Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 25/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 02/5/2024.

V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU – TP CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Hồng Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: 1./Ông Phan Công Ny

2./Ông Võ Hoàng Vũ

Thư ký phiên toà: Bà Lê Ngọc Lam Điền - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.

Ngày 02 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử công khai vụ án thụ lý số: 44/2024/TLST–HNGĐ ngày 01/02/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 289/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/4/2024, giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quốc N, sinh năm: 1979

Địa chỉ: Số A N, phường A, TP ., tỉnh Kiên Giang.

*Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Khánh L, sinh năm: 1979.

Địa chỉ: Số D, đường số G, KDC T, phường A, quận N, TP .

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn trình bày:

Ông Nguyễn Quốc N và Bà Nguyễn Thị Khánh L, đăng ký kết hôn vào ngày 27/02/2003 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Trong quá trình chung sống giữa vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, đời sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay tình cảm không thể hàn gắn nên ông N xin được ly hôn với bà Khánh L.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống, ông bà có 02 con chung là Nguyễn Hoàng Khánh N1, sinh năm 2004 đã trưởng thành và cháu Nguyễn Hoàng Khánh N2, sinh ngày 09/7/2012. Sau khi ly hôn, bà Nguyễn Thị Khánh L sẽ trực tiếp chăm sóc cháu Nguyễn Hoàng Khánh N2, ông Nguyễn Quốc N cấp dưỡng nuôi con chung là 3.000.000đồng.

- Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn trình bày: Bà Nguyễn Thị Khánh L xác định lời trình bày của ông N như trên là đúng. Bà Nguyễn Thị Khánh L yêu cầu nếu giao bé Khánh N2 cho bà tiếp tục nuôi dưỡng thì ông N phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung là 5.000.000đồng/1 tháng.

Về tài sản chung: yêu cầu ông Nguyễn Quốc N trả lại 51.000.000đồng tiền chiếc xe yamaha tay ga hiệu NVX trong thời kỳ hôn nhân mà ông N sử dụng chạy và có nhờ em gái ruột của bà L là Nguyễn Thị Khánh A đứng tên cavet xe dùm. Hiện chiếc xe anh Nguyễn Quốc N vẫn đang giữ chạy. Bà Nguyễn Thị Khánh L xác nhận vợ chồng không có nợ chung với ai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn - ông Nguyễn Quốc N và bị đơn - bà Nguyễn Thị Khánh L kết hôn có đăng ký vào ngày 27/02/2003 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang theo quy định pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do bị đơn có hộ khẩu thường trú tại quận N, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về Nội dung vụ kiện:

- Về hôn nhân: Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn về ý kiến trình bày, cho thấy cuộc sống hôn nhân của ông N bà L có sự bất đồng về quan điểm sống, đời sống hôn nhân không hòa hợp, dẫn đến mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng gay gắt. Ông Nguyễn Quốc N và bà Nguyễn Thị Khánh L đã ly thân từ nhiều năm, ông N không muốn tiếp tục chung sống hôn nhân với bà Nguyễn Thị Khánh L do tình cảm đã rạn nứt. Điều này cho thấy, mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân của ông, bà là có thật và đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Quốc N là có căn cứ để chấp nhận. Mặt khác tại phiên tòa bà L đồng thuận ly hôn ông N, yêu cầu ông N cấp dưỡng tiền nuôi con 5.000.000đồng/1tháng nếu như giao cháu N2 cho bà nuôi dưỡng

- Về con chung: Quá trình chung sống với nhau, có 02 con chung là Nguyễn Hoàng Khánh N1, sinh năm 2004 đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không đề cập đến và cháu Nguyễn Hoàng Khánh N2, sinh ngày 09/7/2012. Sau khi ly hôn, ông Nguyễn Quốc N đồng ý để bà Nguyễn Thị Khánh L nuôi dưỡng chăm sóc cháu Nguyễn Hoàng Khánh N2, ông Nguyễn Quốc N đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung là 5.000.000đồng/ 01 tháng theo yêu cầu của bà L tại phiên tòa. Đồng thời xét cháu N2 cũng có nguyện vọng mong muốn ở với mẹ. Nghĩ nên ghi nhận ý kiến đồng thuận của đương sự về nuôi con chung, giao cháu N2 cho bà L nuôi dưỡng.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà L ông N xác định không có nợ ai. Về tài sản chung bà Nguyễn Thị Khánh L rút lại không yêu cầu chia chiếc xe máy yamaha hiệu NVX nữa nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Khi có tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

[3] Về án phí và quyền kháng cáo: Theo quy định của Luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Điều 39; Khoản 4 Điều 147 và Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự ;

Các Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình

Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Quốc N đối với bà Nguyễn Thị Khánh L.

Về con chung: cháu Nguyễn Hoàng Khánh N1, sinh năm 2004 đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét; đối với cháu cháu Nguyễn Hoàng Khánh N2, sinh ngày 09/7/2012 - bà Nguyễn Thị Khánh L sẽ tiếp tục trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hoàng Khánh N2, ông Nguyễn Quốc N cấp dưỡng tiền nuôi con chung là 5.000.000đồng/01 tháng cho đến khi cháu N2 trưởng thành đủ 18 tuổi.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Nguyễn Quốc N theo luật định, không ai có quyền ngăn cản.

Vì lợi ích mọi mặt của cháu N2, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con và thay đổi yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Về nợ chung: Không có; Tài sản chung: không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Nếu sau này có tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ kiện khác.

Về án phí: ông Nguyễn Quốc N phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chuyển tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000410 ngày 06/11/2023 thành án phí.

Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ Tọa Phiên Tòa

Nơi nhận:

-VKSND quận Ninh Kiều;

-Thi hành án quận Ninh Kiều;

-TAND TP Cần Thơ;

- UBND nơi ĐKKH;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

 

VÕ HỒNG THÚY

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2023/HNGĐ-ST ngày 02/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 25/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger