TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2024/HS-ST
Ngày: 30-5-2024
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HÒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Cư.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Văn Sinh.
Ông Đào Hồng Kiệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Vũ Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tùng - Kiểm sát viên.
Vào ngày 30-5-2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-HS ngày 17-5-2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức Duy L, sinh năm 1986; Nơi sinh: tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: mua bán; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H (chết) và con bà Nguyễn Thị D, sinh năm: 1967; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; vợ Huỳnh Thị Thùy L1, sinh năm 1986. Con 02 người, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo L1 là Luật sư Dương Thị G của văn phòng L2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Huỳnh Thị Thùy L1, sinh năm 1986. Cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (Có mặt).
- Người làm chứng:
1. Phan Văn M, sinh năm 1989 (Vắng mặt);
Nơi công tác: Cán bộ biên phòng công tác tại Trạm kiểm soát liên ngành cửa khẩu quốc tế D2.
Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
2. Tống Văn D1, sinh năm 1964 (Vắng mặt);
Nơi công tác: Công chức hải quan, công tác tại Chi cục Hải quan cửa khẩu D2.
3. Trần Văn H1, sinh năm 1963 (Có mặt).
Cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 09-7-2023, Nguyễn Đức Duy L, ngụ: khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 66F1-054.47 (xe do chị Huỳnh Thị Thùy L1 đứng tên giấy đăng ký) chạy đến cổng xuất Trạm kiểm soát liên ngành cửa khẩu quốc tế D2 để qua Campuchia. Khi đến khu vực kiểm tra hải quan thì L1 dừng xe lại, tắt máy dẫn bộ để qua Trạm kiểm soát liên ngành nhưng không thực hiện khai báo hàng hóa, hành lý mang theo, do đó anh Tống Văn D1 - công chức Chi cục Hải quan cửa khẩu D2 yêu cầu L1 xuất trình giấy tờ để kiểm tra. Sau đó, L1 mở cốp xe mô tô lấy hộ chiếu tên Nguyễn Đức Duy L và giấy đăng ký xe mô tô để trình, thì lúc này anh Tống Văn D1 nhìn thấy trong cốp xe có 01 bọc nilon màu đen nên anh D1 hỏi bọc gì? L trả lời “bọc đựng tiền”, anh D1 hỏi sao không khai báo? L trả lời “không khai báo”, anh D1 hỏi L mang tiền qua Campuchia làm gì? L trả lời “trả nợ cho người cô tên Hồ Thị N”. Sau đó, anh D1 cùng anh Phan Văn M - cán bộ Trạm kiểm soát Biên phòng cửa khẩu quốc tế D2 tiến hành kiểm tra thì phát hiện bên trong bọc ny lon màu đen là 01 bọc nilon màu xanh bên trong có tiền Việt Nam: 280.000.000 đồng nên mời L về trụ sở Chi Cục hải quan lập biên bản vụ việc.
* Vật chứng của vụ án thu giữ:
- Tiền Việt Nam: 280.000.000 đồng (Hai trăm tám mươi triệu đồng) gồm: 220 tờ, mệnh giá 500.000 đồng, 1.700 tờ, mệnh giá 100.000 đồng. Hiện đang gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện T.
- 01 túi nilon màu đen, kích thước 30 x 25cm; 01 túi nilon màu xanh, trên túi có chữ S, kích thước 30 x 25cm tất cả đã qua sử dụng.
- 01 USB-08GB, ký hiệu DT 101 G2, màu đỏ (Lưu vào hồ sơ vụ án).
- 01 sổ hộ chiếu số 02247843, ngày cấp 22/6/2023, nơi cấp: Cục Q Bộ C1;
- 01 xe mô tô biển kiểm soát 66F1 - 054.47, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave S, màu sơn: đỏ-đen-bạc, số máy: 52E - 4013475, số khung: 5211CY552840, đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 003667, ngày cấp 10/9/2011, nơi cấp: Công an huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Tại bản kết luận giám định số 457/KL-KTHS ngày 12-4-2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: 1920 tờ tiền cần giám định ký hiệu từ A1 đến A1920 đều là tiền thật.
Trong quá trình điều tra, Nguyễn Đức Duy L thừa nhận mang tiền 280.000.000đồng qua bên Camphuchia để trả nợ cho người cô tên N nhưng không khai báo. Bị cáo Nguyễn Đức Duy L kêu oan cho là mục đích mang tiền đi sang campuchia để trả nợ cho người cô, chứ ngoài ra không nhằm mục đích khác để thu lợi cho bản thân, hơn nữa khi đến cửa khẩu D2 còn cách Trạm kiểm soát Hải Quan khoảng 04 mét bị cáo xuống xe dẫn bộ vào Trạm kiểm soát lấy giấy tờ ra trình Trạm để xin qua thì bị bắt. Bị cáo xin được nhận lại số tiền 280.000.000đồng.
Tại Cáo trạng số 27/CT-VKSTH ngày 04 tháng 5 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố Nguyễn Đức Duy L về tội “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới” quy định tại khoản 1 Điều 189 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm qua phân tích hành vi của bị cáo và giải thích pháp luật về tội “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới” thì bị cáo thừa nhận là bị cáo phạm tội “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới” như Viện kiểm sát đã truy tố nhưng do hoàn cảnh gia đình, bị cáo xin được nhận lại số tiền 280.000.000đồng.
Tại phần luận tội, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Đức Duy L về tội “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới” quy định tại khoản 1 Điều 189 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Đức Duy L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.
Từ những phân tích trên Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Duy L phạt chính là hình phạt tiền từ 20.000.000đồng đến 25.000.000đồng.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Tiền Việt Nam 265.000.000đồng. Riêng số tiền 15.000.000đồng trả lại cho bị cáo L (Hiện vật chứng trên Kho bạc Nhà nước huyện T đang quản lý).
Đề nghị tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 túi nilon màu đen, kích thước 30 x 25cm và 01 túi nilon màu xanh, trên túi có chữ S, kích thước 30 x 25cm đã qua sử dụng (Hiện vật chứng Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng đang quản lý).
Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 66F1 - 054.47, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave S, màu sơn: đỏ-đen-bạc, số máy: 52E - 4013475, số khung: 5211CY552840, đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 003667, ngày cấp 10/9/2011, nơi cấp: Công an huyện C, tỉnh Đồng Tháp cho chị Huỳnh Thị Thùy L1 đứng tên đăng ký, việc bị cáo lấy trở tiền qua Camphuchia thì chị Thùy L1 không biết. Do đó, Cơ quan điều tra Công an huyện T đã trả lại xe mô tô cho chị L1 quản lý.
Luật sư tham gia tranh luận bào chữa cho bị cáo cho rằng bị cáo không cấu thành tội “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới”, bởi: về mặt chủ quan bị cáo thực hiện lỗi vô ý không cố ý, bị cáo không khai báo là không biết nên không khai báo, biết rằng bị cáo qua lại Camphuchia rất nhiều lần nhưng vì bị cáo xuất thân từ gia đình dân trí thấp, ít hiểu biết pháp luật; mục đích của bị cáo không vì lợi nhuận, bị cáo đem tiền trả nợ cho người cô bên Camphuchia; hiện trường vụ việc là bị cáo chưa mang tiền qua khỏi Trạm kiểm soát liên ngành nên không thể nói bị cáo vận chuyển qua biên giới.
Qua lời tranh luận của luật sư bào chữa cho bị cáo thì bị cáo L1 vẫn thừa nhận, thống nhất là bị cáo phạm tội “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới” như đại diện Viện kiểm sát đã truy tố.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối hận về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo nhận lại tiền vì hoàn cảnh gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, Kiểm sát viên trong quá trình tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Từ khi khởi tố vụ án cho đến tại phiên tòa sơ thẩm những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Theo lời tranh luận của luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và các nội dung đơn mà bị cáo kêu oan cho là mục đích bị cáo mang tiền đi sang Campuchia để trả nợ cho người cô, chứ ngoài ra không nhằm mục đích khác để thu lợi cho bản thân, hơn nữa khi đến cửa khẩu D2 còn cách Trạm kiểm soát Hải quan khoảng 04 mét bị cáo xuống xe dẫn bộ vào Trạm kiểm soát lấy giấy tờ ra trình Trạm để xin qua thì bị bắt. Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thừa nhận là đã qua Camphuchia tại Cửa khẩu D2 rất nhiều lần (Khoản mười mấy lần, lần bị bắt là sổ hộ chiếu thứ hai), mỗi lần xuất cảnh thì chỉ đem theo từ 1 – 2 triệu đồng nên vào ngày 09-7-2023 bị cáo đem 280.000.000đồng là không biết nên không khai báo. Tuy nhiên, theo Công văn số 126/HQDB ngày 02-3-2024 và Công văn số 589/HQDB ngày 30-9-2024 của Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế D2 cung cấp thông tin “...thủ tục khai báo hải quan khi xuất cảnh, nhập cảnh đã được Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế D2 niêm yết công khai tại Trạm kiểm soát liên ngành cửa khẩu quốc tế D2 theo quy định” như vậy việc bị cáo khai không biết nên không khai báo là không căn cứ bởi bị cáo đã rất nhiều lần qua lại Camphuchia nên thủ tục xuất, nhập cảnh cũng như các thủ tục khác bị cáo phải biết vì các thủ tục này đã được niêm yết công khai theo quy định.
Còn việc bị cáo và luật sư bào chữa cho rằng khi đến khu vực Trạm kiểm soát liên ngành cửa khẩu quốc tế D2 (tại cộc mốc đầu tiên) thì bị cáo dừng xe lại, tắt máy dẫn bộ đi đến cách Trạm kiểm soát liên ngành còn khoảng 04 mét, bị cáo dừng lại thì anh D1 bước đến hỏi giấy tờ, bị cáo mới mở cốt xe để xuất trình giấy tờ do đó bị cáo chưa mang tiền qua biên giới. Hội đồng xét xử nhận thấy: Việc bị cáo mang tiền mặt vượt mức quy định vào khu vực kiểm soát liên ngành của Hải quan nhưng không khai báo là đã cấu thành tội phạm, bởi trước khi vào khu vực kiểm soát liên ngành thì bị cáo phải có nghĩa vụ khai báo còn đằng này bị cáo không khai báo và tới khi cán bộ hải quan thực hiện việc kiểm soát hỏi bị cáo thì bị cáo cũng trả lời là “không khai báo” đều đó cho thấy ý thức của bị cáo là cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Trong quá trình điều tra thì tại các lời khai nhận vào các ngày 22-7-2023 và ngày 29-11-2023 khi đó có luật sư tham gia bào chữa cho bị cáo thì bị cáo khai nhận là dự định khai báo chứ không phải không khai báo nhưng trong quá trình điều tra bổ sung và tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay bị cáo khai là không khai báo như vậy cho thấy bị cáo có hành vi khai báo không trung thực, cố ý che dấu hành vi vi phạm của mình.
Biết rằng, theo Công văn số 589/HQDB ngày 30-9-2024 của Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế D2 cung cấp thông tin thì: “...công chức hải quan thực hiện nhiệm vụ tại Trạm kiểm soát liên ngành cửa khẩu quốc tế D2 có thẩm quyền tiếp nhận khai báo, kiểm tra, kiểm soát phương tiện, hàng hóa xuất nhập khẩu qua Cửa khẩu quốc tế D2. Trường hợp cá nhân có nhu cầu khai báo mang tiền mặt khi xuất cảnh thì công chức hải quan thực hiện nhiệm vụ cung cấp mẫu tờ khai theo quy định...”. Tuy nhiên qua lời khai nhận của bị cáo cũng như người làm chứng anh Tống Văn D1 xác nhận: Khi anh D1 (công chức Chi cục Hải quan cửa khẩu D2) đi đến yêu cầu bị cáo L1 xuất trình giấy tờ để kiểm tra. Sau đó, L1 mở cốp xe mô tô lấy hộ chiếu tên Nguyễn Đức Duy L và giấy đăng ký xe mô tô để trình, thì lúc này anh Tống Văn D1 nhìn thấy trong cốp xe có 01 bọc nilon màu đen nên anh D1 hỏi bọc gì? L trả lời “bọc đựng tiền”, anh D1 hỏi sao không khai báo? L trả lời “không khai báo”. Như vậy, cho thấy việc bị cáo cố ý không thực hiện việc khai báo số tiền mang theo. Bị cáo không có nhu cầu khai báo nên anh D1 không hướng dẫn thủ tục khai báo theo quy định.
Tại phần tranh luận thì bị cáo L thừa nhận phạm tội “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới” như đại diện Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đây là vụ án “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới” do L thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.
Khi thực hiện hành vi vi phạm, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Hành vi vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới là xâm phạm đến hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế và tình hình an ninh trật tự tại khu vực biên giới Việt Nam – Campuchia. Từ những phân tích trên, đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo cấu thành tội “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới” theo khoản 1 Điều 189 Bộ luật hình sự.
Điều luật trên quy định:
“1. Người nào vận chuyển qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái pháp luật hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
[3] Về nhân thân; tình tiết tăng nặng; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo đã xâm phạm đến hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước về xuất khẩu, nhập khẩu và chính sách quản lý tiền tệ của Nhà nước. Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo. Xét, áp dụng mức hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Hình phạt bổ sung, bị cáo L bị áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền. Xét, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[4] Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước tiền Việt Nam 265.000.000đồng. Riêng số tiền 15.000.000đồng trả lại cho bị cáo L, đây là số tiền mặt mà bị cáo được phép mang theo khi xuất cảnh là phù hợp theo quy định nên chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát.
Tịch thu tiêu hủy: 01 túi nilon màu đen, kích thước 30 x 25cm và 01 túi nilon màu xanh, trên túi có chữ S, kích thước 30 x 25cm đã qua sử dụng.
Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 66F1 - 054.47, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave S, màu sơn: đỏ-đen-bạc, số máy: 52E - 4013475, số khung: 5211CY552840, đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 003667, ngày cấp 10/9/2011, nơi cấp: Công an huyện C, tỉnh Đồng Tháp cho chị Huỳnh Thị Thùy L1 đứng tên đăng ký, việc bị cáo L1 lấy trở tiền
qua C thì chị Thùy L1 không biết. Do đó, Cơ quan điều tra Công an huyện T đã trả lại xe mô tô cho chị L1 quản lý là phù hợp.
[5] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức Duy L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
[6] Xét thấy phát biểu luận tội về đề nghị mức hình phạt, xử lý vật chứng của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 189; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35, Điều 50 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Duy L phạm tội “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Duy L 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
T trả lại cho bị cáo L 15.000.000đồng đây là số tiền bị cáo được phép mang theo nhưng để đảm bảo thi hành án tiền phạt của bị cáo Nguyễn Đức Duy L nên tiếp tục tạm giữ số tiền 15.000.000đồng tại Kho bạc Nhà nước huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước tiền Việt Nam 265.000.000đồng. Hiện vật chứng Kho bạc Nhà nước huyện T đang quản lý (Tại biên bản giao nhận tài sản số 17/2023/BBGNTS ngày 17-7-2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện T và Kho bạc Nhà nước huyện T).
- Tịch thu tiêu hủy: 01 túi nilon màu đen, kích thước 30 x 25cm và 01 túi nilon màu xanh, trên túi có chữ S, kích thước 30 x 25cm đã qua sử dụng. Hiện vật chứng Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng đang quản lý (Tại biên bản giao nhận tài sản đề ngày 10-01-2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện T và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 12- 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Đức Duy L phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 30-5-2024).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Cư |
Bản án số 25/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới
- Số bản án: 25/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đề nghị truy tố của VKS
