|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ - TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2024/HS - ST Ngày: 19/07/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ - TỈNH NINH BÌNH.
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Cung, bà Trần Thị Mão
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Minh Thư - Thư ký
Toà án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô tham gia phiên toà: Bà
Trịnh Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm- Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình và điểm cầu thành phần- Trại tam giam Công an tỉnh N sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 22/2024/TLST - HS, ngày 30 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Hoàng Trọng K, sinh năm: 1990, tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: xóm A, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn M và bà Ngô Thị T; chưa có vợ con; tiền án: Ngày 21/4/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” (bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/5/2024).
Tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/5/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N (có mặt).
Bị hại: Anh Bùi Văn T1, sinh năm 1992 (có mặt)
Trú tại: thôn M, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình.
Anh Tạ Văn T2, sinh năm 1989 (vắng mặt)
Trú tại: thôn V, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Chị Vũ Thị Bích T3, sinh năm 1989 (vắng mặt)
Trú tại: xóm I, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Trọng K là người có 01 tiền án về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Trong quá trình chờ thi hành án và làm thủ tục hoãn thi hành Bản án số 337/2022/HSPT ngày 21/4/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội: Thông qua chị Vũ Thị Bích T3, sinh năm 1989 trú tại xóm I, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, Hoàng Trọng K quen biết với anh Bùi Văn T1, sinh năm 1992 trú tại thôn M, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình là người đang có nhu cầu chuyển đổi đất 313 sang đất ở lâu dài. Mặc dù không quen biết ai và không có khả năng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nhưng K đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của anh T1 để ăn tiêu dưới hình thức đưa ra những thông tin gian dối có các mối quan hệ quen biết có khả năng để chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp (gọi là đất 313) sang đất ở lâu dài nên anh T1 đã tin tưởng thông tin của Hoàng Trọng K đưa ra là thật.
Trong thời điểm từ ngày 17 tháng 05 năm 2022 đến ngày 13 tháng 12 năm 2022, Hoàng Trọng K đã 02 lần dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tiền của anh Bùi Văn T1, anh Tạ Văn T2, cụ thể như sau:
Lần thứ 1: Do có nhu cầu muốn bán mảnh đất vườn diện tích 607m² ở thôn V, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình nên anh Bùi Văn T1 đã liên lạc và gặp chị Vũ Thị Bích T3 là bạn bè quen biết với nhau để nói chuyện tìm người mua mảnh đất trên. Đến đầu năm 2022, chị T3 liên hệ với anh T1 để mua mảnh đất trên thì anh T1 đồng ý bán với giá 500.000.000đồng. Sau đó chị Vũ Thị Bích T3 đã thống nhất với Hoàng Trọng K (là cháu họ) đang làm chung vốn kinh doanh hồ câu cá tại xã Y, huyện Y góp tiền để mua mảnh đất của anh T1. Ngày 15/05/2022, chị T3 và anh T1 đã sử dụng điện thoại di động để liên lạc hẹn gặp nhau tại quán nước gần trường THPT Y A thuộc địa phận xã K, huyện Y để nói chuyện về việc mua bán mảnh đất trên, chị T3 đi cùng với K đến gặp anh T1.
Quá trình nói chuyện về việc mua bán mảnh đất giữa chị Vũ Thị Bích T3 với anh Bùi Văn T1, K biết được anh T1 đang có 1 mảnh đất khác ở gần nhà của gia đình bố, mẹ anh T1 đang có nhu cầu chuyển từ đất 313 sang đất thổ cư. Lúc này, K nảy sinh ý định dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tiền của anh T1. Để thực hiện ý định của mình, K nói với chị T3 về việc có các mối quan hệ có thể làm được thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất, do không biết mục đích của K nên chị T3 tưởng là thật. Lúc này anh T1 nghe thấy K và chị T3 nói chuyện nên đã nói với K bản thân đang có nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất đối với thửa đất diện tích 423,7m² đứng tên bố mẹ anh T1 ở A, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình sang đất ở lâu dài. Để tạo niềm tin với anh T1, K đã đưa ra
thông tin gian dối việc mình đã làm được thủ tục chuyển đổi đất cho một trường hợp ở tỉnh Nghệ An và thành phố T, tỉnh Ninh Bình. K nói với anh T1 cung cấp thông tin mảnh đất để K hỏi xem có chuyển đổi quyền sử dụng đất được không rồi sẽ thông báo chi phí lại cho anh T1, việc trao đổi chuyển mục đích sử dụng đất, hai bên thống nhất thông qua chị T3 vì anh T1 chỉ quen biết chị T3. Do tin tưởng nên anh T1 và chị T3 đã đồng ý, sau đó khoảng 2 ngày, anh Bùi Văn T1 phô tô công chứng giấy tờ thửa đất nêu trên đưa cho chị T3 nhờ đưa lại cho K. Ngày 17/5/2022, K nói với chị T3 chi phí làm được bìa đỏ để chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho anh T1 là 140.000.000 đồng và bảo chị T3 gọi điện thông báo cho anh T1, yêu cầu đặt cọc trước 10.000.000 đồng để làm hồ sơ. Ngay sau đó, chị T3 gọi điện cho anh T1 nói lại nội dung như trên, anh T1 đồng ý và bảo chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng của chị T3 để chị T3 chuyển khoản lại cho K vì anh T1 không quen biết K.
Trong thời điểm từ ngày 17/5/2022 đến ngày 24/5/2022, anh Bùi Văn T1 đã 03 lần chuyền tiền cho Hoàng Trọng K thông qua tài khoản ngân hàng của chị Vũ Thị Bích T3 với tổng số tiền 110.000.000 đồng, cụ thể:
- + Ngày 17/5/2022, anh T1 sử dụng tài khoản ngân hàng T4 số 19030876116021 mang tên Bùi Văn T1 chuyển số tiền 10.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng T4 số 19033091450018 mang tên chị Vũ Thị Bích T3.
- + Ngày 18/5/2022, K nói với chị T3 bảo anh T1 tiếp tục gửi số tiền 60.000.000 đồng để K làm hồ sơ bìa đất cho anh T1. Sau khi chị T3 thông báo, anh T1 sử dụng tài khoản ngân hàng của mình chuyển số tiền 60.000.000 đồng cho Hoàng Trọng K thông qua tài khoản ngân hàng của chị T3.
- + Ngày 24/5/2022, K tiếp tục thông qua chị T3 để bảo anh T1 chuyển cho K số tiền 40.000.000 đồng để làm hồ sơ bìa đất thì anh T1 đồng ý sử dụng tài khoản ngân hàng của mình chuyển số tiền 40.000.000 đồng cho Hoàng Trọng K thông qua tải khoản ngân hàng của chị T3.
Sau khi nhận được số tiền trên của anh Bùi Văn T1 chuyển đến, chị Vũ Thị Bích T3 đã chuyển cho Hoàng Trọng K số tiền 110.000.000 đồng làm nhiều lần bằng tiền mặt và chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng T4 của chị T3 đến tài khoản ngân hàng T5 VIB số 027704060098186 của Hoàng Trọng K. Anh T1 sử dụng số điện thoại 0961.523.xxx gọi đến điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 5, lắp sim số 0763.002.684 của Hoàng Trọng K để hỏi thì K nói dối anh T1 sau khoảng 02 tháng làm được bìa đỏ mới đối với thửa đất trên. Đến thời điểm K hẹn anh T1 đã một số lần gọi điện để hỏi nhưng K đã nói dối anh T1 đang chờ cấp trên phê duyệt hồ sơ.
Sau khi nhận tiền và hồ sơ của anh T1, Hoàng Trọng K không nhờ ai làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho anh T1 mà vứt hồ sơ đi còn số tiền 110.000.000 đồng, K đã ăn tiêu cá nhân hết.
Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình xác định: Thửa đất số 9 tờ bản đồ số 10 địa chỉ: A, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình thuộc trong diện quy hoạch đất ở lâu dài, hiện chưa có chủ trương chuyển đổi
mục đích sử dụng đất của huyện.
Lần thứ 2: Khoảng tháng 11 năm 2022, anh Tạ Văn T2, sinh năm 1989 trú tại thôn V, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình là bạn anh Bùi Văn T1 do quen biết nhau nên anh T1 có nói chuyện với anh T2 đang nhờ chị Vũ Thị Bích T3 làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất của mình. Thấy anh T1 đã làm hồ sơ đang chờ phê duyệt nên anh T2 cũng có nhu cầu chuyển đổi đối với 02 thửa đất 482, 483 tờ bản đồ số 20 địa chỉ: M, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình sang đất ở lâu dài. Anh T2 nhờ anh T1 làm thủ tục giúp thì anh T1 nói với anh T2 là chị T3 không trực tiếp làm thủ tục mà nhờ Hoàng Trọng K làm. Tại thời điểm trên anh T2 không quen biết với anh K nên đã nhờ anh T1 làm thủ tục giúp thì anh T1 nhất trí.
Sau đó, anh T1 không liên lạc với chị T3 mà sử dụng số điện thoại 0961.523.xxx gọi điện trực tiếp đến điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 5, lắp sim số 0763.002.684 của Hoàng Trọng K để nhờ tiếp tục làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất đối với 02 thửa đất của anh T2. Lúc này tuy K không làm thủ tục chuyển đổi đất cho anh T1 và không có khả năng chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho anh T2. Thấy anh T1 vẫn tin tưởng mình nên K tiếp tục nảy sinh ý định thông qua anh T1 để chiếm đoạt số tiền của anh T2 để ăn tiêu. Để tạo niềm tin cho anh T1, K nói với anh T1 chỉ làm cho người quen chứ không làm cho người lạ, đồng thời nói nếu làm thì chuyển luôn cho K để lấy sổ của anh T1 ra trước. Do tin tưởng nên anh T1 đồng ý hai bên thống nhất chi phí để chuyển đổi cho 02 thửa đất trên là 240.000.000 đồng (01 suất 120.000.000 đồng). Sau đó anh T1 nói với anh T2 chi phí mà K đưa ra thì anh Tạ Văn T2 đồng ý đã 03 lần chuyển tiền cho anh Bùi Văn T1 số tiền 240.000.000 đồng.
Trong thời điểm từ ngày 25/11/2022 đến ngày. 13/12/2022, anh Bùi Văn T1 đã 03 lần chuyển cho Hoàng Trọng K tổng số tiền 240.000.000 đồng, cụ thể:
- + Ngày 25/11/2022 anh Bùi Văn T1 sử dụng tài khoản ngân hàng T4 số 19030876116021 chuyển số tiền 100.000.000 đồng đến số tài khoản ngân hàng T6 19025541503025 của Hoàng Trọng K.
- + Ngày 28/11/2022 anh Bùi Văn T1 sử dụng tài khoản ngân hàng T4 số 19030876116021chuyển số tiền 160.000.000 đồng đến số tài khoản ngân hàng TMCP T5 VIB số 027704060098186 của Hoàng Trọng K.
- + Ngày 13/12/2022 anh Bùi Văn T1 sử dụng tài khoản ngân hàng T4 số 19030876116021chuyển số tiền 160.000.000 đồng đến số tài khoản ngân hàng T6 19025541503025 của Hoàng Trọng K. Do quá trình chuyển tiền anh T1 chuyển dư số tiền 40.000.000 đồng nên đã liên lạc với K sau đó K đã chuyển lại cho anh T1.
Sau khi chuyển số tiền trên, anh T1 đã sử dụng điện thoại liên lạc với anh T2 để xác nhận số tiền đã nhận. K nói dối anh T1 khoảng 03 tháng sau sẽ có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ tháng 12/2022 đến tháng 02/2023 anh T1 nhiều lần liên lạc với K để hỏi việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất thì K nói dối là do lãnh đạo có thẩm quyền đang bận công việc thanh tra nên chưa ký
được phải chờ đợi thêm thời gian nữa. Ngoài ra khi anh T1 biết K đi chấp hành án phạt tù tại Trại tạm giam N, Cục B0, C1 về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” từ đầu tháng 03/2023 nên anh T1 trình báo sự việc trên đến Cơ quan Công an.
Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình xác định: Từ năm 2022 đến nay Ủy ban nhân dân xã không tiếp nhận, giải quyết hồ sơ chuyển đổi mục đích sử dụng đối với thửa đất 482, 483 tờ bản đồ số 20 địa chỉ M, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình.
Sau khi nhận tiền và hồ sơ của anh T1 do anh T2 nhờ làm hộ, Hoàng Trọng K không nhờ ai làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho anh T2 mà đã ăn tiêu hết số tiền 240.000.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã chứng minh Hoàng Trọng K đã 02 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền của anh Bùi Văn T1 và anh Tạ Văn T2 với tổng số tiền 350.000.000 đồng, số tiền trên K đã ăn tiêu cá nhân hết.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 5, lắp sim số 0763.002.684 của Hoàng Trọng K là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội do K đã làm mất trước khi đi thi hành án nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.
Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tài khoản của Hoàng Trọng K mở tại ngân hàng T6 số tài khoản 19025541503025 và ngân hàng TMCP T5 VIB số tài khoản 027704060098186 và yêu cầu các ngân hàng sao kê chi tiết các giao dịch trong tài khoản của K. Kết quả xác minh các giao dịch trong sao kê tài khoản của Hoàng Trọng K xác định: Sau khi nhận số tiền của anh T1 chuyển đến 02 lần thì K đã chi tiêu hết. Tính đến ngày 30/12/2022 số dư trong tài khoản ngân hàng T6 19025541503025 là 82.031 đồng và số dư trong tài khoản ngân hàng V là 84.863 đồng, đây là phí duy trì tài khoản của các ngân hàng.
Tại Bản cáo trạng số: 24/CT- VKS ngày 29/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Hoàng Trọng K về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
Tuyên bố bị cáo Hoàng Trọng K phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Hoàng Trọng K từ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù đến 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 16/05/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Hoàng Trọng K đã tác động nhờ chị Vũ Thị Bích T3 trả cho anh Bùi Văn T1 số tiền 110.000.000đồng, anh T1 đã nhận đủ số tiền trên và không có ý kiến đề nghị bồi thường gì khác. Đối với số tiền 240.000.000đồng, anh Tạ Văn T2 nhờ anh T1 chuyển cho bị cáo để làm bìa đỏ, cần buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Tạ Văn T2.
Bị cáo nhất trí với luận tội của kiểm sát viên, không có ý kiến bào chữa, tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã ra các Quyết định tố tụng; thực hiện đúng, đầy đủ các hành vi tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; người tham gia tố tụng cung cấp đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo khai: lúc đầu gặp anh T1, bị cáo không có ý định chiếm đoạt tiền của anh T1. Quá trình điều tra, chính bị cáo thừa nhận: bị cáo đã đưa ra những thông tin gian dối đối với anh T1 là bản thân có các mối quan hệ quen biết để chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp (đất 313) sang đất ở lâu dài và bị cáo cũng không có thẩm quyền, khả năng làm được thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất cũng như thực thế cũng không thực hiện hành vi trên và anh T1 đã tin tưởng chuyển tiền cho bị cáo và bị cáo đã tiêu sài hết, đo đó có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo là người có 01 tiền án, với mục đích chiếm đoạt tài sản để ăn tiêu, trong thời gian từ ngày 17/05/2022 đến ngày 13/12/2022, bị cáo đã đưa ra những thông tin gian dối đối với anh T1 là bản thân có các mối quan hệ quen biết để chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp (đất 313) sang đất ở lâu dài, làm anh T1 tin tưởng, Hoàng Trọng K đã 02 lần chiếm đoạt tài sản của: anh Bùi Văn T1, anh Tạ Văn T2 cụ thể:
- Lần 1: Từ ngày 17/05/2022 đến ngày 24/5/2022, Hoàng Trọng K đã chiếm đoạt của anh Bùi Văn T1 tổng số tiền 110.000.000 đồng.
- Lần 2: Từ ngày 25/11/2022 đến ngày 13/12/2022, Hoàng Trọng K thông qua anh Bùi Văn T1 đã chiếm đoạt sô tiền 240.000.000 đồng của anh Tạ Văn T2.
Tổng số tiền Hoàng Trọng K chiếm đoạt của anh Bùi Văn T1 và anh Tạ Văn T2 là 350.000.000 đồng.
Theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì.
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm:
...
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù nừ 7 năm đến 15 năm:
...
8) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000
đồng...”.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử kết luận: hành vi dùng thủ đoạn gian dối, chiếm đoạt 350.000.000đồng của bị cáo đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự.
[3] Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo, đã bị kết án, chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, phạm tội hai lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” và “phạm tội hai lần trở lên” quy định tại điểm h, g khoản 1 Điều 52.
[4] Hình phạt: Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo xét thấy: Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng tội danh, loại hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra theo quy định tại khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo là người có tiền án, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện lại tiếp tục phạm tội nhiều lần cho thấy, bị cáo là người khó giáo dục, cải tạo nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc là hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo. Khi lượng hình cũng cần cân nhắc: quá trình điều tra, truy tố xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, bồi thường thiệt hại, khắc phục một phần hậu quả để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo không nghề nghiệp, không có tài sản, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra Hoàng Trọng K đã bồi thường cho anh Bùi Văn T1 số tiền 110.000.000đồng, anh T1 không có yêu cầu đề nghị gì thêm về phần bồi thường. Đố với số tiền 240.000.000đồng, bị cáo chiếm đoạt của anh Tạ Văn T2, cần buộc bị cáo phải bồi thường cho anh T2.
[6] Trong vụ án có chị Vũ Thị Bích T3 là người liên lạc nhận chuyển khoản số tiền 110.000.000đồng giữa anh Bùi Văn T1 và Hoàng Trong K1, chị T3 không biết việc K1 đưa ra thông tin gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của anh T1 nên chị T3 không vi phạm pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h, g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 357, 468 Bộ luật Dân sự.
- Tuyên bố bị cáo Hoàng Trọng K phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
Xử phạt bị cáo Hoàng Trọng K 08 (T) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 16/05/2024. - Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Tạ Văn T2 số tiền 240.000.000đồng (Hai trăm bốn mươi triệu đồng).
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Hoàng Trọng K phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự trong vụ án hình sự là 12.000.000đồng (Mười hai triệu đồng).
Án xử sở thẩm công khai, bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỎI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Anh Tuấn |
Bản án số 25/2024/HS - ST ngày 19/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ - TỈNH NINH BÌNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 25/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ - TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Trong Kh phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
