Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẢO LỘC

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 25/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20/6/2024

V/v: Ly hôn giữa bà A và ông T

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Qui

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hạnh
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Huế

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thuận – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 55/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 02 năm 2024, về "Ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2024.

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy A, sinh năm 1993.
  2. Địa chỉ: Số nhà A đường B, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. (có mặt).

  3. Bị đơn: Ông Mai Xuân T, sinh năm 1994.
  4. Địa chỉ: Số nhà B đường H, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

+ Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/02/2024 và các lời khai trong qúa trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy A trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Mai Xuân T đăng ký kết hôn ngày 06/6/2022 tại UBND phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, hôn nhân tự nguyện, không bị ai ép buộc. Từ khi kết hôn ông bà chung sống đến tháng 10/2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không tôn trọng nhau, chồng không còn chung thủy, không có trách nhiệm với nhau, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Sau khi bà sinh con thì mạnh ai nấy sống, bà về nhà mẹ đẻ sinh sống từ tháng 10/2023 đến nay, ông T cũng không thăm hỏi, con bị bệnh một mình bà đưa đi bệnh viện, ông T không quan tâm đến bà và con. Nay tình cảm của bà dành cho ông T không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Mai Nguyễn Phúc A1, sinh ngày 21/9/2023, hiện con đang sống cùng bà, khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi con, yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/tháng. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 7 năm 2024 đến khi con chung thành niên.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung, nợ riêng: Không có.

+ Trong qúa trình giải quyết vụ án bị đơn ông Mai Xuân T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà A tự nguyện tìm hiểu và kết hôn như bà A trình bày là đúng. Trước khi kết hôn có thời gian tìm hiểu 01 năm. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian đến tháng 11/2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ hiểu lầm ông nhắn tin với người khác giới, gia đình bên vợ lại xem thường ông nên giữa hai vợ chồng thường xuyên xích mích, cãi vả, khi nóng giận ông có xúc phạm vợ và gia đình vợ. Từ tháng 10/2023 vợ chồng ông sống ly thân, vợ ông ở nhà bố mẹ đẻ ở Phường A, thành phố B, còn ông sinh sống ở nhà bố mẹ ông tại phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Ông cũng đã nhiều lần nhắn tin xin lỗi, gọi điện thoại cho vợ nhưng vợ không trả lời. Từ khi vợ chuyển về nhà mẹ đẻ thì giữa hai vợ chồng không có tiếng nói chung, không trao đổi, nói chuyện được với nhau. Nay bà A yêu cầu ly hôn thì ông không đồng ý ly hôn, bởi vì ông mong muốn được hàn gắn hôn nhân và còn tình cảm với vợ.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Mai Nguyễn Phúc A1, sinh ngày 21/9/2023. Hiện nay bé đang sống cùng mẹ. Trong trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn thì tôi đề nghị nuôi con, không yêu cầu bà A cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung, nợ riêng: Không có.

Tòa án đã tiến hành phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong qúa trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghỉ nghị án. Về nội dung vụ án: yêu cầu của bà A được ly hôn với ông T là có cơ sở chấp nhận; về con chung: Giao 01 con chung tên Mai Nguyễn Phúc A1, sinh ngày 21/9/2023 cho bà A trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi thành niên, ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/tháng để bà Anh nuôi con chung cho đến khi thành niên.

Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung, nợ riêng đương sự khai không có nên không đề cập đến.

Về án phí: Bà A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn) là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), ông Mai Xuân T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa căn cứ vào ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:Nguyễn Thị Thúy A khởi kiện yêu cầu Tòa án cho ly hôn với ông Mai Xuân T, hiện cư trú số nhà B đường H, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Do vậy, xác định đây là tranh chấp ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Mai Xuân T có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2]. Về quan hệ hôn nhân:Nguyễn Thị Thúy A và ông Mai Xuân T đăng ký kết hôn ngày 06/6/2022 tại UBND phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, hôn nhân tự nguyện, không bị ai ép buộc. Trong quá trình chung sống bà A và ông T xảy ra nhiều mâu thuẫn. Theo bà A trình bày, sau khi kết hôn vợ chồng sống không hạnh phúc, khi bà sinh cháu A1 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, ông bà thường xuyên tranh cãi. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do ông T không chung thủy, không quan tâm chăm sóc gia đình. Bà và ông T không thể hàn gắn để về chung sống với nhau, mạnh ai nấy sống không ai quan tâm đến ai. Ông T khai rằng vợ chồng có mâu thuẫn, thường xuyên cải vã, vợ chồng không có tiếng nói chung, ông đã nhắn tin, gọi điện xin lỗi nhưng bà A không trả lời.

Qua xác minh tại địa phương bà A, ông T trong quá trình chung sống có xảy ra mâu thuẫn, hiện bà A và ông T không chung sống cùng nhau.

Ông T không đồng ý ly hôn nhưng trong thời gian bà A và con ở bên nhà ngoại thì ông T không có tác động hàn gắn. Quá trình Tòa án triệu tập làm việc, thông báo hòa giải ông T không đến Tòa án để làm việc, hòa giải hàn gắn quan hệ vợ chồng, tại phiên tòa ông T vắng mặt, bà A vẫn cương quyết xin giải quyết ly hôn. Xét thấy tình trạng hôn nhân của bà A và ông T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không có, mục đích của hôn nhân không đạt được. Bà A đề nghị được ly hôn, ông T không đồng ý ly hôn nhưng quá trình Tòa án tiến hành tiến hành phiên họp tiếp cận và công khai chứng cứ, ông T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt thể hiện ông T không có thiện chí hòa giải để hàn gắn nên áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà A là có căn cứ và hợp pháp.

[3]. Về con chung:A và ông T có 01 con chung tên Mai Nguyễn Phúc A1, sinh ngày 21/9/2023, bà A và ông T đều yêu cầu được nuôi con, xét cháu A1 mới được 09 tháng tuổi, theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên giao cháu A1 cho bà A trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

A yêu cầu ông T cấp dưỡng để bà Anh nuôi con chung 2.000.000đ/tháng cho đến khi thành niên, xét con chung do bà A trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình năm 2017, nên cần buộc ông T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đ/tháng, thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 7 năm 2024 cho đến khi con chung thành niên.

[4]. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.

[5]. Về nợ chung, nợ riêng: Đương sự khai không có. Trong quá trình giải quyết không ai có tranh chấp gì nên không xem xét.

[6]. Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.

[7]. Về án phí:A và ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Áp dụng Điều 51, 56 và Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án.
  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Thúy A và ông Mai Xuân T.
  2. Về con chung: Giao cháu Mai Nguyễn Phúc A1, sinh ngày 21/9/2023 cho bà A trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi thành niên.
  3. Ông Mai Xuân T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 7/2024 cho đến khi con chung thành niên.

    Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn và thay đổi nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự.

  4. Về án phí:Nguyễn Thị Thúy A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn) là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006138 ngày 29/2/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc.
  5. Ông Mai Xuân T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (cấp dưỡng) là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng)

  6. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • + TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • + VKSND TP. Bảo Lộc;
  • + T.H.A Bảo Lộc;
  • + Các đương sự;
  • + UBND xã Lộc Châu;
  • + Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký và đóng dấu)

Trần Thị Qui

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/HNGĐ-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC về ly hôn

  • Số bản án: 25/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị Thúy A ly hôn với ông Mai Xuân T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger