|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ TỈNH ĐĂK LĂK Bản án số: 25/2024/HS-ST Ngày: 19 - 7 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Bá Nhất
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trương Đình Ry
- Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hải
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yến - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024 tại Phòng xử án - Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2024/TLST-HS, ngày 01 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: H'Mon Buôn K, sinh ngày 14 tháng 01 năm 1986 tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Buôn D, phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá 10/12; dân tộc: Ê Đê; giới tính: Nữ; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Y Klô N, sinh năm 1964 (Đã chết) và con bà H'Bhữ Buôn K1, sinh năm 1957; có chồng Y' No Ktla, sinh năm 1982 và có 02 người con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2019.
Tiền án: Không
Tiền sự: Ngày 02 tháng 7 năm 2023 có hành vi Trộm cắp tài sản, bị Công an xã B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng (Quyết định xử phạt số: 05/QĐ-XPHC, ngày 09 tháng 7 năm 2023). Đã chấp hành xong hình phạt tiền tại Quyết định nêu trên.
Bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26 tháng 02 năm 2024 cho đến nay. Có mặt.
2. Họ và tên: H'Maih Niê, sinh ngày 05 tháng 5 năm 1993 tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá 8/12; dân tộc: Ê Đê; giới tính: Nữ; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Y Ữ Bkrông, sinh năm 1956 (Đã chết) và con bà H' Yưp Niê, sinh năm 1965; có chồng Nguyễn Đình H1, sinh năm 1988 và có 01 người con sinh năm 2016.
Tiền án: Không
Tiền sự: Ngày 02 tháng 7 năm 2023 có hành vi Trộm cắp tài sản, bị Công an xã B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng (Quyết định xử phạt số: 06/QĐ-XPHC, ngày 09 tháng 7 năm 2023). Đã chấp hành xong hình phạt tiền tại Quyết định nêu trên.
Bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26 tháng 02 năm 2024 cho đến nay. Có mặt.
3. Họ và tên: H Nă Buôn K2, sinh ngày 28 tháng 02 năm 2000 tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Buôn D, phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá 6/12; dân tộc: Ê Đê; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Y Klô N, sinh năm 1964 (Đã chết) và con bà H'Bhữ Buôn K1, sinh năm 1957; có chồng Y' Pin Bkrông, sinh năm 1992 và có 02 người con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2019.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26 tháng 02 năm 2024 cho đến nay. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo H Não Buôn Krông là bà H Men M – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ. Có mặt.
Địa chỉ: Số C L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk
Bị hại: Ông Trần Hữu Vạn P, sinh năm 1967. Địa chỉ: Thôn B, xã B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Y' Pin Bkrông, sinh năm 1992. Địa chỉ: Buôn D, phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt
- Bà Bùi Thị S, sinh năm 1976. Địa chỉ: Thôn Đ, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
Người làm chứng:
- Ông Hoàng Văn P1, sinh năm 1986. Địa chỉ: Thôn G, xã E, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt
- Bà Trần Thị Mỹ P2, sinh năm 1975. Địa chỉ: Thôn B, xã B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để có tiền tiêu xài cá nhân nên H2 rủ H Não và H3 đi trộm cắp tài sản thì cả hai đồng ý. Vào sáng ngày 19 tháng 12 năm 2023, H2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 6055-9002 mang theo 02 bao xác rắn và 01 cái rổ nhựa, H3 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47C1-406.58 chở theo H Não mang theo 04 bao xác rắn và 02 cái rổ nhựa đi từ nhà đến khu vực thôn B, xã B, T Buôn Hồ tìm rẫy cà phê của người dân không có người trông coi để trộm cắp tài sản. Khi đi ngang qua rẫy cà phê của ông Trần Hữu Vạn P3, thấy không có người trông coi nên cả ba đi vào hái trộm cà phê đã đến thời kỳ thu hoạch. Các bị cáo dùng rổ nhựa để hái cà phê rồi đổ vào các bao xác rắn đã mang theo. Đến khoảng 13 giờ 30 cùng ngày, các bị cáo hái được 03 bao cà phê tươi, thấy bao đã đầy nên cả ba ngừng hái rồi vác 03 bao cà phê ra chỗ để xe. Sau đó, H2 chở H Não cùng 01 bao cà phê, H3 chở 02 bao cà phê đi tìm nơi tiêu thụ, khi đang trên đường chở cà phê trộm cắp được đi tiêu thụ thì H’Mon và H Não bị người dân phát hiện giữ lại và giao cho cơ quan Công an, còn H3 điều khiển xe mô tô chở theo 02 bao cà phê bỏ chạy. Đến ngày 20 tháng 12 năm 2023, H’Maih đến Công an xã B trình diện và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình.
Các bị cáo khai nhận hành vi đã thực hiện của mình như đã nêu trên. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nội dung quyết định truy tố và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 02/KL-HĐĐGTS ngày 05 tháng 01 năm 2024, của Hội đồng định giá tài sản 3422 Ủy ban Nhân dân thị xã B, kết luận: Giá trị của 182,1 kilogram quả cà phê tươi còn nguyên vỏ, thời điểm định giá ngày 19 tháng 12 năm 2023 có giá: 2.731.500 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 10/KL-HĐĐGTS, ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản 3422 Ủy ban nhân dân thị xã B, kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE, biển số 47C1-406.58 màu sơn trắng đen bạc tại thời điểm định giá ngày 19 tháng 12 năm 2023 có giá 12.460.000 đồng.
Kết luận giám định số: 668/KL-KTHS, ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Phòng K3 Công an tỉnh Đ, kết luận: 01 chiếc xe mô tô có số khung VFCDCG012FC001820 không thay đổi, số máy 1P50FMG310350554 không thay đổi, biển số 60S5- 9002 là biển số thật.
Tại Kết luận giám định số: 959/KL-KTHS ngày 13 tháng 5 năm 2024 của Phòng K3 Công an tỉnh Đ, kết luận: Không đủ cơ sở để kết luận chữ ký mang tên Bùi Thị S trên các tài liệu mẫu cần giám định (Ký hiệu A1, A2) so với chữ ký mang tên Bùi Thị S trên tài liệu so sánh (Ký hiệu M) có phải do cùng một người ký ra không. Chữ viết Bùi Thị S ở phần dưới chữ ký trên các tài liệu mẫu cần giám định (Ký hiệu A1, A2) so với chữ viết “Bùi Thị S” ở phần dưới chữ ký trên các tài liệu mẫu so sánh do cùng một người viết ra.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại không có ý kiến gì hay khiếu nại gì về Kết luận định giá tài sản.
Tại bản Cáo trạng số: 24/CT- VKSBH, ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ truy tố để xét xử đối với các bị cáo H'Mon Buôn K, H'Maih N1 và H Não Buôn K2, về tội: “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đánh giá về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo và xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Các bị cáo H'Mon Buôn K, H'Maih N1 và H Não Buôn Krông phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm h, s, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo H2 Buôn Krông từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm h, s, i, n khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo H'Maih N1 từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm h, s, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo H Não Buôn Krông từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách bằng hai lần mức án đã tuyên.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B đã thu giữ 182,1 kg cà phê tươi còn nguyên vỏ là tang vật của vụ án. Đây là tài sản hợp pháp của ông Trần Hữu Vạn P3, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông P3 là chủ sỡ hữu.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE, biển số 47C1-406.58 màu sơn trắng đen bạc là phương tiện H Não sử dụng thực hiện hành vi phạm tội. Chiếc xe trên là tài sản chung của H Não và chồng là anh Y'Pin B. Việc H N2 sử dụng chiếc xe trên để đi trộm cắp thì anh Y1 không biết. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu ½ giá trị chiếc xe trên tương ứng với số tiền 6.230.000 đồng (Sáu triệu, hai trăm ba mươi nghìn đồng).
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu MINGXING, màu sơn nâu, biển số 60S5-9002 là phương tiện H2 sử dụng thực hiện hành vi phạm tội. Chiếc xe trên H’Mon khai nhận do một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch ở tỉnh Đồng Nai đưa cho bị cáo sử dụng, để trả tiền công phụ hồ. Qua xác minh trên hệ thống đăng ký xe mô tô xác định người đứng tên chủ sỡ hữu là bà Bùi Thị S, sinh năm 1976, trú tại thôn Đ, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Tuy nhiên, quá trình làm việc bà S khai nhận không mua và cũng không đứng tên sỡ hữu đối với chiếc xe trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B đã tiến hành thu thập hồ sơ mua bán xe và tiến hành trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của bà S. Qua giám định xác định chữ viết trên hồ sơ mua bán xe do bà Bùi Thị S viết ra. Tuy nhiên, bà S từ chối là chủ sỡ hữu hợp pháp của xe mô tô 6055-9002 và đề nghị cơ quan chức năng xử lý theo quy định. Xác minh trên hệ thống truy tìm tang vật của Bộ C xác định chiếc xe trên không thuộc vật chứng của vụ án, tố giác, tin báo tội phạm nào, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, sung công quỹ nhà nước.
- Đối với 03 cái rổ nhựa và 06 cái bao xác rắn là công cụ các đối tượng sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp. Hiện đã cũ và không còn giá trị sử dụng, nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, tiêu hủy.
Về phần dân sự: Bị hại ông Trần Hữu Vạn P3 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về mặt dân sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố và cũng không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 19 tháng 12 năm 2023, tại rẫy cà phê thuộc thôn B, xã B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Các bị cáo H'Mon Buôn K, H Não Buôn Krông và H'Maih N1 đã có hành vi lén lút trộm cắp 182,1 kg cà phê quả tươi của ông Trần Hữu Vạn P3, giá trị tài sản chiếm đoạt được xác định 2.731.500 đồng (Hai triệu, bảy trăm ba mươi mốt nghìn, năm trăm đồng)
Theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong cácáctrường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
Như vậy, hành vi đã thực hiện nêu trên của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo là có căn cứ pháp luật. Tuy nhiên, mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với các bị cáo có phần nghiêm khắc so hành vi phạm tội của các bị cáo. Vì vậy, cần xem xét áp dụng mức hình nhẹ hơn cho các bị cáo.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, tính chất hành vi, mức độ, vai trò tham gia phạm tội cũng như hậu quả mỗi bị cáo gây ra là khác nhau. Vì vậy, cần phân tích đánh giá cụ thể hành vi của từng bị cáo tham gia vào việc phạm tội để việc quyết định hình phạt được chính xác.
Đối với bị cáo H2, là người rủ rê các bị cáo H3 và H Não tham gia phạm tội. Bị cáo là người giữ vai trò chính trong vụ án.
Đối với các bị cáo H3 và H N2 là người tích cực thực hiện hành vi phạm tội khi được rủ rê trộm cắp tài sản.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ngoài việc xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ còn gây mất ổn định về an ninh, trật tự tại địa phương, làm cho người dân hoang mang, lo lắng; các bị cáo H2 và H3 đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản mà tính đến ngày phạm tội lần này vẫn trong thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Vì vậy, cần cách ly các bị cáo H2, H3 ra ngoài đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân biết tôn trọng pháp luật đồng thời phát huy tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo H3 phạm tội là phụ nữ có thai và sau khi phạm tội đã đến Công an xã B trình diện đầu thú; bị cáo H Não thuộc diện hộ nghèo của địa phương và nhân thân tốt. các bị cáo là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm h, s, i, n khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần được xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo, để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Thiết nghĩ, cũng không cần phải cách ly bị cáo H Não ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần để bị cáo cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B đã thu giữ 182,1 kg cà phê tươi còn nguyên vỏ là tang vật của vụ án. Đây là tài sản hợp pháp của ông Trần Hữu Vạn P3, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông P3 là chủ sỡ hữu là có căn cứ pháp luật.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE, biển số 47C1-406.58 màu sơn trắng đen bạc là phương tiện H Não sử dụng thực hiện hành vi phạm tội. Chiếc xe trên là tài sản chung của bị can H Não và chồng là anh Y'Pin B. Việc bị cáo H N3 sử dụng chiếc xe trên để đi trộm cắp thì anh Y1 không biết. Do đó, cần tiếp tục tạm giữ chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE, biển số 47C1-406.58 màu sơn trắng đen bạc là phương tiện bị cáo H Não Buôn Krông sử dụng thực hiện hành vi phạm tội nhằm đảm bảo cho việc thi hành án. Cần tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước ½ giá trị chiếc xe trên tương ứng với số tiền 6.230.000 đồng (Sáu triệu, hai trăm ba mươi nghìn đồng).
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu MINGXING, màu sơn nâu, biển số 60S5-9002, có số khung VFCDCG012FC001820, số máy 1P50FMG310350554 là phương tiện H’Mon sử dụng thực hiện hành vi phạm tội. Chiếc xe trên bị cáo H2 khai nhận do một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch ở tỉnh Đồng Nai đưa cho bị cáo sử dụng, để trả tiền công phụ hồ. Qua xác minh trên hệ thống đăng ký xe mô tô xác định người đứng tên chủ sỡ hữu là bà Bùi Thị S, sinh năm 1976, trú tại thôn Đ, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Tuy nhiên, quá trình làm việc bà S khai nhận không mua và cũng không đứng tên sỡ hữu đối với chiếc xe trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B đã tiến hành thu thập hồ sơ mua bán xe và tiến hành trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của bà S. Qua giám định xác định chữ viết trên hồ sơ mua bán xe do bà Bùi Thị S viết ra. Tuy nhiên, bà S từ chối là chủ sỡ hữu hợp pháp của xe mô tô 60S5-9002 và đề nghị cơ quan chức năng xử lý theo quy định. Xác minh trên hệ thống truy tìm tang vật của Bộ C xác định chiếc xe trên không thuộc vật chứng của vụ án, tố giác, tin báo tội phạm nào, vì vậy cần tuyên tịch thu, sung công quỹ nhà nước.
- Đối với 03 cái rổ nhựa và 06 cái bao xác rắn là công cụ các đối tượng sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp. Hiện đã cũ và không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu, tiêu hủy.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Trần Hữu Vạn P3 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về mặt dân sự nên không xem xét giải quyết.
[7] Về án phí: Cần buộc các bị cáo H2 Buôn Krông và H'Maih N1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Gia đình bị cáo H Não Buôn Krông thuộc hộ nghèo, nên cần miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm sơ cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo H'Mon Buôn K, H'Maih N1 và H Não Buôn Krông phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, các điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo H2 Buôn Krông 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, các điểm h, i, s, n khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo H'Maih N1 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo H Não Buôn Krông 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
- Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thị xã B nhận được quyết định thi hành án.
- Trong thời gian cải tạo không giam giữ, giao bị cáo H N3 Buôn Krông cho Ủy ban nhân dân phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 182,1 kg cà phê tươi còn nguyên vỏ là tang vật của vụ án cho ông Trần Hữu Vạn P3 là chủ sỡ hữu.
- Tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước ½ giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE, biển số 47C1-406.58 màu sơn trắng đen bạc, số khung RLHJA3928MY133796, số máy JA39E2551108 là phương tiện bị cáo H Não Buôn Krông sử dụng thực hiện hành vi phạm tội tương ứng với số tiền 6.230.000 đồng (Sáu triệu, hai trăm ba mươi nghìn đồng). Tiếp tục tạm giữ chiếc xe mô tô nêu trên nhằm đảm bảo cho việc thi hành án.
- Tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước chiếc xe mô tô nhãn hiệu MINGXING, màu sơn nâu, biển số 60S5-9002, số khung VFCDCG012FC001820, số máy 1P50FMG310350554 là phương tiện H’Mon sử dụng thực hiện hành vi phạm tội.
- Tịch thu tiêu hủy 03 (Ba) cái rổ nhựa (01 cái màu trắng, 02 cái màu đỏ) và 06 (Sáu) cái bao xác rắn (03 cái màu trắng, 03 cái màu đỏ) là công cụ sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội hiện không còn giá trị sử dụng.
(Đặc điểm các vật chứng được mô tả tại biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lưu tại hồ sơ vụ án)
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Trần Hữu Vạn P3 đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo H'Mon Buôn K, H'Maih N1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo H Não Buôn Krông
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bá Nhất |
Bản án số 25/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐĂK LĂK về hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 25/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐĂK LĂK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo H' M B và đồng phạm bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản
