TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 25/2024/DS-ST Ngày 24 tháng 4 năm 2024 V/v "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Thanh Trà
Ông Nguyễn Xuân Tùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lành- Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Hiếu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng, Tòa án xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 322/2023/TLST-DS ngày 09 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 322/2024/QĐXXST-DS ngày 07/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 322/2024/QĐST-DS ngày 25/3/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1978; Địa chỉ: Tổ C, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng; Có mặt tại phiên tòa.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: ông Vũ Cát T, sinh năm 1981; Địa chỉ: phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng; Có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Ông Ngô Văn D, sinh năm 1966; Địa chỉ: A đường L, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Vũ Cát T trình bày:
Ông Nguyễn Ngọc S và ông Ngô Văn D có mối quen biết ngoài xã hội. Bắt đầu từ ngày 27/4/2022 cho đến ngày 30/8/2022, ông Ngô Văn D có mượn của ông Nguyễn Ngọc S nhiều lần với tổng số tiền 390.000.000₫ (Ba trăm chín mươi triệu đồng); cụ thể ngày 27/4/2022 mượn 20.000.000đ, ngày 07/5/2022 mượn 20.000.000đ, ngày 09/5/2022 mượn 10.000.000đ, ngày 12/5/2022 mượn 50.000.000₫, ngày 13/5/2022 mượn 30.000.000đ, ngày 17/5/2022 mượn 20.000.000đ, ngày 18/5/2022 mượn 35.000.000đ, ngày 21/5/2022 mượn 20.000.000đ, ngày 23/5/2022 mượn 10.000.000đ, ngày 25/5/2022 mượn 35.000.000đ, ngày 28/5/2022 mượn 15.000.000đ, ngày 01/6/2022 mượn 20.000.000đ, ngày 02/6/2022 mượn 10.000.000đ, ngày 06/6/2022 mượn 36.000.000đ, ngày 09/6/2022 mượn 15.000.000đ, ngày 14/6/2022 mượn 10.000.000đ, ngày 24/6/2022 mượn 10.000.000đ, ngày 06/7/2022 mượn 5.000.000đ, ngày 12/7/2022 mượn 4.000.000đ, ngày 27/7/2022 mượn 8.000.000đ, ngày 13/8/2022 mượn 4.000.000đ, ngày 30/8/2022 mượn 3.000.000đ. Toàn bộ số tiền cho mượn ông S đều chuyển vào tài khoản số 0041000330287 tại Ngân hàng N mang tên Ngô Văn D do ông D cung cấp cho ông S. Ông D hẹn ông S khi nào trả chỉ cần khi nào cần tiền báo trước vài ngày nhưng đến ngày 14/02/2023, sau một thời gian đòi nợ thì ông D tắt máy không liên lạc được và ông D cũng không trả nợ cho ông S. Nay, ông S khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông D trả lại cho ông S tổng số tiền mượn là 390.000.00 đồng và không yêu cầu tính lãi.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông Ngô Văn D để lấy lời khai và tham gia hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng pháp luật.
Kiểm sát viên đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Ngô Văn D phải trả cho ông Nguyễn Ngọc S số tiền còn nợ 390.000.000₫ (Ba trăm chín mươi triệu đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là ông Ngô Văn D đã được Tòa án thực hiện các thủ tục triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng đến lần thứ hai vẫn không có mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để xét xử vắng mặt đương sự nói trên.
[2] Về nội dung vụ án: Ông Nguyễn Ngọc S đã cung cấp cho Tòa án tin nhắn mượn tiền và toàn bộ sao kê Ngân hàng mà ông Nguyễn Ngọc S đã chuyển khoản đến tài khoản số 0041000330287 tại Ngân hàng N mang tên Ngô Văn D với tổng số tiền 390.000.000₫ (Ba trăm chín mươi triệu đồng). Quá trình mượn tiền ông D chưa trả cho ông S nên tại phiên tòa ông S xác định số tiền ông D nợ ông S là 390.000.000đ theo các bản sao kê Ngân hàng, tin nhắn xác nhận của ông D và ông S không yêu cầu tính lãi.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả số tiền 390.000.000 đồng: Kể từ thời điểm mượn tiền, ông S đã nhiều lần yêu cầu ông D trả nợ nhưng ông D vẫn không trả. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho ông D các văn bản tố tụng nhưng ông D vẫn không có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không tham gia hòa giải tại Tòa án. HĐXX nhận định ông D đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền đối với ông S theo quy định tại Điều 463, 466, 469 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông S cần được chấp nhận.
[4] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn – ông Ngô Văn D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm: 390.000.000 đồng x 5% ~ 19.500.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 63, 147, 179, 227, 228, 235, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ các Điều 463, 466, 469 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc S đối với ông Ngô Văn D.
Buộc ông Ngô Văn D phải trả cho ông Nguyễn Ngọc S số tiền 390.000.000₫ (Ba trăm chín mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
- Án phí và chi phí tố tụng khác:
Án phí Dân sự sơ thẩm: 19.500.000đ (Mười chín triệu năm trăm đồng), ông Ngô Văn D phải chịu.
Hoàn trả cho ông Nguyễn Ngọc S số tiền tạm ứng án phí 9.750.000đ (Chín triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng) theo biên lai thu số 0001389 ngày 25/10/2023 của Chi Cục thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
3. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ngọc Hà |
Bản án số 25/2024/DS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 25/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đòi tài sản
