(Mẫu số 27-HS (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2017/NQ-HĐTP))
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 25/2024/HS-ST Ngày 20/5/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lô Xuân Diệu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vi Anh Tú; Bà Lô Thị Hà.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tăng Thành Vương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Hoàng Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 12/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Vi Quốc T - Tên gọi khác: Không.
Sinh năm 1992, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Nơi cư trú: bản Liên Bận, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: lớp 10/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vi Văn M (Đã chết) và bà Vang Thị H ; Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2024 cho đến nay.
Có mặt.
-
Họ và tên: Sầm Văn L - Tên gọi khác: Không.
Sinh năm 1982, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Nơi cư trú: bản Hoa Tiến 2, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Sầm Văn P (Đã chết) và bà Sầm Thị V; Vợ: Sầm Thị H1 (Đã ly hôn), con: 02 người; Tiền án, tiền sự: Không Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/01/2024 cho đến nay.
Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Vi Quốc T và Sầm Văn L: Bà Nguyễn Thị Quỳnh T1 – Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N – Chi nhánh S1.
Có mặt.
- Người làm chứng: Sầm Văn T2, sinh năm 1977.
Nơi cư trú: bản Hoa Tiến 2, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 16/01/2024, tại khu vực bản T, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An, đội cảnh sát giao thông số C, công an tỉnh N kiểm tra hành chính đối với Vi Quốc T là người điều khiển xe máy biển kiểm soát 37G1-03328, quá trình kiểm tra đã phát hiện và thu giữ trong túi quần bên trái của Vi Quốc T 02 gói ni lon màu đen bên trong có chứa chất rắn màu trắng (Nghi là chất ma túy), đội cảnh sát giao thông số 3 đã lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng và tạm giữ phương tiện, đồng thời đưa về trụ sở Công an huyện Q và bàn giao người, tang vật và phương tiện cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q để điều tra xử lý theo thẩm quyền.
Tại cơ quan điều tra Vi Quốc T khai nhận: Là người nghiện chất ma túy, khoảng 11 giờ 30 phút ngày 16/01/2024 bị cáo đi xe máy biển kiểm soát 37G1-03328 đến khu vục bản Hoa tiến 2, xã C tìm mua ma túy để sử dụng, tại khu vực bản Hoa Tiến bị cáo đã gặp Sầm Văn L và hỏi mua ma túy (Hê rô in) thì được L bán cho 02 gói Hê rô in với số tiền 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy bị cáo bỏ ma túy trong túi quần bên trái và đi xe xuống thị trấn T, huyện Q, trên đường đi đến bản T, xã C thị bị cảnh sát giao thông yêu cầu dừng xe kiểm tra và quá trình kiểm tra đã phát hiện và thu giữ trong túi quần bên trái của bị cáo đang mặc 02 gói Hê rô in mà bị cáo mới mua với Sầm Văn L nên bị cáo bị bắt giữ.
Trong quá trình điều tra, ngày 25/01/2024 Sầm Văn L biết hành vi bán ma túy cho Vi Quốc T đã bị phát hiện nên đã chủ động đến cơ quan điều tra Công an huyện Q đầu thú và khai nhận: Sáng ngày 16/01/2024 bị cáo đến nhà anh trai là Sầm Văn T2 ở bản H, xã C, huyện Q và biết T2 có ma túy (Hê rô in) bán nên đã hỏi mua và được T2 bán cho 02 gói hê rô in với số tiền 100.000 đồng, được bọc bằng bao ni lon màu đen, mục đích là mua để bán kiếm lời. Sau khi mua được bị cáo đi về nhà và trên đường đi về thì gặp Vi Quốc T hỏi có biết chỗ nào bán ma túy hay không và lúc đó bị cáo có 02 gói ma túy mới mua được nên đã bán cho T được số tiền 200.000 đồng, sau khi bán ma túy cho T xong thì bị cáo đi về nhà và ngày hôm sau bị cáo biết T bị bắt nên ngày 25/01/2024 bị cáo đã đến Công an huyện Q đầu thú về hành vi phạm tội của mình.
Căn cứ vào lời khai của Sầm Văn L, Cơ quan điều tra Công an huyện Q đã ra lệnh khám xét người và chỗ ở đối với Sầm Văn T2. Thi hành lệnh khám xét đã phát hiện và thu giữ 01 gói chất rắn màu trắng (Nghi chất ma túy) ở cánh trái tủ tường của Sầm Văn T2. Quá trình điều tra Sầm Văn T2 khai nhận: Là người nghiện chất ma túy, ngày 21/01/2024 Sầm Văn T2 đi lên huyện Q, tỉnh Nghệ An mua ma túy (Hê rô in) về sử dụng, số ma túy mua được đã sử dụng gần hết, còn một ít gói bằng bao ni lon màu trắng và cất giữ trong tủ và ngày 25/01/2024 thì Công an huyện Q tiến hành khám xét và đã phát hiện và thu giữ. Sầm Văn T2 trong quá trình điều tra không thừa nhận có hành vi bán 02 gói ma túy cho Sầm Văn L vào ngày 16/01/2024 như bị cáo L đã khai.
Tại bản kết luận giám định số 193/KL- KTHS (Đ2-MT) ngày 23/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
Các mẫu chất rắn màu trắng (Ký hiệu M1, M2) thu giữ của Vi Quốc T gửi tới giám định là ma túy; loại Hê rô in. Số chất rắn màu trắng (02 gói) thu giữ của Vi Quốc T có tổng khối lượng là 0,2 gam.
Tại bản kết luận giám định số 233/KL- KTHS (Đ2-MT) ngày 30/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
- Mẫu chất rắn màu trắng thu giữ của Sầm Văn T2 gửi tới giám định là ma túy; loại Hê rô in. Số chất rắn màu trắng thu giữ của Sầm Văn T2 có khối lượng là 0,04 gam.
Cáo trạng số 30/CT-VKS - HS, ngày 11/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu truy tố các bị cáo: Vi Quốc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự. Sầm Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 251 của Bộ luật hình sự.
Hành vi của Sầm Văn T2 không cấu thành tội phạm. Cơ quan điều tra Công an huyện Q đã xử lý hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Ý kiến của kiểm sát viên tại phiên tòa: Giữ nguyên bản cáo trạng truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 50; điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Vi Quốc T từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ khoản 1 điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 50; điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Sầm Văn L từ 02 (Hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (S) tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
Các bị cáo điều kiện kinh tế khó khăn đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Vật chứng vụ án và biện pháp tư pháp: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 02 mảnh bao ni lon màu đen; 01 mảnh bao ni lon màu trắng và vỏ bao niêm phong cũ. Trả lại cho bị cáo Vi Quốc T 01 (Một) xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, biển kiểm soát 37G1-03328. Tịch thu tại bị cáo Sầm Văn L số tiền thu lợi bất chính 200.000 đồng để sung nộp vào ngân sách nhà nước.
- Án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Ý kiến của gười bào chữa: Nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ về hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội cải tạo tốt để sớm trở về với gia đình, cộng đồng bởi: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, các bị cáo sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn nên đã hạn chế nhất định về pháp luật, khối lượng chất ma túy tàng trữ để sử dụng ở mức khởi điểm của khung hình phạt. Đối với bị cáo Sầm Văn L có bố đẻ là người có công với nhà nước và được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì, khi bị cáo biết hành vi bán ma túy cho Vi Quốc T bị phát hiện nên bị cáo đã chủ động đến đầu thú tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự. Đề nghị:
Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điều 38 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Vi Quốc T mức khởi điểm của khung hình phạt là 01 (Một) năm tù.
Căn cứ khoản 1 điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 38 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Sầm Văn L mức khởi điểm cả khung hình phạt là 02 (Hai) năm tù.
Bị cáo điều kiện kinh tế khó khăn đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xử lý vật chứng và án phí nhất trí với đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
- Ý kiến của các bị cáo: Các bị cáo không tranh luận. Các bị cáo đề nghị được hưởng mức hình phạt thấp nhất để các bị cáo cải tạo tốt để sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên thu thập, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác cung cấp đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ai có khiếu nại về hành vi tiến hành tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên và kiểm sát viên.
Về sự có mặt của người làm chứng: Tại phiên tòa người làm chứng Sầm Văn T2 vắng mặt. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai của Sầm Văn T2 và tiến hành đối chất giữa Sầm Văn T2 và bị cáo Sầm Văn L. Việc Sầm Văn T2 vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án. Căn cứ điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt người làm chứng.
[2] Về nội dung:
Căn cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo Vi Quốc T khai nhận: Bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy nên trưa ngày 16/01/2024 bị cáo đi xe máy đến bản Hoa Tiến 2, xã C để tìm mua ma túy để sử dụng, khi đến nơi thì gặp Sầm Văn L, do quen biết nhau nên đã hỏi L có biết chỗ nào bán ma túy nhờ mua giúp, lúc đó L có ma túy nên đã bán cho bị cáo 02 gói Hê rô in được bọc bằng bao ni lon màu đen với số tiền là 200.000 đồng. Sau khi mua được bị cáo không về nhà mà đi xe xuống thị trấn T, huyện Q có công việc, trên đường đi đến bản T, xã C thì bị lực lượng cảnh sát giao thông công an tỉnh N kiểm tra phát hiện bị cáo tàng trữ 02 gói Hê rô in mới mua với Sầm Văn L để trong túi quần bên trái đang mặc nên bị cáo bị bắt giữ. Ngoài thu giữ hê rô in bị cáo còn bị thu giữ chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, biển kiểm soát 37G1-03328. Số Hê rô in bị thu giữ là bị cáo mua nhằm mục đích để sử dụng cho
bản thân. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị cáo Sầm Văn L và vật chứng đã thu giữ được và phù hợp kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh N. Khối lượng chất ma túy (Hê rô in) bị cáo tàng trữ 0,2 gam. Hành vi trên của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Sầm Văn L khai nhận: Trưa ngày 16/01/2024, bị cáo đến nhà anh trai là Sầm Văn T2, tại đây biết T2 có Hê rô in bán nên bị cáo đã mua với Sầm Văn T2 02 gói Hê rô in được bọc bằng bao ni lon màu đen với số tiền 100.000 đồng, mục đích của bị cáo mua để bán lại kếm lời. Sau khi mua được bị cáo bỏ trong túi quần và đi về, trên đường về thì gặp Vi Quốc T và tài hỏi có biết nơi nào bán ma túy hay không, lúc đó bị cáo đang có 02 gói ma túy mới mua với Thăng nên đã bán cho T với số tiền 200.000 đồng, sau khi bán xong thì bị cáo đi về nhà, đến ngày hôm sau biết được T đã bị bắt nên ngày 25/01/2024 bị cáo đã đến đầu thú tại Công an huyện Q và khai nhận về hành vi phạm tội của mình, số tiền bị cáo bán ma túy mà có bị cáo đã chi tiêu hết. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị cáo Vi Quốc T. Hành vi trên của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo đã bán cho Vi Quốc T là 0,2 gam Hê rô in. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 điều 251 của Bộ luật hình sự.
Đối với hành vi của Sầm Văn T2, theo lời khai của Sầm Văn L là số Hê rô in bị cáo bán cho Vi Quốc T là do bị cáo mua với Sầm Văn T2, tuy nhiên trong quá trình điều tra Sầm Văn T2 không thừa nhận đã bán 02 gói Hê rô in cho Sầm Văn L như lời khai của bị cáo L, khối lượng chất ma túy thu giữ tại Sầm Văn T2 có nguồn gốc là do T2 là người nghiện nên đã lên huyện Q tỉnh Nghệ An mua vào ngày 21/01/2024 về để sử dụng, bị cáo đã sử dụng gần hết còn một ít cất dấu ở nhà để dùng thì Công an huyện Q khám xét đã thu giữ được, có khối lượng là 0,04 gam Hê rô in. Theo lời khai của Sầm Văn L thì khi mua bán ma túy giữa Sầm Văn T2 và Sầm Văn L là chỉ có hai người không có ai chứng kiến, ngoài lời khai của Sầm Văn L cũng không có tài liệu chứng cứ nào khác chứng mình là Sầm Văn T2 đã bán ma túy cho bị cáo L. Do đó không có căn chứng minh Sầm Văn T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Hành vi Tàng trữ trái phép 0,04 gam hê rô in của Sầm Văn T2 không cấu thành tội phạm. Cơ quan điều tra Công an huyện Q đã xử lý hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đúng quy định. Do đó không xem xét.
Như vậy cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ.
- Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và vai trò của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội độc lập với nhau.
- Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo Sầm Văn L biết hành vi phạm tội của mình đã bị phát hiện nên đã chủ động đến đầu thú tại cơ quan điều tra, có bố là người có công với nhà nước được nhà nược tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì. Do đó khi quyết định hình phạt xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 điều 249 và điều 251 của Bộ luật hình sự quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên các bị cáo điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[3] Vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra đã thu giữ 0,2 gam hê rô in của bị cáo Vi Quốc T, quá trình điều tra đã trích lấy mẫu giám định hết. Thu giữ 0,04 gam Hê rô in của Sầm Văn T2, quá trình điều tra đã trích lấy mẫu giám định hết. Các mảnh bao ni lon và vỏ bao niêm phong cũ, đây là vật không có giá trị sử dụng. Thu giữ của bị cáo Vi Quốc T 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS biển kiểm soát 37G1-03328, đây là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo không phải là công cụ, phương tiện phạm tội. Căn cứ điều 47 của Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy các vật không có giá trị sử dụng. Trả lại chiếc xe máy cho bị cáo Vi Quốc T.
[4] Biện pháp tư pháp: Bị cáo Sầm Văn L thực hiện hành vi phạm tội đã thu lợi bất chính 200.000 đồng, trong quá trình điều tra không thu giữ được số tiền trên. Căn cứ điều 47 của Bộ luật hình sự. Tịch thu tại bị cáo để sung nộp ngân sách nhà nước.
[5] Án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- - Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 50; điều 38 của Bộ luật hình sự . Xử phạt: Vi Quốc Tài 01 (Một) năm tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy . Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/01/2024.
- - Căn cứ khoản 1 điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 50; điều 38 của Bộ luật hình sự . Xử phạt: Sầm Văn L 02 (H2) năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy . Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 25/01/2024.
- - Vật chứng vụ án và biện pháp tư pháp: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 02 mảnh bao ni lon màu đen, 01 mảnh bao ni lon màu trắng và vỏ bao niêm phong cũ. Trả lại cho bị cáo Vi Quốc T 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS biển kiểm soát 37G1-03328. Chi tiết các vật chứng được mô tả tại Quyết định chuyển vật chứng số: 26/QĐ-VKS ngày 11/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu và biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Q và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu lập ngày 11/4/2024.
- Tịch thu tại bị cáo Sầm Văn L số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) để sung nộp Ngân sách nhà nước.
- - Án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị
cáo Vi Quốc T và Sầm Văn L mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lô Xuân Diệu |
7
Bản án số 25/2024/HS-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 25/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi Quốc Tài và Sầm Văn Luận - TT,MB trái phép chất ma túy