBND huyện C cấp ngày 01/04/2011 mang tên Trần Đức T3, Trần Thị A1.
1.2. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BQ 535777, số vào sổ cấp GCN: CH 00604 do UBND huyện C cấp ngày 20/4/2014 mang tên Trần Đức T3, Trần Thị A1.
1.3. Hủy Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DH 355786, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH 01205 do UBND huyện C cấp ngày 14/9/2022 mang tên Trần Đức T1 và bà bà Trần Thị A1.
1.4. Buộc ông Trần Đức T1, bà Trần Thị A1 phải trả cho anh Trần Viết T và giao cho anh T được quyền quản lý, sử dụng một phần diện tích thửa đất số 229 tờ bản đồ 01 bản đồ 299 (nay thuộc một phần thửa đất số 224, tờ bản đồ số 39, địa Thôn Q, xã Y, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh), với diện tích 100,7m² trị giá 235.508.990 đồng (Hai trăm ba lăm triệu, năm trăm linh tám nghìn, chín trăm chín mươi đồng), trong đó đất ở 40m² trị giá 232.128.000 đồng (hai trăm ba hai triệu một trăm hai tám nghìn đồng), đất trồng cây lâu năm 60,7m² trị giá 3.380.990 đồng (Ba triệu ba trăm tám mươi nghìn chín trăm chín mươi đồng). Phần đất anh T được giao thuộc một phần thửa đất số 224 tờ bản đồ số 39, địa chỉ Thôn Q, xã Y, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.
2.2. Giao cho ông Trần Đức T1, bà Trần Thị A1 được quyền quản lý, sử dụng một phần diện tích thửa đất số 229 tờ bản đồ 01 bản đồ 299 (nay thuộc một phần thửa đất số 224, tờ bản đồ số 39, địa Thôn Q, xã Y, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh), với diện tích 1111,5m² trị giá 694.135.550đồng (Sáu trăm chín tư triệu, một trăm ba lăm nghìn năm trăm năm mươi đồng) trong đó đất ở 110m² trị giá 638.352.000 đồng (Sáu trăm ba tám triệu, ba trăm năm hai nghìn đồng), đất trồng cây lâu năm 1001,5m² trị giá 55.783.550 đồng (Năm mươi lăm triệu, bảy trăm tám ba nghìn năm trăm năm mươi đồng). Phần đất ông T1, bà A1 được giao thuộc một phần thửa đất số 224 tờ bản đồ số 39, địa chỉ Thôn Q, xã Y, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.
2.3. Buộc ông Trần Đức T1, bà Trần Thị A1 trả lại cho anh Trần Viết T 01 ngôi nhà có diện tích 30,6m² kết cấu tường xây gạch đỏ + taplo mái lợp ngói đỏ và Phi rô xi măng và chái phía sau nhà diện tích 6,8m² (Ngôi nhà và chái nhà nằm trên phần đất 100,7m² được giao cho anh T quản lý sử dụng).
2.4. Buộc ông Trần Đức T1, bà Trần Thị A1 có nghĩa vụ phải phải tháo dỡ, di dời, phá bỏ toàn bộ các công trình xây dựng, vật kiến trúc, cây cối và các tài sản khác trên phần đất giao cho ông Trần Viết T được quản lý sử dụng.
- Về án phí, chi phí tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí, chi phí phải chịu chi phí tố tụng theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến các đương sự và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và trả lại tài sản. Xét về tài sản tranh chấp là bất động sản và tài sản liên quan đến thửa đất tại xã Y, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu Hủy Giấy CNQSD đất và yêu cầu trả lại tài sản” và thụ lý, giải quyết vụ án là đảm bảo quy định tại khoản 9 Điều 26, Điều 34, khoản 1 Điều 37, Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự; khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng Hành chính,
[1.2]. Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, một số người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, xét thấy: Đây là phiên tòa được mở lần thứ hai, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ đối với các đương sự; nguyên đơn, bị đơn vắng mặt nhưng đã có văn bản ủy quyền cho người đại diện, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt đã có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt, đối với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn vắng mặt đã được tòa án thực hiện việc tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ. Tại phiên tòa các đương sự có mặt và đại diện Viện kiểm sát đều có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Căn cứ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1] Về nguồn gốc và quá trình sử dụng thửa đất tranh chấp:
Theo trình bày của nguyên đơn và đại diện của nguyên đơn thì năm 1992 anh Trần Viết T lên khai hoang một thửa đất có diện tích khoảng 600m² thuộc một phần thửa đất số 190, tờ bản đồ 39 địa chỉ tại thôn Q, xã Y, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh có tứ cận:
- + Phía Bắc: Giáp đường ngõ vào nhà ông Trần Đắc T2
- + Phía Nam: Giáp trục đường thôn 3m
- + Phía Đông: Giáp trục đường xã
- + Phía Tây: Giáp đất ông Trần Đắc T2
Sau khi khai hoang, anh T làm nhà ở và sửa chữa xe đạp, xe máy phục vụ cuộc sống. Năm 1997, anh T lấy vợ, sinh con và gia đình sinh sống ổn định trên thửa đất. Năm 2005 vì điều kiện kinh tế khó khăn nên gia đình anh T vào miền N để làm việc và sinh sống. Thỉnh thoảng trong khoảng thời gian từ 2005 đến nay gia đình anh có về quê hương và sinh hoạt trong căn nhà trên thửa đất nói trên.
Tuy nhiên, căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, trình bày của bị đơn và quan điểm của chính quyền địa phương thể hiện: Thửa đất anh Trần Viết T khởi kiện thuộc thửa đất số 299, tờ bản đồ số 01 (299ttg) mang tên ông T2 có diện tích 1620m², thửa đất này do ông T1, bà A1 khai hoang sử dụng từ năm 1983 và được đã được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận số BC989387 ngày 01/4/2011 cho ông Trần Đức T3, bà Trần Thị A1. Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu thì thửa đất có nguồn gốc do vợ chồng ông T1, bà A1 khai phá sử dụng vào mục đích làm nhà ở từ năm 1983 cho đến nay. Ngày 02/7/2013 ông Trần Đức T1, bà Trần Thị A1 đã tách thửa đất, chuyển nhượng một phần thửa đất cho anh Nguyễn Bá T4 và chị Phan Thị A2 (đã được UBND xã C (cũ) chứng thực hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 02/7/2013); thửa đất tách thành 02 thửa gồm: Thửa số 190, tờ bản đồ số 39, với diện tích 1184m², trong đó đất ở 150m², đất trồng cây lâu năm 1034m² tại thôn Q, xã Y, thửa đất đã được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận số BQ 535777 ngày 20/01/2014 cho ông Trần Đức T3, bà Trần Thị A1; thửa còn lại được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận QSD đất số BQ 668254 ngày 20/01/2014 với tổng diện tích 350m², trong đó đất ở 150m², đất trồng cây lâu năm 200m² cho ông Nguyễn Bá T4 và bà Phan Thị A2. Đến ngày 18/4/2022 ông Trần Đức T1, bà Trần Thị A1 xây dựng hồ sơ đề nghị cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất số BQ 535777 ngày 20/01//2014 và đã được UBND huyện C cấp đổi tại Giấy chứng nhận QSD đất số DH 355786 ngày 14/9/2022 với tổng diện tích 1212,2m², trong đó đất ở 150m², đất trồng cây lâu năm 1062,2 m²; thuộc thửa đất số 224, tờ bản đồ số 39 mang tên ông Trần Đức T1, bà Trần Thị A1.
[2.2]. Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả lại phần diện tích đất 600m², Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ do các đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được thì phần thửa đất tranh chấp hiện nay thuộc thửa 224, tờ bản đồ 39, địa chỉ Thôn Q, xã Y, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Theo hiện trạng sử dụng hiện nay thửa đất có diện tích 1212,2m², trong đó đất ở 150m², đất trồng cây lâu năm 1062,2m². Theo hồ sơ 299, hồ sơ cấp Giấy CNQSD đất và các tài liệu chứng cứ liên quan đến thửa đất đều thể hiện thửa đất do ông Trần Đức T1 và bà Trần Thị A1 khai hoang từ năm 1983, quá trình sử dụng ông T1, bà A1 đã kê khai, đăng ký quyền sử dụng đối với thửa đất và đã 03 lần được UBND huyện C cấp, cấp đổi Giấy CNQSD đất (vào các năm 2011, 2014 và 2022).
Quá trình giải quyết vụ án phía nguyên đơn cho rằng phần diện tích 600m² đất nằm trong thửa đất 224, tờ bản đồ số 39 do nguyên đơn khai hoang từ năm 1992, sau đó xây dựng nhà và các công trình khác sử dụng đến 2005 do điều kiện kinh tế nên phải vào miền N sinh sống. Tuy nhiên nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ tài liệu nào có căn cứ vững chắc để khẳng định phần diện tích đất này do nguyên đơn khai hoang sử dụng từ năm 1992, hồ sơ về quản lý đất đai được lưu trữ tại địa phương cũng không có tài liệu chứng cứ thể hiện anh Trần Viết T đã đăng ký quyền sử dụng đối với phần diện tích đất mà anh T cho rằng do mình khai hoang.
Tuy không có căn cứ chứng minh phần thửa đất tranh chấp do anh Trần Viết T tạo lập, nhưng thực tế thì anh Trần Viết T đã làm nhà, sinh sống trên một phần thửa đất trong thời gian dài, quá trình sử dụng anh T có công sức tôn tạo, giữ gìn, nâng cao giá trị thửa đất, đã xây dựng nhà ở và các công trình kiên cố khác trên một phần thửa đất; hiện nay trên thửa đất vẫn còn 01 ngôi nhà và công trình phụ trợ do anh Trần Viết T xây dựng; quá trình giải quyết vụ án bị đơn là ông Trần Đức T1, bà Trần Thị A1 và UBND xã Y cũng xác nhận việc gia đình anh T đã xây nhà, các công trình và có thời gian dài sinh sống, làm ăn trên thửa đất; bị đơn cũng xác định năm 2013 bị đơn đã gọi điện cho anh T về để làm thủ tục cắt đất cho anh T, do anh T bận không về nhưng đã gửi cho ông T1 1000.000 đồng (một triệu đồng) để ông T1 làm thủ tục tách thửa đất, do anh T không về nên không làm được thủ tục tách thửa. Mặt khác quá trình hòa giải tại chính quyền địa phương, cũng như tại Tòa án thì ông T1, bà A1 cũng đã có nguyện vọng cắt cho anh T một phần diện tích thửa đất có chiều dài mặt tiền 8m, chiều sâu 30m, với diện tích 240m².
Xét thấy, việc anh Trần Viết T xây dựng các công trình kiên cố, có quá trình sử dụng, tôn tạo và sinh sống một thời gian dài trên thửa đất, ông T1, bà A1 biết và không có ý kiến, khiếu nại gì; vào thời điểm làm thủ tục cấp Giấy CNQSD đất vào năm 2013, quá trình giải quyết tranh chấp tại địa phương và tại Tòa án ông T1, bà A1 đã có nguyện vọng cắt cho anh T một phần diện tích đất, điều này thể hiện anh T cũng là người có công tạo lập, giữ gìn và tôn tạo đối với thửa đất. Vì vậy, cần xem xét công nhận quyền sử dụng hợp pháp đối với phần khuôn viên thửa đất mà anh Trần Viết T đã sử dụng và xây dựng các công trình kiên cố trên thửa đất đang tranh chấp, với diện tích 100,7m²; đối với phần diện tích còn lại cần giao cho ông Trần Đức T1 và bà Trần Thị A1 tiếp tục được quyền quản lý, sử dụng.
Cụ thể phần diện tích đất giao cho các bên như sau:
- - Giao cho anh Trần Viết T được quyền quản lý phần đất có diện tích 100,7m², trong đó đất ở 40m² x 5.803.200 đồng/m² = 232.128.000 đồng, đất trồng cây lâu năm 60,7m² x 55.700 đồng/m² = 3.380.990 đồng, phần đất anh T được giao thuộc một phần thửa đất số 224 tờ bản đồ số 39, địa chỉ Thôn Q, xã Y, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.
- - Giao cho ông Trần Đức T1, bà Trần Thị A1 được quyền quản lý sử dụng phần đất 1111,5m², trong đó đất ở 110m² x 5.803.200 đồng/m² = 638.352.000 đồng, đất trồng cây lâu năm 1001,5m² x 55.700 đồng/m² = 55.783.550 đồng, phần đất ông T1, bà A1 được giao thuộc một phần thửa đất số 224 tờ bản đồ số 39, địa chỉ Thôn Q, xã Y, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.
[2.3]. Xét yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BC 989387, số vào sổ cấp giấy CNQSD đất: H-09927 do UBND huyện C cấp ngày 01/04/2011 mang tên Trần Đức T3, Trần Thị A1; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BQ 535777, số vào sổ cấp GCN: CH 00604 do UBND huyện C cấp ngày 20/4/2014 mang tên Trần Đắc T2, Trần Thị A1 và hủy Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DH 355786, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH 01205 do UBND huyện C cấp ngày 14/9/2022 mang tên Trần Đức T1, bà Trần Thị A1, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ kết kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và quan điểm của các bên đương sự xác định trên thửa đất tranh chấp có nhà ở công trình xây dựng của anh Trần Viết T, anh T đã sinh sống trên thửa đất trong một thời gian dài; hiện nay trên thửa đất vẫn còn nhà ở và công trình xây dựng của anh T. Tuy nhiên khi thực hiện các thủ tục để cấp, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Đức T1, bà Trần Thị A1 thì UBND xã và UBND huyện C không xác minh đầy đủ về nguồn gốc, quá trình sử dụng thửa đất, nguồn gốc tài sản trên đất, cũng không lấy ý kiến của anh Trần Viết T để xác định vì sao anh Trần Viết T lại xây dựng công trình trên thửa đất và nguyện vọng của anh T như thế nào về thửa đất nhưng cơ quan có thẩm quyền đã thực hiện cấp, cấp đổi Giấy CNQSD đất cho ông Trần Đức T1, bà Trần Thị A1 là không đảm bảo quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do đó cần hủy các Giấy CNQSD đất nêu trên.
[2.4]. Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả lại các tài sản, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Quá trình giải quyết vụ án và qua kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 16/5/2024 xác định trên phần đất tranh chấp có 01 ngôi nhà rộng 30,6m², chái phía sau rộng 6,8m² do anh Trầng Viết T6 tạo lập, hiện nay các tài sản này theo kết quả định giá đã hết khấu hao, không còn giá trị sử dụng, tuy nhiên nguyên đơn vẫn yêu cầu phía bị đơn trả lại các tài sản, mặt khác hiện nay các tài sản này đều nằm trên phần diện tích đất 100,7m² mà Hội đồng xét xử xác định cần giao cho nguyên đơn được quyền quản lý, sử dụng. Do đó cần buộc bị đơn có nghĩa vụ phải trả lại cho nguyên đơn những tài sản do nguyên đơn tạo lập.
[3] Đối với yêu cầu của Ngân hàng N1 chi nhánh huyện C, Hội đồng xét xử thấy rằng.
Quá trình giải quyết vụ án xác định ông Trần Đức T1, bà Trần Thị A1 có khoản vay Ngân hàng N1 chi nhánh huyện C II theo Hợp đồng tín dụng số 3705-LAV-202304493 ngày 13/7/2023 với số tiền 200.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, hạn đến ngày 13/7/2024 là tất toán khoản vay trên. Ngân hàng cho vay theo hình thức tín chấp giữ Giấy CNQSD đất của ông T1, bà A1 để đảm bảo khoản vay nhưng không làm thủ tục thế chấp tài sản.
Tại phiên tòa người đại diện Ngân hàng N1 chi nhánh huyện C có quan điểm trong trường hợp tòa án có quyết định làm thay đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DH 355786 làm ảnh hưởng tới quyền lợi của A4 chi nhánh huyện C đối với khoản vay của ông Trần Đức T1 và bà Trần Thị A1 thì đề nghị ông Trần Đức T1 và bà Trần Thị A1 hoàn thành xong nghĩa vụ trả nợ của mình tại A4 chi nhánh huyện C, Trường hợp ông T1 bà A1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng sẽ khởi kiện bằng một vụ án khác.
Xét đây đây là hợp đồng tín dụng Ngân hàng cho ông tần bà A1 vay theo hình thức tín chấp, không thực hiện thủ tục thế chấp tài sản theo quy định, vì vậy các bên liên quan phải thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo thoả thuận của hợp đồng. Trong trường hợp có tranh chấp thì có quyền yêu cầu giải quyết bằng một vụ án dân sự.
[4] Đối với thửa đất số 242 tờ bản đồ số 39 được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận QSD đất số BQ 668254 ngày 20/01/2014 với tổng diện tích 350m², trong đó đất ở 150m², đất trồng cây lâu năm 200m² cho anh Nguyễn Bá T4 và chị Phan Thị A2, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Đây là phần diện tích đất thuộc thửa đất số 299 tờ bản đồ 01 bản đồ 299 được ông Trần Đức T1 và bà Trần Thị A1 chuyển nhượng cho anh Nguyễn Bá T4 và chị Phan Thị A2 vào năm 2014. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều xác định không liên quan đến phần đất tranh chấp, nguyên đơn không có yêu cầu về phần đất này; mặt khác anh Nguyễn Bá T4 và chị Phan Thị A2 nhận chuyển nhượng thửa đất từ ông Trần Đức T1, bà Trần Thị A1 là ngay tình, hợp pháp. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí và chi phí tố tụng:
[5.1] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15, khoản 4 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Nguyên đơn anh Trần Viết T phải chịu 300.000,đồng án phí sơ thẩm.
- - Bị đơn ông Trần Đức T1, bà Trần Thị A1 là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí, nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
[5.2] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản hết 12.990.000 đồng (mười hai triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng). Căn cứ Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166 Bộ luật tố tụng dân sự: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp một phần nên buộc nguyên đơn, bị đơn phải chịu chi phí theo tỷ lệ giá trị tài sản của các bên không được chấp nhận, với tỷ lệ anh Trần Viết T phải chịu 75% với số tiền 9.742.500 đồng (chín triệu bảy trăm bốn hai nghìn năm trăm đồng), ông Trần Đức T1, bà Trần Thị A1 phải chịu với tỷ lệ 25% với số tiền 3.247.000 đồng (ba triệu hai trăm bốn bảy nghìn đồng). Do ông Trần Viết T đã nộp tạm ứng đầy đủ số tiền 12.990.000 đồng, nên cần buộc ông Trần Đức T1, bà Trần Thị A1 phải trả lại cho anh T số tiền 3.247.000 đồng (ba triệu hai trăm bốn bảy nghìn đồng).
[6] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, khoản 5 Điều 70, khoản 1 Điều 91, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, khoản 2, khoản 3 Điều 168 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 32, Điều 193 Luật tố tụng hành chính; Điều 158, Điều 160, Điều 166, khoản 1 Điều 579 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 12, Điều 100 Luật đất đai năm 2013; Điều 70 Nghị định số 43 ngày 15/5/2014 của Chính phủ; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15, khoản 4 Điều 26, khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Viết T:
1.1. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BC 989387, số vào sổ cấp giấy CNQSD đất: H-09927 do UBND huyện C cấp ngày 01/04/2011 mang tên Trần Đức T3, Trần Thị A1.
1.2. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BQ 535777, số vào sổ cấp GCN: CH 00604 do UBND huyện C cấp ngày 20/4/2014 mang tên Trần Đức T3, Trần Thị A1.
1.3. Hủy Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DH 355786, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH 01205 do UBND huyện C cấp ngày 14/9/2022 mang tên Trần Đức T1 và bà bà Trần Thị A1.
1.4. Buộc ông Trần Đức T1, bà Trần Thị A1 phải trả cho anh Trần Viết T và giao cho anh T được quyền quản lý, sử dụng một phần diện tích thửa đất số 229 tờ bản đồ 01 bản đồ 299 (nay thuộc một phần thửa đất số 224, tờ bản đồ số 39, địa Thôn Q, xã Y, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh), với diện tích 100,7m² trị giá 235.508.990 đồng (Hai trăm ba lăm triệu, năm trăm linh tám nghìn chín trăm chín mươi đồng), trong đó đất ở 40m² trị giá 232.128.000 đồng (hai trăm ba hai triệu một trăm hai tám nghìn đồng), đất trồng cây lâu năm 60,7m² trị giá 3.380.990 đồng (Ba triệu ba trăm tám mươi nghìn chín trăm chín mươi đồng). Phần đất anh T được giao thuộc một phần thửa đất số 224 tờ bản đồ số 39, địa chỉ Thôn Q, xã Y, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.
Phần đất có vị trí cụ thể như sau:
- + Phía Bắc giáp đường trục chính của xã (đường bê tông và nhựa) dài 6,72m.
- + Phía Nam giáp phần thửa số 224 giao cho Trần Đức T1, bà Trần Thị A1 dài 6,72m.
- + Phía Đông giáp phần thửa số 224 giao cho Trần Đức T1, bà Trần Thị A1 dài 15m.
- + Phía Tây giáp phần thửa đất số 224 giao cho Trần Đức T1, bà Trần Thị A1 dài 15m.
2.2. Giao cho ông Trần Đức T1, bà Trần Thị A1 được quyền quản lý, sử dụng một phần diện tích thửa đất số 229 tờ bản đồ 01 bản đồ 299 (nay thuộc một phần thửa đất số 224, tờ bản đồ số 39, địa Thôn Q, xã Y, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh), với diện tích 1111,5m² trị giá 694.135.550 đồng (Sáu trăm chín tư triệu, một trăm ba lăm nghìn năm trăm năm mươi đồng) trong đó đất ở 110m² trị giá 638.352.000 đồng (Sáu trăm ba tám triệu, ba trăm năm hai nghìn đồng), đất trồng cây lâu năm 1001,5m² trị giá 55.783.550 đồng (Năm mươi lăm triệu, bảy trăm tám ba nghìn năm trăm năm mươi đồng). Phần đất ông T1, bà A1 được giao thuộc một phần thửa đất số 224 tờ bản đồ số 39, địa chỉ Thôn Q, xã Y, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.
Phần đất có vị trí cụ thể như sau:
- + Phía Bắc giáp đường trục chính của xã (đường bê tông và nhựa) dài 19,97m + 6,65m; giáp phần đất giao cho anh Trần Viết T dài 6,72m.
- + Phía Nam giáp phần thửa số 223 của ông Trần Đức T1, bà Trần Thị A1 dài 35,06m.
- + Phía Đông giáp đường đất dài 36m.
- + Phía Tây giáp phần thửa đất số 222 của anh Nguyễn bá T4, chị Trần Thị A3 dài 32,89m; giáp phần thửa số 223 của ông Trần Đức T1, bà Trần Thị A1 dài 2,11m.
(Phần đất cụ thể giao cho nguyên đơn, bị đơn có sơ đồ chi tiết kèm theo bản án).
Các đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
2.3. Buộc ông Trần Đức T1, bà Trần Thị A1 trả lại cho anh Trần Viết T 01 ngôi nhà có diện tích 30,6m² kết cấu tường xây gạch đỏ + taplo mái lợp ngói đỏ và Phi rô xi măng và chái phía sau nhà diện tích 6,8m² (Ngôi nhà và chái nhà nằm trên phần đất 100,7m² được giao cho anh T quản lý sử dụng).
2.4. Buộc ông Trần Đức T1, bà Trần Thị A1 có nghĩa vụ phải phải tháo dỡ, di dời, phá bỏ toàn bộ các công trình xây dựng, vật kiến trúc, cây cối và các tài sản khác trên phần đất giao cho ông Trần Viết T được quản lý sử dụng.
3. Về án phí: Ông Trần Đức T1, bà Trần Thị A1 là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc anh Trần Viết T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng ông T đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0000772 ngày 22/01/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh nên được khấu trừ.
4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Buộc anh Trần Viết T phải chịu 9.742.500 đồng (chín triệu bảy trăm bốn hai nghìn năm trăm đồng), ông Trần Đức T1, bà Trần Thị A1 phải chịu 3.247.000 đồng (ba triệu hai trăm bốn bảy nghìn đồng). Do anh T đã nộp toàn bộ số tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản nên ông T1, bà A1 có nghĩa vụ trả cho anh T số tiền 3.247.000 đồng (ba triệu hai trăm bốn bảy nghìn đồng).
Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Đức Quang |
Bản án số 25/2024/DS-ST ngày 25/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu trả lại tài sản
- Số bản án: 25/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu trả lại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Năm 1992 anh Trần Viết Tùng lên khai hoang một thửa đất có diện tích khoảng 600m2 thuộc một phần thửa đất số 190, tờ bản đồ 39 địa chỉ tại thôn Quý Hòa, xã Yên Hòa, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh...
