Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN LÂM

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B Bản án số: 25/2024/KDTM - ST

Ngày 23/8/2024

"V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn Mười.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngà và ông Đào Văn Khanh.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Lê Tiến Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Phượng – Kiểm sát viên.

Ngày 23/8/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 01/2019/TLST - KDTM ngày 15/01/2019 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐST- KDTM ngày 02/01/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (viết tắt là Ngân hàng).

Địa chỉ: Số A L, phường T, quận C, Thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Trung T – Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Đại diện theo ủy quyền: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Q1 và khai thác tài sản Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q.

Địa chỉ: Số C L, phường L, quận B, Thành phố Hà Nội; người đại diện là ông Hà Anh D – Tổng giám đốc. Văn bản ủy quyền số 129/UQ.MB-MBAMC, ngày 13/4/2023.

Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Văn O – Chuyên viên xử lý nợ, có mặt.

Địa chỉ: Tầng C Tòa nhà M, số F Lô C L, N, Hải Phòng. Văn bản ủy quyền số 1263/UQ.MBAMC, ngày 16/02/2024.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1982, vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Chị Khúc Thị D1, sinh năm 1987, là vợ anh T1, vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Đều có hộ khẩu thường trú: Thôn D, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Hiện đều đang tạm trú: Tạp hóa B, đường L, Tổ C, Thôn N, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Thành X, sinh năm 1960, vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Hộ khẩu thường trú: Thôn D, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Hiện đang tạm trú: Tạp hóa B, đường L, Tổ C, Thôn N, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1959, vắng mặt.

Bà Bùi Thị H1, sinh năm 1957, là vợ ông H, có mặt.

Đều có địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Ông Nguyễn Văn D2, sinh năm 1970, vắng mặt.

Bà Vũ Thị V, sinh năm 1966, là vợ ông D2, có mặt.

Đều có địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1985, là con ông H, có mặt.

Chị Nguyễn Thị Á, sinh năm 1990, là con ông D2, vắng mặt.

Anh Nguyễn Văn Â, sinh năm 1992, là con ông D2, vắng mặt.

Đều có địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Quỹ Tín dụng nhân dân xã L.

Địa chỉ: Xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Tiến T2 – Chủ tịch Hội đồng quản trị, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện, lời khai tại phiên tòa, đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngân hàng đã ký kết Hợp đồng tín dụng, kế ước nhận nợ với anh Nguyễn Văn T1 và chị Khúc Thị D1 như sau: Hợp đồng tín dụng hạn mức số 05.13.740.684696.TD ngày 14/01/2013. Hạn mức cho vay tối đa là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng). Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh. Thời hạn giải ngân theo hạn mức là 12 tháng. Thời hạn đáo hạn mỗi khế ước là 6 tháng. Lãi suất trong hạn là lãi thả nổi tại thời điểm nhận nợ và điều chỉnh 6 tháng một lần bằng kỳ hạn 12 tháng lãi huy động trả sau cộng biên độ 4,2%/ năm. Lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn và cố định suốt thời gian quá hạn. Ngày trả lãi vào ngày 05 hàng tháng.

Tài sản đảm bảo: Quyền sử dụng đất diện tích 365 m2, trong đó đất ở 300m2, đất trồng cây lâu năm 65 m2, thời hạn sử dụng lâu dài và tài sản gắn liền tại thửa đất 113, tờ bản đồ 14, địa chỉ: thôn L, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền số T 986798 do UBND huyện V cấp ngày 04/12/2013 cho hộ ông Nguyễn Văn D2. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất công chứng ngày 11/01/2013 tại Văn Phòng C1, tỉnh Hưng Yên. Đăng ký giao dịch đảm bảo tại Văn phòng Đ, chi nhánh huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Sự vi phạm nghĩa vụ thanh toán, dư nợ: Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân số tiền 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng) vào ngày 14/01/2013 cho bên vay theo khế ước số LD1301400005, lãi suất trong hạn là 15%/năm, ngày đáo hạn là 14/7/2013.

Sau khi giải ngân, đến kỳ hạn trả nợ lãi ngày 05/6/2013 bên vay đã không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng. Kể từ thời điểm khoản vay bị quá hạn, Ngân hàng đã thông báo, đôn đốc yêu cầu bên vay trả nợ hoặc bên thế chấp bàn giao tài sản đảm bảo để xử lý nhưng bên vay vốn, bên thế chấp không thực hiện theo yêu cầu, kéo dài thời gian và trốn tránh nghĩa vụ trả nợ.

Tại phiên tòa Ngân hàng xác định trước đây, đơn khởi kiện gửi đến Tòa án do nhầm lẫn về số liệu nên Ngân hàng đã đánh máy nhầm số liệu: “Bên vay đã trả nợ cho Ngân hàng nợ gốc là: 93.250.000 đồng và 18.695.502 đồng tiền nợ lãi”. Tại phiên tòa Ngân hàng xác định bên vay chưa trả bất kỳ khoản nợ gốc nào cho Ngân hàng mà chỉ trả được tiền lãi là 18.695.502 đồng.

Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bên vay phải thanh toán số tiền gốc là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng), số nợ lãi tính đến ngày 10/4/2024 gồm lãi trọng hạn là 11.471.165 đồng (Mười một triệu bốn trăm bẩy mươi mốt nghìn, một trăm sáu mươi lăm đồng), lãi quá hạn là 980.750.000 đồng (Chín trăm tám mươi triệu, bẩy trăm năm mươi nghìn đồng). Tổng cả gốc và lãi là 1.392.471.165 đồng (Một tỷ, ba trăm chín mươi hai triệu, bốn trăm bẩy mươi mốt nghìn, một trăm sáu mươi lăm đồng).

Trường hợp bên vay không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ, tài sản là: Quyền sử dụng đất diện tích 365 m2, trong đó đất ở 300 m2, đất trồng cây lâu năm 65 m2, thời hạn sử dụng lâu dài và toàn bộ tài sản gắn liền với đất, tại thửa đất 113, tờ bản đồ 14, địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền số T 986798 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 04/12/2001 cho hộ ông Nguyễn Văn D2. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất công chứng ngày 11/01/2013 tại Văn Phòng C1, tỉnh Hưng Yên. Trường hợp số tiền thu hồi sau khi xử lý tài sản đảm bảo trên không đủ để trả nợ cho Ngân hàng, thì ông Nguyễn Văn T1 và bà Khúc Thị D1 tiếp tục phải thanh toán nghĩa vụ còn thiếu.

Về việc hoán đổi tài sản và phát sinh các công trình xây dựng của bên liên quan xây dựng trên đất thế chấp, Ngân hàng có quan điểm như sau: Ngân hàng nhận thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận hợp pháp và đầy đủ, quá trình ký kết hợp đồng thế chấp đúng quy định, đăng ký giao dịch đảm bảo đúng quy định pháp luật. Do vậy quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng phải được bảo vệ. Tại thời điểm thế chấp hộ ông D2 không hề thông báo cho Ngân hàng B thông tin nào liên quan đến việc tài sản hoán đổi như hiện trạng Tòa án đã xem xét. Việc hoán đổi này không thực hiện đúng theo quy định tại Điều 167 và khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 do vậy không có hiệu lực pháp lý. Các bên cũng không thông báo cho Ngân hàng biết và không được sự đồng ý của bên nhận thế chấp là Ngân hàng.

Ngân hàng đề nghị Tòa án tuyên: Buộc bên thứ 3 là anh Nguyễn Văn H2 phải tháo dỡ hoặc di chuyển tài sản là ngôi nhà 02 tầng để Ngân hàng xử lý thu hồi nợ. Trường hợp nếu tháo dỡ làm ảnh hưởng đến kết cấu và giá trị tài sản thì đề nghị Tòa tuyên Ngân hàng được quyền đề nghị xử lý toàn bộ tài sản gắn liền (bao gồm cả các tài sản đầu tư của bên thứ 3) cùng với quyền sử dụng đất, Ngân hàng hoàn lại giá trị đầu tư của bên thứ 3 tại thời điểm tài sản bị xử lý hoặc thi hành bản án do bên thứ 3 vẫn cư trú và khai thác tài sản đến khi tài sản bị xử lý. Về việc gia đình ông H2 thế chấp với Quỹ tín dụng xã L, Ngân hàng không năm được.

2. Lời khai của bị đơn: Tại lời khai của anh T1, chị D1 được Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng lấy lời khai, anh chị đều xác định việc ký kết hợp đồng tín dụng như Ngân hàng trình bày trên, anh T1, chị D1 trình bày do lâu nên không nhớ số tiền và thời gian vay, không nhớ được đã trả bao nhiêu, nhưng việc thanh toán gốc lãi bao nhiêu thì Ngân hàng ghi lại; mục đích vay tiền để cho bố là ông X kinh doanh, do làm ăn khó khăn, nợ nần nhiều, những người cho vay đến thúc ép, lấy tài sản, nên gia đình anh bà cùng bố mẹ (vợ chồng ông X) và các con từ năm 2013 phải vào địa chỉ hiện nay ở Đ, Lâm Đồng sinh sống đến nay. Anh T3, chị D1 trình bày việc vay tiền Ngân hàng thế chấp tài sản của vợ chồng ông D2 bà V (là em ruột ông H), là do ông H có mối quan hệ với ông X. Hiện nay do hoàn cảnh khó khăn chỉ làm thuê đủ tiền nuôi con ăn học, bố mẹ già yếu lại ốm đau, phải đi ở trọ, anh T3 chị D1 đề nghị Ngân hàng K số nợ gốc, miễn lãi cho anh chị, còn số nợ gốc anh chị xin trả dần, anh chị có đơn xin vắng mặt.

3. Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông X trình bày: Ông có quan hệ là bạn với ông H, do ông Hậu C tiền lo cho con đi nước ngoài lao động, nên ông dẫn ông H đến Ngân hàng Q để vay tiền, ông H lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của em ruột là ông Nguyễn Văn D2 để thế chấp vay tiền, số tiền vay 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng), ông D2 bà V đi nhận tiền về đưa cho ông H và ông H cho ông vay lại 230.000.000 đồng (Hai trăm ba mươi triệu đồng), lãi suất theo mức lãi suất của Ngân hàng, có trả được một ít lãi nhưng ông không nhớ, còn việc ông vay tiền ông H không viết giấy tờ gì và đến nay chưa trả ông H, ông X đề nghị Ngân hàng khởi kiện ông mới đúng vì thực chất ông sử dụng tiền vay, ông X đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật và có đơn xin vắng mặt.

3.2. Lời khai của bà V: Tại Biên bản lấy lời khai ngày 22/3/2019 bà V trình bày: Bà không có quan hệ gì với vợ chồng anh T3, thông qua ông X (ông X là bố đẻ anh T3) là bạn ông H (ông H là anh ruột chồng bà), nên vợ chồng bà đã đồng ý dùng tài sản của mình để thế chấp cho con ông X vay tiền Ngân hàng, bà không biết số tiền vay, mục đích vay, lãi suất như thế nào. Khi ký hợp đồng bà không đọc, nên sau này khi Tòa án cho xem lại hợp đồng thế chấp mới biết anh T3 chị D1 vay tiền. Khi ông X không trả được tiền thì Ngân hàng có đến làm việc, bà có bảo ông H gọi điện cho ông X để giải quyết. Bà yêu cầu Tòa án giải quyết theo pháp luật, đảm bảo quyền lợi chính đáng cho vợ chồng bà và không nhất trí với việc Ngân hàng yêu cầu phát mại tài sản.

Về nguồn gốc tài sản thế chấp là đất của mẹ chồng đã chia cho hai anh em và hiện trạng từ trước đến nay là như vậy, tức là chia theo hướng quay mặt ra đường to, nhưng bà không hiểu sao bản đồ và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại là đất hướng ra đường nhỏ. Bà V trình bày gia đình bà đã nhận được các văn bản tố tụng và sẽ làm thủ tục ủy quyền cho ông H tham gia tố tụng, nhưng đến thời điểm xét xử gia đình chưa làm thủ tục ủy quyền.

Tại phiên tòa bà V trình bày vợ chồng bà và các con cũng như gia đình ông H thống nhất đề nghị trả Ngân hàng 400.000.000 đồng tiền gốc, còn tiền lãi đề nghị Ngân hàng miễn toàn bộ lãi.

3.3. Lời khai của ông H: Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/3/2019, ông H nhất trí như bà V trình bày trên. Tại phiên tòa ngày 10/4/2024, ông H trình bày đất gia đình ông đã cho con trai là anh H2 và anh H2 đang thế chấp tại Quỹ tín dụng nhân dân xã Lương tài để vay tiền, nguồn gốc đất là của mẹ ông để lại cho ông và ông D2 mỗi người một phần, gia đình ông đã kê khai khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2001 cho con trai là anh H2, gia đình ông lúc đó gồm vợ chồng ông và con là anh H2 sinh năm 1985 trên 15 tuổi.

Tại biên bản làm việc ngày 14/8/2024 ông H trình bày vợ chồng ông và các con cũng như gia đình ông D2 bà V thống nhất đề nghị trả Ngân hàng 400.000.000 đồng tiền gốc, còn tiền lãi đề nghị Ngân hàng miễn toàn bộ lãi.

3.4. Lời khai của bà H1 là vợ ông H: Tại biên bản làm việc ngày 14/8/2024 cũng như tại phiên tòa bà H1 đều trình bày: Gia đình bà và gia đình bà V thống nhất đề nghị trả Ngân hàng 400.000.000 đồng tiền gốc, còn tiền lãi đề nghị Ngân hàng miễn toàn bộ lãi.

3.5. Lời khai của ông D2: Tại biên bản làm việc ngày 14/8/2024 ông D2 cũng nhất trí trình bày vợ chồng ông và các con cũng như gia đình ông H thống nhất đề nghị trả Ngân hàng 400.000.000 đồng tiền gốc, còn tiền lãi đề nghị Ngân hàng miễn toàn bộ lãi.

3.6. Lời khai của anh H2: Tại phiên tòa anh H2 cũng nhất trí trình bày gia đình anh và gia đình bà V thống nhất đề nghị trả Ngân hàng 400.000.000 đồng tiền gốc, còn tiền lãi đề nghị Ngân hàng miễn toàn bộ lãi. Do ông H là bố anh đặt vấn đề mượn sổ đỏ của nhà ông D2, hiện nay ông cũng rất suy nghĩ khổ tâm, nên anh đồng ý trả tiền cho Ngân hàng để Ngân hàng trả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhà ông D2. Về việc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi tên hộ ông Nguyễn Văn H2 thì là do bố anh trước đây làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, anh còn nhỏ ở chung hộ với bố mẹ. Việc thế chấp tài sản tại Quỹ tín dụng xã L không có liên quan gì trong vụ án.

3.7. Lời khai của anh Â: Tại lời khai ngày 04/5/2023 anh  thừa nhận gia đình gốm bố, mẹ, anh và chị Á có ký hợp đồng thế chấp tài sản của gia đình với Ngân hàng, gia đình anh không vay tiền mà thông qua ông H là bác ruột anh có quan hệ với ông X, nên gia đình mới đồng ý dùng tài sản thế chấp cho anh T3 chị D1 vay tiền, anh xác định do gia đình thiếu hiểu biết mới ký thế chấp. Về hiện trạng sử dụng đất của gia đình từ năm 2003 đến nay vẫn như vậy nhưng anh không hiểu sao lại thể hiện khác trên bản đồ.

3.8. Đối với chị Nguyễn Thị Á là con ông D2 bà V đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, gia đình bà V trình bày chị Á đã được thông báo và làm thủ tục ủy quyền, nhưng chị Á không làm thủ tục ủy quyền, tại phiên tòa bà V là mẹ chị trình bày chị đã nhận được thông báo xét xử, nhưng chị bận công việc nên không tham gia phiên tòa được.

3.9. Quan điểm của Quỹ tín dụng nhân dân xã Lương Tài tại Biên bản làm việc ngày 15/7/2024: Ông Nguyễn Văn H có thế chấp quyền sử dụng đất để vay tiền tại Quỹ tín dụng từ ngày 15/01/2024, ông hậu đã thực hiện tốt hợp đồng tín dụng và đã nhiều lần đáo hạn hợp đồng. Qũy tín dụng xác định không có liên quan gì trong vụ án và đề nghị vắng mặt. Đối với hợp đồng tín dụng Quỹ tính dụng không sao cung cấp với lý do đây là thông tin cá nhân khách hàng.

4. Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản:

4.1. Quyền sử dụng đất thửa số 113, tờ bản đồ số 14, diện tích 365 m2, tại thôn L, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; đã được Ủy ban nhân dân huyện V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 04/12/2001, ghi tên chủ sử dụng là hộ ông Nguyễn Văn D2.

Tài sản gắn liền với đất gồm 01 ngôi nhà cấp bốn xây năm 2003 đã cũ, diện tích 50 m2, giá trị còn lại là 20.083.000 đồng (Hai mươi triệu không trăm tám mươi ba nghìn đồng). Công trình phụ, bể nước, sân gạch, tường bao, cổng, kết quả định giá xác định các tài sản này đều đã hết khấu hao. Một số cây cối trên đất tổng giá trị là 7.335.000 đồng (Bẩy triệu ba trăm ba mươi lăm nghìn đồng).

4.2. Quyền sử dụng đất thửa số 101, tờ bản đồ số 14, diện tích 373 m2, tại thôn L, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; đã được Ủy ban nhân dân huyện V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 04/12/2001, ghi tên chủ sử dụng là hộ ông Nguyễn Văn H2.

Tài sản gắn liền với đất gồm 01 ngôi nhà hai tầng diện tích 55 m2/tầng, giá trị hiện còn là 232.953.600 đồng (Hai trăm ba mươi hai triệu, chín trăm năm mươi ba nghìn, sáu trăm đồng). Công trình phụ gồm bếp, vệ sinh, lán vẩy. Kết quả định giá xác định tài sản đều đã hết khấu hao. Một số cây cối trên đất tổng giá trị là 2.535.000 đồng (Hai triệu năm trăm ba mươi lăm nghìn đồng).

4.3. Thực tế hiện trạng sử dụng đất của hai gia đình hiện nay đều quay mặt tiền ra hướng Nam (đường to).

5. Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã L: Nguồn gốc đất của gia đình ông H và ông D2 là do bố mẹ các ông để lại. Quá trình quản lý, sử dụng hai gia đình đã tự hoán đổi cho nhau, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì mặt tiền hai thửa đất đều quay về hướng Đ (ngõ nhỏ), nhưng thực tế hiện trạng sử dụng đất của hai gia đình hiện nay đều quay mặt tiền ra hướng Nam (đường to).

Tòa án đã thông báo phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, do bị đơn vắng mặt, không hòa giải được, nên phải đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về thủ tục tố tụng Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã chấp hành nghiêm chỉnh và thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến bằng văn bản gửi Tòa án, không tham gia phiên họp, phiên tòa là chưa chấp hành nghiêm pháp luật.

Về nội dung đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 30, Điểm b Khoản 1 Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 463, Điều 466, Điều 295, Điều 299, Điều 317, Điều 318 Bộ luật Dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí của Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q.

Buộc anh Nguyễn Văn T1 và chị Khúc Thị D1 phải trả Ngân hàng số nợ gốc là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng), số nợ lãi tính đến ngày 10/4/2024 gồm lãi trong hạn là 11.471.165 đồng (Mười một triệu bốn trăm bẩy mươi mốt nghìn, một trăm sáu mươi lăm đồng), lãi quá hạn là 980.750.000 đồng (Chín trăm tám mươi triệu, bẩy trăm năm mươi nghìn đồng). Tổng cả gốc và lãi là 1.392.471.165 đồng (Một tỷ, ba trăm chín mươi hai triệu, bốn trăm bẩy mươi mốt nghìn, một trăm sáu mươi lăm đồng).

Anh T3 chị D1 phải trả số lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đến thời điểm thanh toán.

Nếu anh T3 chị D1 không trả được nợ, Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất diện tích 365 m2, trong đó đất ở 300m2, đất trồng cây lâu năm 65 m2, thời hạn sử dụng lâu dài và toàn bộ tài sản gắn liền với đất, tại thửa đất 113, tờ bản đồ 14, địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền số T 986798 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 04/12/2001 cho hộ ông Nguyễn Văn D2. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất công chứng ngày 11/01/2013 tại Văn Phòng C1, tỉnh Hưng Yên. Trường hợp số tiền thu hồi sau khi xử lý tài sản đảm bảo trên không đủ để trả nợ cho Ngân hàng, thì anh Nguyễn Văn T1 và chị Khúc Thị D1 tiếp tục phải thanh toán nghĩa vụ còn thiếu.

Đối với phần giá trị tài sản của vợ chồng ông H bà H1 và anh H2 gắn liền trên đất là một ngôi nhà 02 tầng, một số cây cối, tổng giá trị là 235.488.600 đồng (Hai trăm ba mươi lăm triệu, bốn trăm tám mươi tám nghìn, sáu trăm đồng), không phải là tài sản thế chấp, nên khi xử lý tài sản thế chấp phần giá trị tài sản này sẽ trả lại cho vợ chồng ông H bà H1 và anh H2. Nếu vợ chồng ông H bà H1 và anh H2 có nhu cầu nhận chuyển nhượng tài sản thế chấp thì được ưu tiên nhận chuyển nhượng theo quy định của pháp luật.

Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ thì bên có nghĩa vụ vẫn phải thanh toán phần còn thiếu cho đến khi tất toán khoản nợ.

Về án phí, chi phí tố tụng: Buộc đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm nhận định;

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng khởi kiện đối với anh Nguyễn Văn T1 chị Khúc Thị D1 về tranh chấp Hợp đồng tín dụng, tại Hợp đồng tín dụng xác định mục đích vay tiền bổ sung vốn kinh doanh, nên xác định đây là tranh chấp về kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn vắng mặt tại nơi có hộ khẩu thường trú, Tòa án phải xác định địa chỉ và ủy thác thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật, do vậy phải tạm đình chỉ vụ án, khi lý do tạm đình chỉ giải quyết vụ án không còn, Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án là đúng quy định pháp luật.

Tại phiên tòa ngày 10/4/2024 do phát sinh chứng cứ mới cần thu thập mới có căn cứ giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử phải tạm ngừng phiên tòa và tạm đình chỉ vụ án do hết thời hạn tạm ngừng, do khi đã thu thập đầy đủ chứng cứ, vụ án được tiếp tục xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị đơn là anh T1, chị D1, ông X, Quỹ tín dụng nhân dân xã L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt, Tòa án xét xử vắng mặt đương sự là có căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc ông Nguyễn Thành X có ý kiến cho rằng Ngân hàng phải khởi kiện ông, vì ông là người sử dụng tiền vay, tuy nhiên căn cứ vào hợp đồng tín dụng thì anh T1 chị D1 là người ký kết với tư cách là người vay và Ngân hàng khởi kiện, yêu cầu anh T1 chị D1 thanh toán, nên xác định anh T1 chị D1 là bị đơn là phù hợp pháp luật.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng: Căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các đương sự đều thừa nhận có ký kết hợp đồng tín dụng, nên đủ căn cứ khẳng định, ngày 14/01/2013, Ngân hàng và anh Nguyễn Văn T1, chị Khúc Thị D1 đã ký Hợp đồng tín dụng hạn mức số 05.13.740.684696.TD vay Ngân hàng số tiền 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng); cũng như mục đích vay, thời hạn vay, lãi suất như Ngân hàng trình bày trên là sự thực.

Quá trình thực hiện hợp đồng bên vay chưa trả một gốc mà chỉ thanh toán một phần lãi, tại phiên tòa Ngân hàng xác định số nợ gốc và yêu cầu thanh toán 400.000.000 đồng là phù hợp với các chứng từ và lời khai của ông X xác định chỉ trả một phần lãi, anh T1 xác định khi trả thì Ngân hàng ghi lại. Mặc dù đã quá thời hạn thanh toán, nhưng bên vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu phía bị đơn phải thanh toán số nợ gốc 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng) là có căn cứ chấp nhận. Việc anh T1 chị D1 đề nghị, do hoàn cảnh khó khăn, sẽ trả dần, nhưng Ngân hàng không đồng ý, nên không có căn cứ chấp nhận.

Xét về yêu cầu lãi suất: Tại phiên tòa, Ngân hàng xuất trình bảng kê tính lãi, yêu cầu số tiền lãi tính đến ngày 10/4/2024 gồm gồm lãi trong hạn là 11.471.165 đồng (Mười một triệu bốn trăm bẩy mươi mốt nghìn, một trăm sáu mươi lăm đồng), lãi quá hạn là 980.750.000 đồng (Chín trăm tám mươi triệu, bẩy trăm năm mươi nghìn đồng) và yêu cầu anh T1 chị D1 trả số lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đến thời điểm thanh toán. Căn cứ khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự quy định hai khoản lãi mà bên có nghĩa vụ phải trả là lãi suất trong hạn và lãi suất nợ quá hạn. Việc yêu cầu tính lãi đối với lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn là phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận như yêu cầu của Ngân hàng. Tổng cả gốc và lãi là 1.392.471.165 đồng (Một tỷ, ba trăm chín mươi hai triệu, bốn trăm bẩy mươi mốt nghìn, một trăm sáu mươi lăm đồng). Việc anh T1 chị D1 đề nghị miễn giảm tiền lãi, tại phiên tòa những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt đề nghị miễn toàn bộ lãi. Ngân hàng không đồng ý miễn toàn bộ lãi, nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử miễn giảm lãi.

Xét về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Tài sản đảm bảo cho khoản vay là toàn bộ Quyền sử dụng đất diện tích 365 m2, trong đó đất ở 300 m2, đất trồng cây lâu năm 65 m2, thời hạn sử dụng lâu dài và toàn bộ tài sản gắn liền với đất, tại thửa đất 113, tờ bản đồ 14, địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền số T 986798 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 04/12/2001 cho hộ ông Nguyễn Văn D2. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất công chứng ngày 11/01/2013 tại Văn Phòng C1, tỉnh Hưng Yên; được đăng ký theo quy định của pháp luật.

Việc ký kết hợp đồng thế chấp tài sản các bên đều tự nguyện, đúng trình tự pháp luật, hợp đồng thế chấp tài sản được công chứng và đăng ký theo quy định của pháp luật, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng về xử lý tài sản thế chấp nếu bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Nếu số tiền thu hồi từ tài sản đảm bảo chưa đủ nghĩa vụ trả nợ thì bên vay vẫn phải thanh toán toàn bộ khoản vay.

Đối với tài sản của vợ chồng ông H và anh H2 xây trên đất trị giá nhà là 232.953.600 đồng, cây cối trị giá 2.535.000 đồng là tài sản của gia đình ông H không thế chấp, nên khi xử lý tài sản thế chấp giá trị trài sản gắn liền trên đất sẽ trả lại cho gia đình ông H. Giá trị tài sản này được xác định theo kết luận định giá tại thời điểm Tòa án xét xử vụ án, khi xử lý tài sản thế chấp giá trị tài sản sẽ được xác định theo quy định pháp luật.

Về việc gia đình ông H và gia đình ông D2 thay đổi hiện trạng tài sản sử dụng, căn cứ vào biên bản xác minh, bản đồ các thời kỳ và hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hai gia đình thể hiện, hai gia đình kê khai, làm hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp, về pháp lý hai thửa đất độc lập, không có sự trùng lặp, so với thực tế thay đổi là do hai gia đình tự thỏa thuận, nên có đủ căn cứ xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.

Về việc anh H2 thế chấp tài sản vay tiền Quỹ tín dụng Lương T4, Quỹ tín dụng xã L xác định không có liên quan, không cung cấp hồ sơ thế chấp, hai thửa đất không có sự trùng lặp như trên, Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án.

Việc ông X trình bày vay mượn cá nhân ông H với số tiền 230.000.000 đồng (Hai trăm ba mươi triệu đồng), đây là quan hệ cá nhân các bên liên quan, Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

[3] Về án phí, chi phí tố tụng: Căn cứ vào Điều 147, Điều 157, Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án lệ phí của Tòa án, sẽ buộc đương sự phải chịu án phí án phí theo quy định của pháp luật, về chi phí tố tụng gồm xem xét thẩm định tại chỗ hết 6.358.000 đồng (Sáu triệu ba trăm năm mươi tám nghìn đồng), tiền ảnh 110.000 đồng, định giá tài sản hết 1.100.000 đồng. Tổng là 7.568.000 đồng (Bẩy triệu năm trăm sáu mươi tám nghìn đồng), Ngân hàng đã nộp tạm ứng số tiền 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng), nên buộc bị đơn phải thanh toán trả Ngân hàng theo quy định của pháp luật. Số tiền tạm ứng chi phí tố tụng còn thừa sẽ trả lại Ngân hàng là 432.000 đồng (Bốn trăm ba mươi hai nghìn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng: Khoản 1 Điều 30, Điểm b Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 295, Điều 299, Điều 317, Điều 318 của Bộ luật Dân sự.

2. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q.

Buộc anh Nguyễn Văn T1 và chị Khúc Thị D1 phải trả Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số nợ gốc là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng), số nợ lãi tính đến ngày 10/4/2024 gồm lãi trong hạn là 11.471.165 đồng (Mười một triệu bốn trăm bẩy mươi mốt nghìn, một trăm sáu mươi lăm đồng), lãi quá hạn là 980.750.000 đồng (Chín trăm tám mươi triệu, bẩy trăm năm mươi nghìn đồng). Tổng cả gốc và lãi là 1.392.471.165 đồng (Một tỷ, ba trăm chín mươi hai triệu, bốn trăm bẩy mươi mốt nghìn, một trăm sáu mươi lăm đồng).

Kể từ ngày 11/4/2024 khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án dân sự phát mại tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật, để thu hồi toàn bộ nợ. Các tài sản thế chấp gồm: Quyền sử dụng đất diện tích 365 m2, trong đó đất ở 300 m2, đất trồng cây lâu năm 65 m2, thời hạn sử dụng lâu dài và toàn bộ tài sản gắn liền với đất, tại thửa đất 113, tờ bản đồ 14, địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền số T 986798 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 04/12/2001 cho hộ ông Nguyễn Văn D2.

Đối với tài sản của vợ chồng ông Nguyễn Văn H bà Bùi Thị H1 và anh Nguyễn Văn H2 gắn liền trên đất gồm, 01 ngôi nhà hai tầng diện tích 55 m2/tầng, giá trị hiện còn là 232.953.600 đồng (Hai trăm ba mươi hai triệu, chín trăm năm mươi ba nghìn, sáu trăm đồng). Một số cây cối trên đất giá trị là 2.535.000 đồng (Hai triệu năm trăm ba mươi lăm nghìn đồng). Khi xử lý tài sản thế chấp nếu vợ chồng ông Nguyễn Văn H bà Bùi Thị H1 và anh Nguyễn Văn H2 có nhu cầu nhận chuyển nhượng tài sản thế chấp, thì được ưu tiên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và mua các tài sản gắn liền với đất, nếu không có nhu cầu nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì giá trị tài sản là ngôi nhà và cây cối sẽ trả cho ông Nguyễn Văn H bà Bùi Thị H1 và anh Nguyễn Văn H2, theo quy định của pháp luật.

Nếu số tiền thu được từ việc xử lý các tài sản thế chấp không đủ trả nợ thì anh Nguyễn Văn T1 chị Khúc Thị D1 phải tiếp tục trả nợ cho đến khi tất toán.

3. Về án phí: Buộc anh Nguyễn Văn T1 và chị Khúc Thị D1 phải chịu 53.774.000 đồng (Năm mươi ba triệu, bẩy trăm bẩy mươi tư nghìn đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Trả lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q 18.090.000 đồng (Mười tám triệu, không trăm chín mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 67, ngày 09/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

Về chi phí tố tụng: Buộc anh Nguyễn Văn T1 và chị Khúc Thị D1 phải trả Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền 7.568.000 đồng (Bẩy triệu năm trăm sáu mươi tám nghìn đồng) tiền chi phí tố tụng. Trả lại Ngân hàng Q tiền tạm ứng chi phí tố tụng còn thừa là 432.000 đồng (Bốn trăm ba mươi hai nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, lên Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên, để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

-VKSND huyện Văn Lâm;

-Cơ quan THADS huyện Văn Lâm;

-Các đương sự;

-Lưu hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG

XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ

TOẠ PHIÊN TOÀ

Đỗ Văn Mười

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/KDTM - ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 25/2024/KDTM - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng MB - Tuấn Dung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger