|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25 /2023/HNGĐ-PT Ngày 25-12 - 2023 V/v tranh chấp về chia tài sản sau khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Minh
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Mỹ Hải
Bà Nguyễn Thị Thanh Nga
- Thư ký phiên toà:Bà Trần Thị Diệu Linh, là Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà:
Phạm Thị Bằng Giang- Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 31/2023/TLPT-HNGĐ, ngày 09 tháng 11 năm 2023về “Tranh chấp về chia tài sản chung sau khi ly hôn” .
Do Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 31/2023/HNGĐ - ST của Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An,bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số36/2023/QĐXX-HNGĐPT, ngày 21tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Anh Phạm Văn H, sinh năm 1973. Nơi ĐKHKTT: 12 K, phường G, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Chỗ ở hiện nay: 1103 A chung cư D, đường C, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Có mặt.
- - Bị đơn:Chị Thái Thị Hiền L, sinh năm 1982. Địa chỉ: Khối V, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tổng Công ty Cổ phần Đ1. Địa chỉ: DIC B L, phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Người đại diện hợp pháp của Tổng Công ty Cổ phần Đ1: Ông Lê Văn N, sinh năm 1981; chức vụ: Chuyên viên Ban pháp chế trực thuộc DIC Group; là người đại diện theo ủy quyền tại văn bản ủy quyền số 09/GUQ-DIC Group-TGĐ, ngày 14/3/2023 của Công ty Cổ phần Đ2. Vắng mặt.
- Người kháng cáo: Chị Thái Thị Hiền L - Bị đơn
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Tại đơn khởi kiện đề ngày 04/01/2022, bản tự khai, lời khai trong quá trìnhthuthập chứng cứ, nguyên đơn anh Phạm Văn H trình bày: Nguyên đơn và bị đơn chị Thái Thị Hiền L đăng ký kết hôn ngày 01/12/2016. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn nên tháng 01/2018, nguyên đơn và bị đơn không chung sống với nhau, bị đơn đưa con chung về Nghệ An sinh sống. Thời gian này, nguyên đơn đã bán xe ô tô nhãn hiệu Camry biển số 72A-11239, là tài sản riêng của nguyên đơn có trước khi kết hôn với bị đơn để mua căn hộ chung cư 1103 A chung cư D, đường C, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với giá 946.909.000 đồng bằng hình thức trả góp theo nhiều đợt. Ngày 15/3/2018, nguyên đơn trực tiếp ký hợp đồng mua căn hộ chung cư trên với Tổng Công ty Cổ phần Đ1, đồng thời nộp số tiền là 667.910.000 đồng. Tháng 7/2018, bị đơn yêu cầu ly hôn. Tại Bản án 134/2018/HNGĐ-ST, ngày 10/10/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã xử cho ly hôn giữa nguyên đơn và bị đơn. Về con chung: Giao con chung Phạm Hải Đ, sinh ngày 01/8/2017 cho bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản chung: Hai bên không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết. Thời điểm ký hợp đồng và nộp tiền mua nhà, mặc dù chưa ly hôn nhưng nguyên đơn và bị đơn không chung sống với nhau, không liên lạc với gì với nhau nên bị đơn không biết nguyên đơn mua nhà, không ký hợp đồng, không đưa tiền thanh toán mua căn hộvà cũng chưa lần nào chung sống tại căn hộ đó. Số tiền còn lại, nguyên đơn đã trả tiếp thành 04 đợt vào các năm 2020 và 2022. Hiện tại nguyên đơn còn nợ Công ty 46.499.911 đồng tương đương 5% giá trị hợp đồng và sẽ thanh toán khi được bàn giao Giấy chứng nhận sở hữu căn hộ. Ngoài tiền mua căn hộ chung cư thì nguyên đơn đã chi phí thêm số tiền 215.000.000 đồng để hoàn thiện căn hộ và cho chị Cao Thị Thanh T thuê từ 01/11/2022 với giá 6.500.000 đồng/tháng. Chị Cao Thị Thanh T đã thanh toán đến ngày 30/6/2023.Từ 01/7/2023 chị Cao Thị Thanh T chấm dứt hợp đồng thuê nhà. Tài sản do nguyên đơn mua bằng tài sản riêng của nguyên đơn nên yêu cầu Tòa án xác định căn hộ chung cư 1103 A chung cư D, đường C, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc quyền sở hữu riêng của nguyên đơn.Nguyên đơn không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc xác định căn hộ trên là tài sản chung và yêu cầu chia đôi theo giá trị.
Tại bản tự khai, lời khai trong quá trình thu thập chứng cứ, bị đơn chị Thái Thị Hiền L thống nhất về quan hệ hôn nhân, con chung và ly hôn. Ngày 15/3/2018, nguyên đơn ký hợp đồng mua căn hộ chung cư. Thời điểm ký kết hợp đồng, bị đơn đang ở Nghệ An nên không trực tiếp ký vào hợp đồng. Tuy nhiên việc mua chung cư đã có sự bàn bạc từ trước. Số tiền mua chung cư theo hợp đồng là hơn 900.000.000 đồng và là tiền của vợ chồng. Vì quá trình chung sống, bị đơn lo chi phí, trang trải cuộc sống hàng ngày và lo cho con cái còn thu
2
nhập của nguyên đơn tích góp lại mua nhà. Người trực tiếp ký hợp đồng và thanh toán tiền mua chung cư là nguyên đơn,bị đơn không trực tiếp giao dịch gì kể cả thanh toán tiền với Công ty Cổ phần Đ3 cũng chưa chung sống ngày nào tại căn hộ đó. Sau khi ký hợp đồng mua chung cư thì bị đơn không đưa thêm tiền cho nguyên đơn để thanh toán tiền nhà vì còn phải lo cho con chung. Việc nguyên đơn chi phí lắp đặt, hoàn thiện căn hộ chung cư, bị đơn không biết. Đây là tài sản chung hình thành trong thời kỳ hôn nhân nên bị đơn không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị đơn rút một phần yêu cầu phản tố, cụ thể: Bị đơn xác định số tiền thanh toán đợt 1 là 667.910.000 đồngđược thực hiện trong thời kỳ hôn nhân nên là tài sản chung của vợ chồng tương đương với 70,74% tổng giá trị tài sản, còn các lần thanh toán sau là tiền riêng của nguyên đơn. Theo kết quả định giá thì 70,74% giá trị căn hộ tương đương số tiền 1.061.000.000 đồng. Bị đơn yêu cầu chia đôi phần giá trị này tương đương số tiền được chia 530.000.000 đồng. Đối với số tiền cho thuê nhà, bị đơn yêu cầu Tòa án chia đôi số tiền chị T đã thanh toán đến 30/6/2023.Đối với số tiền còn nợ Tổng Công ty Cổ phần Đ1, đề nghị Tòa án chia đôi, mỗi người trả một nửa. Trường hợp nguyên đơn đồng ý thanh toán số tiền còn nợ cho Công ty thì bị đơn đồng ý.
Tại văn bản số 04/DIC Group-BPC, ngày 25/3/2023 của Tổng Công ty Cổ phần Đ1 trình bày: Ngày 15/3/2018, D ký hợp đồng bán căn hộ mã số PA.1103 thuộc Blok A, chung cư D với anh Phạm Văn H với giá 946.909.000 đồng. Việc thanh toán được chia thành 06 đợt.Đến thời điểm hiện tại anh Phạm Văn H đã thanh toán được 05 đợt với tổng số tiền là 900.409.089 đồng. Các đợt thanh toán đều do anh Phạm Văn H thanh toán. Khi ký hợp đồng anh Phạm Văn H không cung cấp thông tin về vợ là chị Thái Thị Hiền L nên hợp đồng chỉ giao dịch với anh Phạm Văn H.Việc chị Thái Thị Hiền L có biết anh Phạm Văn H mua nhà hay không Công ty không biết.Theo hợp đồng thì 5% giá trị hợp đồng còn lại tương đương số tiền 46.499.911 đồng sẽ thanh toán khi nhận Giấy chứng nhận sở hữu căn hộ. Hiện tại đang có tranh chấp nên Công ty chưa nộp hồ sơ cấp giấy. Trường hợp Tòa án xác định đây là tài sản chung thì vợ chồng anh Phạm Văn H có trách nhiệm thanh toán khoản tiền còn nợ trên khi nhận Giấy chứng nhận sở hữu căn hộ.
Tại bản tự khai ngày 04/4/2023, chị Cao Thị Thanh T trình bày: Chị Cao Thị Thanh T thuê căn hộ A1103, chung cư D của ông Phạm Văn H với thời hạn 01 năm kể từ ngày 01/11/2022 với giá thuê là 6.500.000 đồng, tính đến tháng 4/2023 đã thanh toán được 05 tháng. Khi thuê căn hộ đã có sẵn một số vật dụng và trang thiết bị, chị T chỉ mua thêm một số đồ dùng sinh hoạt, không có cải tạo gì đối với căn hộ. Trong hợp đồng xác định nếu anh Phạm Văn H muốn lấy nhà trước hợp đồng thì phải báo trước 15 ngày và hoàn trả tiền cọc 6.500.000
3
đồng.Nếu có tranh chấp thì hai bên tự giải quyết nên chị Cao Thị Thanh T đề nghị Tòa án không đưa vào tham gia tố tụng.
Với nội dung trên, bản án sơ thẩm đã quyết định:Căn cứ vào các Điều 24, 26, 31, 33, 35, 43, 44 và 59 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 213 của Bộ luật Dân sự; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phạm Văn H về việc xác định căn hộ mã số PA.1103 thuộc Blok A, chung cư D, đường C, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc quyền sở hữu riêng của anh Phạm Văn H.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn chị Thái Thị Hiền L:
Chia cho anh Phạm Văn H được quyền sở hữu căn hộ mã số PA.1103 thuộc Blok A, chung cư D, đường C, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trị giá 1.500.000.000 đồng. Buộc anh Phạm Văn H phải thanh toán cho chị Thái Thị Hiền L giá trị tài sản được chia tương đương với số tiền 148.200.000 đồng (Một trăm bốn mươi tám triệu hai trăm nghìn đồng).
Chia cho anh Phạm Văn H được quyền sở hữu số tiền thuê nhà là 46.800.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu tám trăm nghìn đồng).Buộc anh Phạm Văn H phải thanh toán cho chị Thái Thị Hiền L số tiền cho thuê nhà 5.200.000 đồng (Năm triệu hai trăm nghìn đồng).
Tổng số tiền anh Phạm Văn H có nghĩa vụ thanh toán cho chị Thái Thị Hiền L là 153.400.000 đồng (Một trăm năm mươi ba triệu bốn trăm nghìn đồng).
- Anh Phạm Văn H và Tổng Công ty Cổ phần Đ1 có quyền và nghĩa vụ liên hệ với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấp Giấy sở hữu căn hộ mã số PA.1103 thuộc Blok A, chung cư D, đường C, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận sở hữu căn hộ, anh Phạm Văn H có nghĩa vụ thanh toán cho Tổng Công ty Cổ phần Đ1 số tiền còn lại là 46.499.911 đồng (Bốn mươi sáu triệu bốn trăm chín mươi chín nghìn chín trăm mười một đồng)
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự .
Ngày 14/8/2023 chị Thái Thị Hiền L - bị đơn kháng cáo bản án nêu trên và đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu phản tố của chị cụ thể chị được hưởng phần tài sản chung trị giá 530.500.000đ. Đây là số tiền thanh toán đợt 1 là 667.910.000₫ được thực hiện trong thời kỳ hôn nhân tương tương với 70,74%
4
tổng giá trị tài sản. Theo kết quả định giá thì 70,74% giá trị căn hộ tương đương số tiền 1.061.000.000đ; chấp nhận việc chia tài sản là cho chị được hưởng phần tiền thuê nhà 16.250.000₫ (là 50% số tiền thuê nhà do chị Cao Thị Thanh t cho nguyên đơn 32.500.000đ). Tổng tiền chị yêu cầu được nhận là 546.750.000đ.
Tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn không thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.Người kháng cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị chia đôi khoản tiền nộp đợt 1 tương đương 70,74% giá trị tài sản. Cấp sơ thẩm trừ 200.000.000đ tiền bán xe ô tô là tài sản riêng của anh H là không có căn cứ. Yêu cầu chia đôi khoản tiền thuê nhà
Nguyên đơn không đồng ý với kháng cáo của bị đơn đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An:
Về tố tụng:
- + Về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử phúc thẩm, Thẩm phán được phân công đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng trình tự, thủ tục phiên tòa.
- +Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Các đương sự, Luật sư đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 73, Điều 75, Điều 76 và Điều 294 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quyền tranh tụng của các đương sự được bảo đảm.
- + Về thủ tục kháng cáo: Đương sự kháng cáo trong thời hạn luật định, có nộp tiền tạm ứng án phí nên được Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý, giải quyết là đúng pháp luật.
Về nội dung:
- Sau khi phân tích công sức của anh hà và chị L đối với việc tạo lập tài sản chung: Đại diện Viện kiểm sát cho rằng cấp sơ thẩm xác định số tiền (667.910.0000 – 200.000.000) = 467.910.0000 đồng là số tiền anh H cùng chị L bỏ ra để mua căn hộ chung cư trong thời kỳ hôn nhân (trước thời điểm ly hôn ngày 10/10/2018), tương ứng 49,4% giá trị tài sản khi mua.Theo biên bản định giá tài sản, giá trị căn chung cư tại thời điểm hiện tại là 1.500.000.000 đồng thì 49,4% giá trị tài sản tương ứng với số tiền 741.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn đều có yêu cầu chia bằng giá trị nên xác định số tiền 741.000.000 đồng (tương ứng với 49,4% giá trị tài sản hiện tại) là tài sản chung của hai vợ chồng để chia.
Việc Tòa án cấp sơ thẩm chia cho bị đơn 20% giá trị tài sản hiện tại tương ứng số tiền 148.200.000 đồng (mới tương ứng với 32% số tiền thanh toán đợt 1) là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bị đơn.Đề nghị chia theo tỷ lệ anh H 68%
5
giá trị tài sản hiện tại, chị L 32% giá trị tài sản hiện tại (tương ứng 50% số tiền thanh toán đợt 1).
- Về chia tài sản chung là số tiền cho chị Cao Thị Thanh T thuê nhà từ 01/11/2022 đến 30/6/2023, tương ứng với số tiền 52.000.000 đồng:
Do công sức đóng góp của bị đơn chỉ liên quan đến số tiền thanh toán đợt 1, các đợt sau bị đơn không đóng góp thêm tiền mua nhà và hoàn thiện nội thất của căn chung cư, cũng chưa một lần đến căn hộ nên Hội đồng xét xử chấp nhận chia cho bị đơn 10% giá trị tiền cho thuê nhà tương đương số tiền 5.200.000 đồng là phù hợp.
Từ những phân tích trên, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn chị Thái Thị Hiền L, áp dụng khoản 2 Điều 308 BLTTDS sửa bản án sơ thẩm theo hướng phân tích trên.
Về án phí: Theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của chị Thái Thị Hiền L làm trong hạn luật định và có nộp dự phí kháng cáo nên hợp lệ được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Xét kháng cáo của chị Thái Thị Hiền L thấy rằng:
[2.1] Đối với kháng cáo yêu cầu được hưởng tiền số tiền 667.910.000₫ là số tiền nộp tiền đợt một mua nhà, tương đương giá trị hiện nay là 1.061.000.000đ. Chị L yêu cầu được chia đôi số tiền này và yêu cầu được hưởng số tiền 530.500.000₫.
Hội đồng xét xử thấy rằng:
Căn cứ Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư mã số PA.1103 thuộc Block A chung cư DicPhoenix ngày 15/3/2018 ký giữa Công ty cổ phần Đ2 và anh Phạm Văn H, biên bản đặt cọc, biên bản bàn giao căn hộ chung cư, hợp đồng mua bán xe, sao kê tài khoản lịch sử giao dịch của anh Phạm Văn H tại Ngân hàng V, anh H mua căn hộ chung cư trên theo hình thức trả góp kể từ ngày 15/3/2018. Lời khai của nguyên đơn về việc bán xe Camry biển số 72A - 112.39 để lấy 200.000.000₫ mua trả góp căn hộ chung cư vào ngày 15/3/2018 là phù hợp với hợp đồng bán xe được ký kết ngày 09/3/2018 (có xác nhận của chị Chu Thị h vợ trước của anh H). Thời điểm anh H và chị L ly hôn vào ngày 10/10/2018. Ngày 15/3/2018, anh H đặt cọc và ký hợp đồng mua chung cư nộp tiền lần thứ nhất số
6
tiền 667.910.000đ (tương đương 70% giá trị căn hộ chung cư). Do đó thời điểm nộp tiền nhà đợt 1 đang trong thời kỳ hôn nhân. Trong đó, theo lời khai anh H anh có dùng số tiền 200.000.000₫ bán xe ô tô nhãn hiệu Camry (được xác định là tài sản riêng của anh H có trước khi kết hôn với chị L) để góp tiền mua trả góp căn chung cư. Do đó, bản án sơ thẩm đã trừ đi số tiền bán xe và xác định 467.910.000đ tương ứng giá trị hiện nay 741.000.000đ tương ứng giá trị 49,4%. Phần còn lại thuộc về tài sản riêng của anh H là có căn cứ.Tại phiên tòa phúc thẩm chị L không đồng ý trừ 200.000.000đ tiền bán xe để góp tiền mua nhà của anh H. Tuy nhiên, chị L không chứng minh được thời điểm mua nhà anh H có bao nhiêu tiền nên không có căn cứ để chấp nhận.
Xét về công sức đóng góp, bị đơn thừa nhận việc thanh toán tiền mua nhà đợt 1 chỉ mình anh H trả tiền, chị L không đưa tiền cho anh H. Từ khi mua nhà đợt 1 là 15/3/2018 cho đến nay, chị L chưa một lần đến căn hộ chung cư. Mặc dù chị L không đưa tiền mua nhà cho anh H nhưng chị L có công sức trong việc chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Anh H là người trực tiếp giao dịch ký hợp đồng mua bán, thanh toán tiền, bỏ chi phí để hoàn thiện căn hộ nên anh H có công sức đóng góp lớn hơn trong việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung. Do đó, bản án sơ thẩm xác định anh H có công sức lớn hơn so với chị L là có căn cứ. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm xác định chia cho anh H giá trị 80% và chị L được hưởng giá trị 20% giá trị tài sản chung là chưa phù hợp ảnh hưởng đến quyền lợi của chị L. Căn cứ công sức tạo lập khối tài sản thấy rằng anh H có công sức lớn hơn so với chị L do đó cần xác định anh H có công sức tạo lập khối tài sản bằng 70% giá trị tài sản và chị L được hưởng giá trị tài sản 30% của 741.000.000đ = 222.300.000đ; anh H được hưởng 70% giá trị tương đương số tiền 518.700.000₫.
[2.2] Đối với yêu cầu chia đôi khoản tiền cho thuê nhà: Căn hộ nêu trên cho chị Cao Thị Thanh T thuê từ ngày 01/11/2022 với giá 6.500.000 đồng/1 tháng và đã thanh toán đến ngày 30/6/2023 là 08 tháng x 6.500.000 đồng = 52.000.000 đồng. Số tiền này hiện nguyên đơn đang giữ. Từ ngày 01/7/2023 chị Cao Thị Thanh T chấm dứt hợp đồng.Bị đơn yêu cầu chia đôi số tiền nguyên đơn đã nhận đến ngày 30/6/2023. Tuy nhiên, do công sức đóng góp của bị đơn chỉ liên quan đến số tiền thanh toán đợt 1, các đợt sau, bị đơn không góp thêm tiền và chưa một lần đến căn hộ nên bản án sơ thẩm chia cho bị đơn 10% giá trị tiền cho thuê nhà tương đương số tiền 5.200.000 đồng là có căn cứ nên không chấp nhận kháng cáo nội dung này.
Từ phân tích trên, chấp nhận một phần kháng cáo của chị Thái Thị Hiền L, sửa một phần bản án sơ thẩm như đã phân tích trên như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
7
[3]. Về án phí chia tài sản: Do sửa một phần bản án sơ thẩm nên xác định lại nghĩa vụ án phí theo quy định của pháp luật.
[4] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của chị Thái Thị Hiền L được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí Hôn nhân gia đình phúc thẩm.
[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự; chấp nhận một phần kháng cáo của chị Thái Thị Hiền L; Sửa bản án sơ thẩm.
- Áp dụng Điều 24, 26, 31, 33, 35, 43, 44 và 59 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 213 của Bộ luật Dân sự; Các điều 147, 148, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phạm Văn H về việc xác định căn hộ mã số PA.1103 thuộc Blok A, chung cư D, đường C, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc quyền sở hữu riêng của anh Phạm Văn H.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn chị Thái Thị Hiền L:
Chia cho anh Phạm Văn H được quyền sở hữu căn hộ mã số PA.1103 thuộc Blok A, chung cư D, đường C, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trị giá 1.500.000.000 đồng. Buộc anh Phạm Văn H phải thanh toán cho chị Thái Thị Hiền L giá trị tài sản được chia tương đương với số tiền 222.300.000₫ (hai trăm hai mươi hai triệu ba trăm ngàn đồng).
Chia cho anh Phạm Văn H được quyền sở hữu số tiền thuê nhà là 46.800.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu tám trăm nghìn đồng).Buộc anh Phạm Văn H phải thanh toán cho chị Thái Thị Hiền L số tiền cho thuê nhà 5.200.000 đồng (Năm triệu hai trăm nghìn đồng).
Tổng số tiền anh Phạm Văn H có nghĩa vụ thanh toán cho chị Thái Thị Hiền L là 227.500.000đ (hai trăm hai mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng).
- Anh Phạm Văn H và Tổng Công ty Cổ phần Đ1 có quyền và nghĩa vụ liên hệ với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấp Giấy sở hữu căn hộ mã số PA.1103 thuộc Blok A, chung cư D, đường C, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận sở hữu căn hộ, anh Phạm Văn H có nghĩa vụ thanh toán cho Tổng Công ty Cổ phần Đ1 số tiền còn lại là 46.499.911 đồng (Bốn mươi sáu triệu bốn trăm chín mươi chín nghìn chín trăm mười một đồng)
8
- Về án phí chia tài sản : Anh Phạm Văn H phải chịu 28.324.000₫ (hai mươi tám triệu ba trăm hai tư nghìn đồng) tiền án phí chia tài sản. Được khấu trừ vào số tiền 21.000.000 đồng (hai mươi mốt triệu đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002110, ngày 13 tháng 4 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Anh Phạm Văn H còn phải nộp 7.324.000 (bảy triệu ba trăm hai mươi bốn nghìn đồng) tiền án phí chia tài sản.
Chị Thái Thị Hiền L phải chịu 11.375.000đ (mười một triệu ba trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) tiền án phí chia tài sản. Được khấu trừ vào số tiền 12.500.000 đồng (Mười hai triệu năm trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí. Hoàn trả lại cho chị Thái Thị Hiền L số tiền 1.125.000đ (một triệu một trăm hai mươi lăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004900, ngày 20 tháng 02 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của chị Thái Thị Hiền L được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí phúc thẩm tra lại cho chị L số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005018 ngày 14 tháng 8 năm 2023 tại Chi cục thi hành án huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
- Về thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (đối với các khoản tiền phải trả cho người được Thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
9
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hải Minh |
10
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thanh Nga Trần Thị Mỹ Hải |
Nguyễn Thị Hải Minhi |
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
Bản án số 25/2023/HNGĐ-PT ngày 25/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về chia tài sản sau khi ly hôn
- Số bản án: 25/2023/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản sau khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tránh chấp tài sản sau khi ly hôn
