Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ÂN THI

TỈNH HƯNG YÊN

—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————

Bản án số: 25/2024/HS-ST

Ngày 19 tháng 4 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Thủy
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thuấn
  • Ông Trần Quang Chử
  • Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Thư ký Tòa án huyện Ân Thi
  • Đại diện Viện kiểm sát huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà:
  • Bà Nguyễn Thị Hảo - Kiểm sát viên

Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Ân Thi mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2024/TLST-HS ngày 01/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 đối với:

1. Họ và tên: Vũ Đức T, sinh năm 1982 Giới tính: Nam

Nơi sinh: Xã Y, huyện D, tỉnh Hà Nam

Nơi cư trú: Thôn Phú Cốc, xã Quang Vinh, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên

Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: Lao động tự do Trình độ học vấn: 12/12

Bố đẻ: Vũ Văn K, sinh năm 1956

Mẹ đẻ: Vũ Thị T1, sinh năm 1953

Gia đình có hai chị em bị cáo là con thứ hai

Vợ là Phạm Thị L, sinh năm 1982

Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự: Chưa có

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 21/12/2023, chuyển tạm giam từ ngày 27/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.

2. Họ và tên: Đào Văn L1, sinh năm 1970 Giới tính: Nam

Nơi Sinh: Thị trấn Ân Thi, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên

Nơi cư trú: Phố Bùi Thị Cúc, thị trấn Ân Thi, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên

Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: Lao động tự do Trình độ học vấn: 7/10

Bố đẻ: Đào Văn Đ (Đã chết)

Mẹ đẻ: Nguyễn Thị P (Đã chết)

Gia đình bị cáo có tám anh chị em, bị cáo là con thứ bẩy

Vợ là Nguyễn Thị L2, sinh năm 1970

Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1999

Tiền án, tiền sự: Chưa có

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 21/12/2023, chuyển tạm giam từ ngày 27/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.

Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1965
  2. Địa chỉ: phố Bùi Thị Cúc, thị trấn Ân Thi, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên

  3. Anh Vũ Huy C, sinh năm 1990
  4. Địa chỉ: thôn H, thị trấn Â, huyện Â, tỉnh Hưng Yên

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện chất ma tuý nên khoảng 09 giờ 30 phút ngày 21/12/2023, Vũ Đức T đi đến khu vực thị trấn Â, huyện  để tìm mua ma tuý sử dụng. Khi đi đến đoạn đường bê tông thuộc thôn Q, thị trấn Â, T gặp một người đàn ông không biết tên, địa chỉ nhìn giống người nghiện nên đi lại gần hỏi mua ma tuý thì người này đồng ý. T đưa 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 200.000 đồng, người này cầm tiền và đưa cho T 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột. T biết là H1 nên cầm gói ma tuý ở tay phải rồi đi tìm nơi sử dụng. Khi T đang đi trên đoạn đường bê tông qua cánh đồng thôn Q, thị trấn  thì gặp Đào Văn L1 đi xe mô tô biển số 89B1-492.40 trên đường. Do quen biết với L1 từ trước và biết L1 cũng là người nghiện ma tuý nên T hỏi “chú có sử dụng ma tuý không?”, L1 trả lời “có”. T nhặt được 01 mảnh giấy màu trắng có in chữ màu đen ở ven đường và san một phần ma tuý vừa mua được vào trong mảnh giấy, gói lại rồi đưa cho L1. L1 cầm gói ma tuý T vừa cho cất giấu vào trong ốp lưng điện thoại của mình rồi giấu vào trong túi quần phía trước bên trái đang mặc, sau đó, T nhờ L1 chở về nhà, đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, khi L1 điều khiển xe mô tô chở T đang đi trên Quốc lộ C thuộc địa phận thôn Q, thị trấn  thì bị Tổ công tác của Công an huyện  và Công an thị trấn  tuần tra đảm bảo an ninh trật tự thấy L1 và T có biểu nghi vấn nên đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện tại tay phải của T có 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, kích thước (01 x 1,5)cm bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột, T khai là ma tuý mua để sử dụng; tại bên trong ốp bằng da màu đen của chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A21s màu đen trong túi quần bên trái phía trước Lục đang mặc có 01 gói giấy màu trắng in chữ màu đen, kích thước (01 x 1,6)cm, bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột, L1 khai là ma tuý T cho để sử dụng. Công an huyện  đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ: của T 01 gói giấy chứa chất màu trắng dạng cục và bột, được niêm phong bì thư ghi ký hiệu (I); thu của L1 01 gói giấy chứa chất màu trắng dạng cục và bột, được niêm phong trong bì thư ghi ký hiệu (II), 01 chiếc xe mô tô biển số 89B-492.40, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A21s màu đen, số IMEI1: 351662611527724, số IMEI2: 352465211527725, lắp sim Vinaphone trên thẻ sim có dãy số [...], 11494065905, điện thoại có ốp bằng da màu đen. Tại biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 21/12/2023 đối với Vũ Đức T và Đào Văn L1, kết quả xét nghiệm: T và L1 đều Dương tính với chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số 91/KL-KTHS (MT) ngày 24/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh H, kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột niêm phong ghi ký hiệu (I), có khối lượng là 0,137g, là ma tuý, loại Heroine; Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột niêm phong ghi ký hiệu (II), có khối lượng là 0,132g là ma tuý, loại Heroine. H2 lại tổng số: 0,232g là ma tuý, loại Heroine ; 02 (hai) mảnh giấy và 02 (hai) vỏ phong bì trong một niêm phong ghi số 91/KL-KTHS (MT).

Quá trình điều tra, các bị cáo Vũ Đức T và Đào Văn L1 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 0,232g ma tuý Heroine ; 02 (hai) mảnh giấy và 02 (hai) vỏ phong bì hoàn lại sau giám định cùng 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A21s màu đen lắp sim Vinaphone đã thu giữ, được quản lý tại kho vật chứng của Công an huyện Â. Đối với chiếc xe mô tô biển số 89B1-492.40: Quá trình điều tra xác định chiếc xe này là của L1 mua của anh Vũ Huy C sinh năm 1990 ở thôn H, thị trấn  vào năm 2017 với giá 14.500.000 đồng, khi mua các bên không làm giấy tờ gì chỉ đưa đăng ký xe mô tô, trong quá trình sử dụng Lục đã làm mất giấy đăng ký xe mô tô trên. Qua tra cứu, chiếc xe này không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Chiếc xe này được quản lý tại Kho vật chứng Công an huyện Â.

Đối với người đàn ông bán ma tuý cho bị cáo T, nhưng do bị cáo khai không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 25/CT-VKSAT ngày 01/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Vũ Đức Tùng và Đào Văn Lục về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội do mình gây ra và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và hòa nhập cộng đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên có quan điểm phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra và nhân thân bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố đối với Vũ Đức T và Đào Văn L1 về "Tội tàng trữ trái phép chất ma túy" và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Vũ Đức T và Đào Văn L1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo T từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2023.

Xử phạt bị cáo L1 từ 01 năm 02 tháng tù đến 01 năm 05 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2023.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 0,232g Heroine, cùng 02 (hai) mảnh giấy và 02 (hai) vỏ phong bì hoàn lại sau giám định được quản lý tại kho vật chứng Chi cục THADS huyện Â1.

Trả lại bị cáo Đào Văn L1 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A21s màu đen và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, BKS: 89B1 492.40.

Về án phí: bị cáo T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo L1 gia đình thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Â, tỉnh Hưng Yên; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản hỏi cung các bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định của Phòng K1 Công an tỉnh H và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 21/12/2023, tại khu vực Quốc lộ C thuộc địa phận thôn Q, thị trấn Â, huyện Â. Đào Văn L1 đã có hành vi cất giấu trong người 01 gói Heroine có khối lượng 0,137g và Vũ Đức T có hành vi cất giấu trong người 01 gói Heroine có khối lượng 0,132g với mục đích để sử dụng trái phép thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với các chất ma túy nói chung và H1 nói riêng. Các bị cáo là người đã thành niên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình là trái pháp luật nhưng các bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Hiện nay, các tội phạm về ma túy là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây bất ổn đến tình hình an ninh trật tự xã hội. Do vậy, việc đưa các bị cáo ra xét xử nghiêm minh, kịp thời là cần thiết nhằm trừng trị người phạm tội và có tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của các bị cáo Vũ Đức T và Đào Văn L1 đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên đã truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, ngoài việc đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử còn cân nhắc xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo để áp dụng một hình phạt tương xứng.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo

Về tình tiết tăng nặng: Đối chiếu với các quy định của Bộ luật hình sự, các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào;

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự

[4]Về hình phạt: Tuy các bị cáo có nhân tốt những các bị cáo phạm tội nghiêm trọng nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, bắt các bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Trong vụ án này, các bị cáo đồng phạm với nhau trong việc thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Vũ Đức T là người thực hiện hành vi phạm tội tích cực hơn đã chủ động đi mua ma túy và đưa cho L1 một phần nên bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo L1.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5]. Về xử lý vật chứng: Đối với 0,232g ma tuý Heroine hoàn lại sau giám định là chất cấm nên sẽ tịch thu cho tiêu hủy

Đối 02 (hai) mảnh giấy và 02 (hai) vỏ phong bì hoàn lại sau giám định không có giá trị sử dụng nên sẽ tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A21s màu đen lắp sim V1 và chiếc xe mô tô biển số 89B1-492.40 đã thu giữ của L1, quá trình điều tra xác định không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo L1.

[6]. Về án phí: Các bị cáo bị kết tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo L1 gia đình thuộc hộ cận nghèo nên bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Vũ Đức T và Đào Văn L1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo T 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2023.

Xử phạt bị cáo L1 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2023.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 0,232g Heroine, cùng 02 (hai) mảnh giấy và 02 (hai) vỏ phong bì hoàn lại sau giám định được quản lý tại kho vật chứng Chi cục THADS huyện Â1.

Trả lại bị cáo Đào Văn L1 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A21s màu đen và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, BKS: 89B1 492.40.

(Đặc điểm chi tiết các vật chứng được thể hiện theo Quyết định chuyển vật chứng số 24/QĐ-VKSAT ngày 01/4/2024 của VKS huyện Â2, tỉnh Hưng Yên và được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ân ThÂl theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/4/2024.)

Về án phí: Bị cáo T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo L1.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo (TTG);
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - VKSND huyện Ân Thi;
  • - Cq CSĐT- CA huyện Ân Thi;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Cq THAHS-CA huyện Ân Thi;
  • - Chi cục THADS huyện Ân Thi;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lương Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/HS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI, TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 25/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tàng trữ TPMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger