Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/DS-PT

Ngày 14 tháng 5 năm 2024

“V/v: Tranh chấp về yêu cầu di dời cây cối, tài sản trên đất để trả lại mặt bằng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Điêu Thị Bích Lượt.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Khắc Chiên

Bà Lê Thị Thu Huyền

- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Tôn Thị Thanh Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 12/2024/TLPT-DS ngày 01tháng 2 năm 2024 về “Tranh chấp về yêu cầu di dời cây cối, tài sản trên đất để trả lại mặt bằng”. Do bản án dân sự huyện T, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 16/2024/QĐ-PT ngày 13/3/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hà Thị Minh N - sinh năm 1976

Nơi cư trú: Khu P, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Hà Văn V- sinh năm 1957

Nơi cư trú: Khu T, phường T, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Anh Phan Thanh L- sinh năm 1979, chị Lê Thị S- sinh năm 1980

Nơi cư trú: Khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh L, chị S: Luật sư Hoàng Văn H

- Công ty L2 - Đoàn luật sư thành phố Hà Nội

Địa chỉ: Số C, ngõ A, phố Đ, V, quận H, thành phố Hà nội.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Phan Văn Q, sinh năm 1944
  2. Bà Hán Thị T, sinh năm 1953

Đều TT: Khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ

  1. Chị Phan Thị Ngọc C, sinh năm 2000

TT: Xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ

(Ông V, anh L, chị S, ông H, ông Q, bà T có mặt, những người tham gia tố tụng khác vắng mặt)

Người kháng cáo: Anh Phan Thanh L và chị Lê Thị S - Là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, nguyên đơn là chị Hà Thị Minh N trình bày: Năm 2009, thực hiện kế hoạch giao đất giãn dân, chị được UBND huyện T cấp 300m² đất ở theo giấy CNQSD đất số BT 431669, tại thời điểm đó chồng chị là anh Phan Thanh G đã chết, nên chị phải đi làm ăn xa, chị nhờ mẹ chồng là bà Hán Thị T giữ hộ giấy CNQSD đất. Trong thời gian chị vắng nhà, anh Phan Thanh L là con trai của bà T và vợ anh L là chị Lê Thị S đã nhờ ông Nguyễn Như H1 cán bộ địa chính xã Đ làm hồ sơ chuyển nhượng trái phép toàn bộ diện tích 300m² đất ở của chị sang cho anh L, chị S. Sự việc bị phát hiện, ông H1 bị xử lý hình sự, cơ quan có thẩm quyền là UBND huyện T đã thu hồi giấy CNQSD đất đứng tên anh Phan Thanh L, chị Lê Thị S và cấp trả cho chị 300m2 đất với số giấy CNQSD đất là DC 883518, ngày cấp 16/8/2021. Như vậy chị đã được toàn quyền sử dụng thửa đất của chị trước đây đã bị anh L chuyển nhượng trái phép. Trên thửa đất có 01 bức tường nhà cũ đã đổ nát và một số cây do bố mẹ anh L và anh L trồng từ trước, chị xác định đó là tài sản của gia đình anh L. Chị đã nhiều lần yêu cầu anh L và chị S phải di chuyển cây cối để trả lại mặt bằng cho chị, nhưng vợ chồng anh L không di chuyển, cũng không cho chị di chuyển. Chị yêu cầu Toà án giải quyết buộc vợ chồng anh L phải di dời vật kiến trúc và cây cối trên đất, trả lại mặt bằng cho chị.

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là ông Hà Văn V trình bày: Bà Hà Thị Minh N được UBND huyện T cấp giấy CNQSD đất năm 2021 theo thủ tục, trình tự hợp pháp. Phía chị S, anh L cho rằng họ có giấy CNQSD đất, nhưng căn cứ các tài liệu mà nguyên đơn đã cung cấp, thì giấy CNQSD đất mà anh Phan Thanh L, chị Lê Thị S được cấp năm 2016 cùng trên thửa đất cấp cho bà N và giấy chứng nhận của vợ chồng anh L đã bị thu hồi, hủy bỏ. Vì vậy anh L, chị S có trách nhiệm di dời cây cối, tài sản trên đất để trả lại mặt bằng cho bà N.

Bị đơn là anh Phan Thanh L, chị Lê Thị S trình bày: Vợ chồng anh chị không đồng ý với yêu cầu của chị N về việc yêu cầu anh chị phải di dời cây cối, tài sản trên đất, để trả lại mặt bằng cho chị N. Lý do như sau: Thửa đất số 927, tờ bản đồ số 13 tại khu Đ, xã Đ đã được UBND huyện T cấp giấy CNQSD đất số CB 825633 cho vợ chồng anh chị ngày 10/3/2016. Trước khi được cấp giấy chứng nhận, gia đình anh chị đã nộp nghĩa vụ tài chính đầy đủ. Khi UBND huyện T có quyết định thu hồi giấy CNQSD đất nói trên, anh chị không nhất trí nên đã làm đơn khiếu nại, đến phòng tiếp dân của UBND huyện T để nộp, được nhận đơn nhưng sau hai ngày thì trả lại. Cán bộ tiếp dân có nói vợ chồng anh chị cứ sử dụng đất, làm nhà bình thường, nhưng không được thế chấp, chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Anh chị không biết tên của cán bộ tiếp dân này.

Nguồn gốc thửa đất số 927 trước đây là của UBND xã Đ, bố mẹ anh L là ông Phan Văn Q và bà Hán Thị T nhận thầu từ khoảng năm 1995. Do các con đều chưa có

đất ở, nên khoảng năm 2005, bố mẹ anh L làm đơn xin cấp thửa đất này cho 03 người con trai là Phan Thanh G, Phan Văn K, Phan Thanh L. Năm 2005 anh G bị bệnh chết. Năm 2009 nhà nước có chủ trương cấp đất giãn dân, thì thửa đất này được duyệt cấp cho gia đình anh chị. Gia đình đề nghị cấp cho vợ chồng anh chị và chị N, nhưng vì vợ chồng anh chị chưa tách khẩu, nên nhà nước chỉ xét cấp giấy CNQSD đất cho chị N. Nghĩa vụ tài chính do bà Hán Thị T nộp, không phải tiền của chị N. Từ khi bố mẹ anh L nhận thầu thửa đất trên, ông bà có trồng một số cây cối trên đất, hàng năm trồng cây ngắn ngày như lạc, đỗ, sắn và làm 01 nhà xây 2 gian lợp ngói để trông hoa màu. Hiện nay trên đất có khoảng 6 - 7 cây keo khoảng 30 năm tuổi, vài cây mít...còn ngôi nhà đã cũ hỏng, gia đình đã dỡ bỏ mái ngói, chỉ còn các bức tường xây.

Sau khi anh G chết, chị N đi làm thuê (lúc gửi con cho ông bà nội, lúc gửi cho ông bà ngoại). Năm 2012 chị N xin phép gia đình chồng để đi kết hôn với người khác. Chị N đã làm bản cam kết không đòi hỏi gì đối với nhà chồng. Cũng năm đó bố mẹ anh L đề nghị xã và địa chính xã chuyển giấy CNQSD đất đứng tên chị N sang tên vợ chồng anh chị. Vợ chồng anh chị được cấp giấy CNQSD đất ngày 10/3/2016 và được nhận giấy chứng nhận, quản lý giấy từ đó đến nay. Các thủ tục để anh chị được cấp giấy CNQSD là do xã và địa chính xã, làm như thế nào anh chị không biết; anh chị không được ký hồ sơ giấy tờ gì. Sau đó ông Nguyễn Như H1 cán bộ địa chính xã Đ bị chị N tố cáo về hành vi giả mạo chữ ký của chị N để làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ông H1 bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt 03 năm tù cho hưởng án treo và phải bồi thường cho chị N 180 triệu đồng. Anh chị có quan điểm như sau: Ông H1 vi phạm pháp luật, phải chịu hình phạt; chị N đã được ông H1 bồi thường trị giá thửa đất. Bản án của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ cũng không tuyên thu hồi đất, tài sản trên đất của vợ chồng anh chị. Sau khi UBND huyện T có quyết định thu hồi giấy CNQSD đất của vợ chồng anh chị, anh chị đã nộp đơn khiếu nại thì cán bộ ủy ban nhân dân huyện T (anh chị không biết tên) nhận đơn, sau đó 02 ngày thì trả lại đơn (anh chị không có giấy tờ gì về việc nhận đơn, trả đơn) đồng thời trả lời là vợ chồng anh chị cứ sử dụng đất (như ở trên đã trình bày). Vì vậy, vợ chồng anh chị vẫn có quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 927, nên không đồng ý yêu cầu khởi kiện của chị N.

Tại Biên bản hoà giải ngày 05/9/2023, anh L và chị S đưa ra phương án giải quyết tình cảm: Thửa đất số 927 có diện tích 300m² sẽ chia đôi, vợ chồng anh chị sử dụng ½, chị N sử dụng ½. Cây cối trên đất là tài sản của anh chị (có một số cây do ông Q, bà T trồng đã cho vợ chồng anh chị, vợ chồng anh chị được toàn quyền quyết định). Nếu theo phương án đó, cây cối trên phần đất chia cho chị N, chị N phải thanh toán trị giá bằng tiền cho vợ chồng anh chị. Số tiền gia đình anh chị đã bỏ ra để nộp lệ phí thay chị N khi cấp giấy CNQSD đất năm 2009 là 14.113.700đ, chị N cũng phải bồi thường lại ½, tính tròn là 7.000.000đ và tính thêm lãi suất 1%/tháng kể khi nộp tiền đến nay. Do chị N không chấp nhận phương án mà anh chị đưa ra như trên, nên anh chị không đề nghị giải quyết theo phương án đó nữa. Tại phiên toà, anh L và chị

S khẳng định toàn bộ quyền sử dụng thửa đất số 927 là của mình, vì vậy không đề nghị Toà án giải quyết đối với số tiền trên.

Nguyên đơn xuất trình các tài liệu là các văn bản mà UBND huyện T đã ban hành trong quá trình kiểm tra, xác minh, giải quyết việc cấp giấy CNQSD đất cho ông Phan Thanh L, bà Lê Thị S ngày 10/3/2016 đối với thửa đất số: 927 như sau:

Tại báo cáo số 26/BC - TT ngày 18/12/2018 của Thanh tra huyện T về kết quả kiểm tra, xác minh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phan Thanh L, bà Lê Thị S đã kết luận: Diện tích 300m² đất ở tại thửa 927 tờ bản đồ số 13, khu 01 xã Đ, huyện T được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 431669, ngày 10/12/2013 thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà Hà Thị Minh N. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 825633, số vào sổ cấp GCN: CH 000778 ngày 10/3/2016 của UBND huyện T cấp cho ông Phan Thanh L và bà Lê Thị S được cấp trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không có giá trị pháp lý. Vì vậy cần thu hồi theo quy định của pháp luật.

Tại Thông báo Kết luận số 108/TB-UBND ngày 25/12/2018 của Chủ tịch UBND huyện T đã đồng ý với nội dung Báo cáo số 26/BC - TT ngày 18/12/2018 của Thanh tra huyện T. Căn cứ Thông báo Kết luận số 108, ngày 12/10/2020 UBND huyện T đã ra Thông báo số 86/TB- UBND thông báo về việc thu hồi giấy CNQSD đất đã cấp cho ông Phan Thanh L, bà Lê Thị S; lý do thu hồi: Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Hà Thị Minh N với ông Phan Thanh L, bà Lê Thị S theo Hợp đồng số 59, Q01, ngày 16/9/2015 là không có giá trị pháp lý. Ngày 01/3/2021 tại nhà ông L, bà S, đại diện UBND xã Đ đã giao Thông báo trên cho bà S; bà S đã đọc nội dung thông báo nhưng nhưng không nhận và không ký vào biên bản bàn giao.

Ngày 12/5/2021, UBND huyện T đã ra quyết định số 604/QĐ- UBND ngày 12/5/2021 về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cấp không đúng quy định tại khu Đỗ Sơn 2 (khu 2 cũ), xã Đ, có số seri CB 825633, số vào sổ CH 000778, ngày cấp 10/3/2016 đã cấp cho ông Phan Thanh L sinh năm 1979 và bà Lê Thị S sinh năm 1980 hộ khẩu thường trú: Khu Đ, xã Đ, huyện T. Lý do thu hồi: Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Hà Thị Minh N với ông Phan Thanh L, bà Lê Thị S theo hợp đồng 59, Q01 ngày 16/9/2015 là không có giá trị pháp lý. Đến ngày 16/8/2021, UBND huyện T đã ra quyết định 1365/QĐ- UBND Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị Hà Thị Minh N đối với thửa đất số 927, tờ bản đồ số 13 diện tích 300,0m² (đất ONT), địa chỉ: Khu Đ, xã Đ, huyện T.

Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản xác định: Thửa đất số 927 tờ bản đồ số 13 địa chỉ tại khu Đ, xã Đ, huyện T có diện tích là 300m2. Trên đất hiện có 01 lán xây gạch đã hư hỏng, không còn giá trị; 04 cột bê tông buộc các cây bạch đàn làm hàng rào; một số cây cối như keo, xoan, xoài... có tổng trị giá là 8.981.000 đồng. Các đương sự đều không có ý kiến thắc mắc gì về nội dung thẩm định, định giá và đều thừa nhận cây cối, gian nhà xây đã cũ hỏng trên đất là do gia

đình ông Phan Văn Q, bà Hán Thị Tư t và xây dựng; ông Q, bà T đã cho anh Phan Thanh L, chị Lê Thị S toàn quyền định đoạt. Còn 04 cột bê tông buộc các cây bạch đàn làm hàng rào là do anh L, chị S làm.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 17/2023/DS-ST ngày 14/12/2023, Tòa án nhân dân (TAND) huyện T đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147; các điều: 157, 158, 165, 166 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các điều: 115,158,163, 164, 189 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ vào Điều 166 Luật đất đai;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

  1. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị Minh N.

Buộc vợ chồng anh Phan Thanh L, chị Lê Thị S phải tháo dỡ, di dời, thu hoạch toàn bộ vật kiến trúc, cây cối gồm: 01 lán xây gạch chỉ diện tích khoảng 30m² đã cũ hỏng, không còn phần mái; 02 cây nhãn; 02 cây xoài; 02 cây mít; 03 cây doi; 05 cây xoan; 05 cây keo; 05 cây lấy gỗ các loại; 04 cột bê tông bên trên có buộc một số cây bạch đàn làm hàng rào tại thửa đất số 927, tờ bản đồ số 13 thuộc khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ để trả lại mặt bằng cho chị Hà Thị Minh N.

(Cây cối, vật kiến trúc có đặc điểm cụ thể tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ, Biên bản định giá tài sản và Bảng kê kèm theo ngày 21/9/2023).

Ngoài ra bản án còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng quyền yêu cầu thi hành án và các quyền khác theo quy định của pháp luật.

Ngày 26/2/2023 và ngày 04/01/204, anh Phan Thanh L và chị Lê Thị S kháng cáo không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm ông Phan Văn Q, bà Hán Thị T trình bày: Thửa đất tranh chấp trên có nguồn gốc: Khoảng năm 2005 khi anh G con ông bà vẫn còn sống, ông Q có đơn đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét cấp đất cho 03 người con của ông Q trong đó có anh G. Nhưng, sau đó chỉ có vợ chồng anh G được xét cấp đất (lúc cấp đất anh G đã chết). Hiện nay ông bà không có chỗ ở nên ông bà đề nghị tòa án xem xét yêu cầu chị N cắt cho ông bà phần diện tích đất phần di sản của anh G để ông bà có chỗ ở, ông bà đề nghị cắt phần đất nằm phía bên phải thửa đất theo hướng nhìn từ mặt đường vào. Ông, bà đồng ý tháo dỡ các công trình, vật kiến trúc, thu hoạch các cây cối có trên phần diện tích thuộc quyền sử dụng của chị N để trả lại mặt bằng thửa đất cho chị N.

Tại phiên tòa phúc thẩm anh L, chị S và luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh L, chị S trình bày: Nhất trí với ý kiến của của cụ Q, cụ T. Hiện nay, cụ Q, cụ T không có chỗ ở nên đề nghị tòa án xem xét yêu cầu chị N cắt cho 02 cụ diện tích đất phần di sản của anh G để các cụ có chỗ ở. Anh, chị có trách nhiệm tháo dỡ các công trình, vật kiến trúc, thu hoạch các cây cối có trên phần diện tích thuộc quyền sử dụng của chị N để trả lại mặt bằng thửa đất cho chị N.

Tại cấp phúc thẩm chị N có đơn gửi tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ trình bày: Chị xác định thửa đất tranh chấp là tài sản chung của chị và anh G. Nay anh G đã

chết chị cũng nhất trí cắt cho cụ T và cụ Quảng phần diện tích đất thuộc di sản các cụ hưởng thừa kế của anh G theo quy định của pháp luật. Chị ủy quyền cho ông Hà Văn V tham gia tố tụng thay chị và ông V có toàn quyền quyết định.

Tại phiên tòa ông Hà Văn V đại diện theo ủy quyền của chị N trình bày: Chị N xác định thửa đất tranh chấp là tài sản chung của chị N và anh G. Nay anh G đã chết, di sản thừa kế của anh G để lại là ½ thửa đất số 927 tờ bản đồ số 13. Di sản thừa kế của anh G để lại cho 5 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm chị, 02 con chung của chị với anh G, ông Q, bà T. Do vậy, ông Q, bà T được hưởng 1/5 thửa đất trên tương đương 60m². Nhưng chị N tự nguyện cắt cho cụ T và cụ Quảng phần diện tích 80m², có chiều rộng mặt đường 4m, chiều dài 20m chị N đồng ý cắt cho ông Q, bà T phần đất nằm phía bên phải thửa đất theo hướng nhìn từ mặt đường vào. Chị N đề nghị cụ Q, cụ T, anh L, chị S có trách nhiệm tháo dỡ các công trình, vật kiến trúc, thu hoạch các cây cối có trên phần diện tích thuộc quyền sử dụng của chị N để trả lại mặt bằng thửa đất cho chị N.

Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm chị Phan Thị Ngọc C có bản tự khai trình bày: Chị là con đẻ của bà N và ông G. Thửa đất tranh chấp trên chị xác định là đất thuộc quyền sử dụng chung của bố mẹ chị. Nay bố chị đã chết chị cũng đồng ý với ý kiến của bà N cắt cho cụ T và cụ Quảng phần diện tích 80m². Đối với phần di sản thừa kế chị được hưởng của bố chị chị tự nguyện cho mẹ chị bà Hà Thị Minh N toàn quyền sử dụng.

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện theo ủy quyền của chị Hà Thị Minh N là nguyên đơn, anh Phan Thanh L, chị Lê Thị S là bị đơn, ông Phan Văn Q, bà Hán Thị T là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh L, chị S, ý kiến của của cháu Phan Thị Ngọc C trong bản tự khai và trong đơn xin xét xử vắng mặt và đơn đề nghị của chị Hà Thị Minh N thống nhất thỏa thuận các nội dung sau:

  1. Xác định thửa đất số 927, tờ bản đồ số 13 địa chỉ tại: Khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ là tài sản chung của chị Hà Thị Minh N và anh Phan Thanh G.
  2. Chị Hà Thị Minh N cắt cho cụ Phan Văn Q, cụ Lê Thị T1 một phần diện tích 80 m², có chiều rộng 4m, chiều dài 20m của thửa đất số 927, tờ bản đồ số 13 tại: Khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ, phần đất nằm phía bên phải thửa đất theo hướng nhìn từ mặt đường vào là di sản thừa kế cụ Q, cụ T1 được hưởng do anh Phan Thanh G là con trai của 02 cụ và là chồng chị N để lại (có sơ đồ kèm theo).
  3. Chị Hà Thị Minh N được quyền sử dụng một phần diện tích 220 m² phía bên trái thửa đất theo hướng nhìn từ mặt đường vào của thửa đất số 927, tờ bản đồ số 13 tại: Khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có sơ đồ kèm theo).
  4. Ông Phan Văn Q, bà Hán Thị T, anh Phan Thanh L, chị Lê Thị S có trách nhiệm tháo dỡ các công trình, vật kiến trúc, thu hoạch các cây cối có trên phần diện tích 220m² của thửa đất số 927, tờ bản đồ số 13 tại: Khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ để trả lại mặt bằng diện tích đất cho chị Hà Thị Minh N (có sơ đồ kèm theo).
  1. Các đương sự có quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau khi thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ thuế, lệ phí (nếu có) đối với nhà nước

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chấp nhận kháng cáo của Anh L1, chị S, sửa bản án sơ thẩm số: 17/2023/DS-ST ngày 14/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba theo hướng công nhận nội dung thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa.

(Chi tiết tại bài phát biểu của Kiểm sát viên lưu hồ sơ vụ án)

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Kháng cáo của anh Phan Thanh L, chị Lê Thị S là bị đơn trong hạn luật định, đơn hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Nội dung kháng cáo trong phạm vi xét xử bản án sơ thẩm. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét đơn kháng cáo theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung kháng cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự đã thống nhất được toàn bộ nội dung vụ án như nội dung đã thỏa thuận trên. Xét thấy, thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không bị ép buộc, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[3] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của anh L, chị S được chấp nhận nên anh L, chị S không phải chịu án phí phúc thẩm.

Xét thấy, đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1] Chấp nhận kháng cáo của anh Phan Thanh L, chị Lê Thị S. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 17/2023/DS-ST ngày 14/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ theo hướng công nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm như sau:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147; các điều: 157, 158, 165, 166 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các điều: 115,158,163, 164, 189 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ vào Điều 166 Luật đất đai;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

[2].Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện theo ủy quyền của chị Hà Thị Minh N là nguyên đơn; anh Phan Thanh L, chị Lê Thị S là bị đơn; ông Phan Văn Q, bà Hán Thị T là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh L, chị S, ý kiến của của cháu Phan Thị Ngọc C trong bản tự khai và trong

đơn xin xét xử vắng mặt và đơn đề nghị của chị Hà Thị Minh N thống nhất thỏa thuận các nội dung sau:

  1. Xác định thửa đất số 927, tờ bản đồ số 13 địa chỉ tại: Khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ là tài sản chung của chị Hà Thị Minh N và anh Phan Thanh G.
  2. Chị Hà Thị Minh N cắt cho cụ Phan Văn Q, cụ Lê Thị T1 một phần diện tích 80 m², có chiều rộng 4m, chiều dài 20m của thửa đất số 927, tờ bản đồ số 13 tại: Khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ, phần đất nằm phía bên phải thửa đất theo hướng nhìn từ mặt đường vào là di sản thừa kế cụ Q, cụ T1 được hưởng do anh Phan Thanh G là con trai của 02 cụ và là chồng chị N để lại. (có sơ đồ kèm theo).
  3. Chị Hà Thị Minh N được quyền sử dụng một phần diện tích 220 m² phía bên trái thửa đất theo hướng nhìn từ mặt đường vào của thửa đất số 927, tờ bản đồ số 13 tại: Khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có sơ đồ kèm theo).
  4. Ông Phan Văn Q, bà Hán Thị T, anh Phan Thanh L, chị Lê Thị S có trách nhiệm tháo dỡ toàn bộ công trình, vật kiến trúc, thu hoạch các cây cối có trên phần diện tích 220m² của thửa đất số 927, tờ bản đồ số 13 tại: Khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ để trả lại mặt bằng diện tích đất cho chị Hà Thị Minh N (có sơ đồ kèm theo).
  5. Các đương sự có quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau khi thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ thuế, lệ phí (nếu có) đối với nhà nước

[3]. Về chi phí xem xét thẩm định, định giá: Xác nhận chị Hà Thị Minh N tự nguyện chịu toàn bộ là 5.200.000 đồng (đã nộp và chi phí xong).

[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Phan Thanh L và chị Lê Thị S phải nộp 300.000 đồng. H2 lại cho chị Hà Thị Minh N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai số: AA/2020/0003737, ngày 05 tháng 5 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.

Án phí phúc thẩm: Anh Phan Thanh L và chị Lê Thị S không phải chịu án phí phúc thẩm. H2 lại cho anh L, chị S 300.000đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001855 ngày 15/01/2024 của Chi cục thi hành án huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Chi cục THADS H. Thanh Ba;
  • - TAND H. Thanh Ba;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Điêu Thị Bích Lượt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/DS-PT ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp về yêu cầu di dời cây cối, tài sản trên đất để trả lại mặt bằng

  • Số bản án: 25/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về yêu cầu di dời cây cối, tài sản trên đất để trả lại mặt bằng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Thị Minh N - Phan Thanh L - Tranh chấp về yêu cầu di dời cây cối, tài sản trên đất để trả lại mặt bằng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger