Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN B

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 19-4-2024

V/v tranh chấp: “ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Bảo Trâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Hằng.
  2. Ông Bùi Mạnh Quyết.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Ngọc Nhẩn – Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thuý – Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 34/2024/TLST – HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị G, sinh năm 1983 (xin vắng)
  2. Địa chỉ: ấp 2, xã A, huyện B, tỉnh Long An.

    Chỗ ở hiện nay: ấp 1, xã C, huyện B, tỉnh Long An

  3. Bị đơn: ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1983. (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: ấp 2, xã A, huyện B, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Lê Thị G trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: bà và ông T tự nguyện tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân và được Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 13/5/2003. Sau khi kết hôn, có sống chung tại nhà cha mẹ chồng A, huyện B. Thời gian đầu hạnh phúc về sau phát sinh mâu thuẫn do ông T ăn chơi không lo cho gia đình, gây nợ nhiều lần. Khoảng năm 2020, bà phát hiện ông T quen người phụ nữ khác nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, mâu thuẫn trầm trọng. Từ tháng 10/2023, bà về nhà mẹ ruột, vợ chồng không còn chung sống với nhau cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu ly hôn với ông T.

Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Thị Cẩm Gi sinh ngày 10/5/2003, đã trưởng thành và Nguyễn Tấn Đ sinh ngày 04/8/2006. Bà đồng ý cho ông T tiếp tục nuôi con chung chưa thành niên, bà không cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Văn T vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng nên không có bản tự khai. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án có tiến hành thủ tục tống đạt niêm yết thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông T biết Tòa án có thụ lý vụ án ly hôn theo đơn khởi kiện của bà G nhưng ông T không có ý kiến bằng văn bản gửi đến Tòa án về việc bà G xin ly hôn.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An phát biểu quan điểm: Từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật theo quy định pháp luật. Riêng ông T chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của ông theo thủ tục tố tụng, tuy nhiên việc xét xử vắng mặt ông T không ảnh hưởng đến kết quả xét xử. Về việc giải quyết vụ án: Về hôn nhân, ông T không đến Tòa án để giải quyết vụ án cũng không có ý kiến. Bà G và ông T đã không còn chung sống. Xét mâu thuẫn trầm trọng, nên bà G yêu cầu ly hôn là có cơ sở. Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Thị Cẩm Gi sinh ngày 10/5/2003, đã trưởng thành và Nguyễn Tấn Đ sinh ngày 04/8/2006. Bà đồng ý cho ông T tiếp tục nuôi con chung chưa thành niên, bà không cấp dưỡng, cháu Đ cũng có nguyện vọng sống chung với cha nên giao con chung chưa thành niên cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng là có cơ sở, ông T không tham gia vụ án không có ý kiến về cấp dưỡng nên không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung, bà G không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

  1. Bà Lê Thị G và ông Nguyễn Văn T kết hôn với nhau và được Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 13/5/2003. Nay bà G khởi kiện làm phát sinh quan hệ tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
  2. Do ông Nguyễn Văn T hiện cư ngụ tại huyện B, tỉnh Long An nên khi bà G có yêu cầu xin ly hôn thì Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An giải quyết theo trình tự sơ thẩm quy định tại khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
  3. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải theo quy định tại Điều 205 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng không tiến hành hoà giải được do vắng mặt đương sự. Vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.
  4. Tại phiên toà, ông Nguyễn Văn T là bị đơn vắng mặt. Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai tại nơi cư trú cho ông T Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy báo phiên tòa nhưng ông T vẫn không đến tham gia phiên tòa. Do đó, việc Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An đưa ra xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn T là phù hợp với Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
  5. Tại phiên tòa hôm nay, bà Lê Thị G có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Xét yêu cầu của bà G, Hội đồng xét xử thấy:
    1. Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị G và ông Nguyễn Văn T có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ khi có tranh chấp.
    2. Xét thấy, bà Lê Thị G và ông Nguyễn Văn T kết hôn đã lâu, ban đầu hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo bà G trình bày là ông T ăn chơi không lo cho gia đình, gây nợ nhiều lần. Khoảng năm 2020, bà phát hiện ông T quen người phụ nữ khác nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, mâu thuẫn trầm trọng. Từ tháng 10/2023, bà về nhà mẹ ruột, vợ chồng không còn chung sống với nhau cho đến nay. Tuy ông T vắng mặt tại phiên toà và suốt quá trình tố tụng, không xác định nguyên nhân mâu thuẫn nhưng theo kết quả xác minh của Công an xã Long Thạnh, huyện B, tỉnh Long An thì ông Nguyễn Văn T có thường trú tại địa chỉ: ấp 2, xã A, huyện B, tỉnh Long An. Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai tại nơi cư trú cho ông T các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định pháp luật như Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy báo phiên tòa nhưng ông T không đến Tòa án tham gia tố tụng, không tham gia phiên hoà giải và phiên toà để giải quyết vụ án, không có ý kiến hay yêu cầu gì thể hiện việc ông T không thiết tha hàn gắn tình cảm với bà G, không quan tâm yêu cầu xin ly hôn của bà G, từ tháng 10/2023 bà G và ông T cũng không còn chung sống với nhau. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ tình cảm giữa bà G và ông T không còn, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà G đối với ông T là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
    3. Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Thị Cẩm Gi sinh ngày 10/5/2003, đã trưởng thành và Nguyễn Tấn Đ sinh ngày 04/8/2006. Theo đơn khởi kiện bà G yêu cầu nuôi con chưa thành niên. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, bà G cũng thay đổi ý kiến đồng ý giao con chung cho ông T trực tiếp nuôi con chung. Thấy rằng, con chung Nguyễn Tấn Đ chưa thành niên có bản tự khai ngày 11/3/2024 là hiện cháu đang sống cùng cha và nguyện vọng muốn số chung với cha sau khi cha mẹ ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cho con chung chưa thành niên Nguyễn Tấn Đ cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng là đảm bảo sự phát triển ổn định về mặt tâm lý và điều kiện sinh hoạt học hành của con chung cũng như phù hợp nguyện vọng của con chung, ông T không tham gia phiên tòa không có ý kiến yêu cầu về cấp dưỡng nên bà G không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, bà G có quyền tới lui thăm nom chăm sóc con chung sau khi ly hôn, không ai được ngăn cản là phù hợp theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
    4. Về tài sản chung và nợ chung: bà Lê Thị G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  6. Lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An là có cơ sở.
  7. Về án phí: bà Lê Thị G phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo Nghị quyết về án phí, lệ phí Toà án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 205; Các điều 147, 227, 266, 267, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Nghị quyết về án phí, lệ phí Toà án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị G.

Về hôn nhân: Cho bà Lê Thị G được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.

Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Thị Cẩm Gi sinh ngày 10/5/2003, đã trưởng thành và Nguyễn Tấn Đ sinh ngày 04/8/2006. Giao con chung chưa thành niên tên Nguyễn Tấn Đ cho ông Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, bà Lê Thị G không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con được quyền yêu cầu hạn chế quyền thăm nom nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom làm ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc giáo dục con chung. Vì quyền lợi của con chung, các bên hoặc một bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con chung cũng như mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: bà Lê Thị G không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: bà Lê Thị G chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Khấu trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí bà bà G đã nộp theo biên lai thu số 0008138 ngày 24/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Long An sang thi hành án phí. Bà G không phải nộp thêm.

Án xét xử sơ thẩm công khai, vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Nguyên đơn, Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện B;
  • - Chi cục THADS huyện B;
  • - UBND xã A;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hs, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hồ Bảo Trâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/HNGĐ-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 25/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Gai LH Tung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger