TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 19 - 8 - 2024
V/v: “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH
-
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Học và bà Mai Thanh Huyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Tuyết Mai - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
Trong ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 35/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20a/2024/QĐST-HNGĐ ngày 01/8/2024; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị L, sinh năm 1994;
- Bị đơn: Anh Ngô Hữu T, sinh năm 1994;
Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Địa chỉ nơi cư trú: Thôn Đ, xã C, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn chị Lê Thị L trong đơn khởi kiện đề ngày 28/3/2024, bản tự khai ngày 26/4/2024 và tại phiên tòa trình bày: Chị Lê Thị L và anh Ngô Hữu T kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 30/5/2023. Sau kết hôn vợ chồng chung sống với nhau được khoảng 07 tháng thì bắt đầu sống ly thân vào đầu tháng 01 năm 2024 đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh T ngoại tình, mâu thuẫn kinh tế, hai vợ chồng cãi vã và chồng bỏ đi trong lúc vợ bệnh nặng đang điều trị tại bệnh viện T1. Vợ chồng và hai bên gia đình đều không muốn hòa giải. Nay chị Lê Thị L xác định hiện tại tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn anh Ngô Hữu T.
Về con chung: Chị L trình bày chị và anh T không có con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Ngô Hữu T dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Ngô Hữu T vẫn không đến Tòa án để giải quyết vụ việc, không có văn bản nêu ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của chị L, mặc dù anh T đang làm ăn sinh sống tại Thôn Đ, xã C, huyện L, tỉnh Quảng Bình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị L xin ly hôn anh Ngô Hữu T là tranh chấp về hôn nhân và gia đình về ly hôn, được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.
[2] Việc vắng mặt của bị đơn anh Ngô Hữu T tại phiên tòa lần thứ hai không phải vì trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về hôn nhân: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và trình bày của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa thì chị Lê Thị L và anh Ngô Hữu T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 30/5/2023, nên hôn nhân của chị Lê Thị L và anh Ngô Hữu T là hợp pháp.
[4] Về mâu thuẫn: Theo trình bày của nguyên đơn chị Lê Thị L trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, thì sau kết hôn vợ chồng chung sống với nhau được khoảng 07 tháng thì bắt đầu sống ly thân từ đầu tháng 01 năm 2024 đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh T ngoại tình, mâu thuẫn kinh tế, hai vợ chồng cãi vã và chồng bỏ đi trong lúc vợ bệnh nặng đang điều trị tại bệnh viện T1. Vợ chồng và hai bên gia đình đều không muốn hòa giải. Hiện tại hai người không có tình cảm, không còn quan tâm nhau. Tại phiên tòa, chị Lê Thị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu được ly hôn anh Ngô Hữu T.
[5] Qua xem xét, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Lê Thị L và anh Ngô Hữu T xảy ra trong một thời dài không thể hàn gắn được, nguyên nhân theo chị Lê Thị L là do tính tình hai người không hợp nhau, thường xuyên xảy ra cãi vã, vợ chồng không còn tin tưởng nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng không quan tâm đến nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện tại, anh T đang cư trú, sinh sống tại thôn Đ, xã C, huyện L, tỉnh Quảng Bình, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến làm việc, nhưng anh T vẫn không đến Tòa án để Tòa án hòa giải động viên vợ chồng trở lại đoàn tụ. Tại phiên tòa lần thứ hai hôm nay, dù đã được triệu tập hợp lệ, nhưng anh T vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, chứng tỏ anh T cũng không tha thiết gì đến việc hàn gắn xây dựng hạnh phúc gia đình, có ý bỏ mặc. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị L, xử cho chị Lê Thị L ly hôn anh Ngô Hữu T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[6] Về nuôi con chung: Theo chị Lê Thị L trình bày, trong thời gian chung sống, chị L và anh T không có con chung, anh T không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về tài sản chung, nợ chung: Theo chị Lê Thị L trình bày thì trong thời gian chung sống chị L và anh T không có tài sản chung và nợ chung, chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh T không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7] Về án phí: Nguyên đơn chị Lê Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 264, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Q ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị L.
- Xử cho chị Lê Thị L ly hôn anh Ngô Hữu T.
- Án phí: Nguyên đơn chị Lê Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình theo biên lai 0004334 ngày 28/3/2024 (chị Lê Thị L đã nộp đủ án phí). Bị đơn anh Ngô Hữu T không phải chịu án phí.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Lê Thị L có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 01/8/2024); bị đơn anh Ngô Hữu T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ cho bị đơn theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thanh Hải |
Bản án số 25/2024/HNGĐ-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH về ly hôn
- Số bản án: 25/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bản án ly hôn
