Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/DS-ST

Ngày: 19 - 4 - 2024

“ V/v tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng”

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hai

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Văn Trình
  2. Ông Nguyễn Văn Trung

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dự - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thùy Linh - Kiểm sát viên

Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 240/2023/TLST- DS ngày 24 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXX-ST ngày 13 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2024/QĐST-DS ngày 29 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (S1)

Địa chỉ trụ sở: Số B - B N, phường H, quận C, TP ..

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng giám đốc Ngân hàng S1.

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Phạm Hữu T, chức vụ: Chuyên viên Khách hàng cá nhân - Ngân hàng TMCP S CN Sông Hàn - P (Theo Văn bản ủy quyền ngày 26 tháng 12 năm 2023).

Địa chỉ: Số D - D P, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt)

- Bị đơn: Ông Huỳnh Quang T1, sinh ngày 30 tháng 10 năm 1972

Địa chỉ: Số A đường P, tổ A, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo đơn khởi kiện ngày 21 tháng 8 năm 2023 của Ngân hàng Thương mại cổ phần S và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phạm Hữu T trình bày:

Vào ngày 30 tháng 11 năm 2022 Ngân hàng Thương mại cổ phần S (S1) và ông Huỳnh Quang T1 đã ký kết hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của S1 - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng).

Căn cứ vào thu nhập của ông T1, S1 đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng ông T1 đã thực hiện 02 giao dịch với tổng số tiền là 52.880.000 đồng, lãi suất trong hạn áp dụng kể từ ngày 01/11/2022 là 2,77%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn và được S1 quyết định điều chỉnh phù hợp với quy định của Ngân hàng N về lãi suất cho vay.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông T1 đã thanh toán cho Ngân hàng với tổng số tiền là 4.591.220 đồng. (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông T1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 02 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng), nên ngày 08 tháng 4 năm 2023 ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo quy định tại Điều 23 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng). Tính đến ngày 19 tháng 4 năm 2024 ông T1 còn nợ ngân hàng tổng cộng số tiền: 83.592.832 đồng. Trong đó dư nợ 59.208.265 đồng và lãi quá hạn 24.384.567 đồng.

Mặc dù ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu ông T1 có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên ông T1 vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho ngân hàng. Vì vậy, ông T1 đã vi phạm các điều khoản đã quy định tại hợp đồng đã ký kết.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của S1 yêu cầu ông T1 phải có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi phát sinh tính đến ngày 19 tháng 4 năm 2024 tổng cộng số tiền: 83.592.832 đồng. Trong đó dư nợ 59.208.265 đồng và lãi quá hạn 24.384.567 đồng và lãi tiếp tục được tính kể từ ngày 20 tháng 4 năm 2024 theo mức lãi suất hai bên đã ký tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 30 tháng 11 năm 2022 cho đến khi ông T1 thanh toán xong các khoản nợ cho Ngân hàng.

* Đối với bị đơn ông Huỳnh Quang T1: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho ông Huỳnh Quang T1 nhưng ông Huỳnh Quang T1 cố tình vắng mặt không đến Tòa làm việc mà

2

không có lý do. Do đó Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai cũng như không thể tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải được.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng trình tự quy định của pháp luật. Đối với các đương sự: Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

+ Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S đối với ông Huỳnh Quang T1 về việc: “Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng”.

Buộc ông Huỳnh Quang T1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền: 83.592.832 đồng (Tám mươi ba triệu năm trăm chín mươi hai ngàn tám trăm ba mươi hai đồng). Trong đó dư nợ 59.208.265 đồng và lãi quá hạn 24.384.567 đồng (lãi tính đến ngày 19 tháng 4 năm 2024) và trả lãi tiếp theo kể từ ngày 20 tháng 4 năm 2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ cho S1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1]Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Huỳnh Quang T1 nhưng ông Huỳnh Quang T1 vắng mặt không có lý do tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và tại phiên tòa sơ thẩm.

Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt ông Huỳnh Quang T1.

Về nội dung tranh chấp:

[1.2] Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện đề ngày 21 tháng 8 năm 2023 nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền theo Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng cấp thẻ tín dụng ngày 30 tháng 11 năm 2022.

Do đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, quan hệ pháp luật là tranh chấp dân sự về hợp đồng tín dụng

[1.3] Về thẩm quyền: Bị đơn có địa chỉ tại số A đường P, tổ A, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Do đó, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1

3

Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa người đại diện của nguyên đơn ngân hàng Thương mại cổ phần S yêu cầu ông Huỳnh Quang T1 phải có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi phát sinh tính đến 19 tháng 4 năm 2024 tổng cộng số tiền: 83.592.832 đồng. Trong đó dư nợ 59.208.265 đồng và lãi quá hạn 24.384.567 đồng và lãi tiếp tục được tính kể từ ngày 20 tháng 4 năm 2024 theo mức lãi suất hai bên đã ký tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 30 tháng 11 năm 2022 cho đến khi ông T1 thanh toán xong các khoản nợ cho Ngân hàng.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Hợp đồng tín dụng sử dụng thẻ tín dụng giữa ngân hàng Thương mại cổ phần S và ông Huỳnh Quang T1 có hình thức và nội dung phù hợp với các điều 401,402,405 của bộ luật dân sự năm 2015 nên có hiệu lực đối với các bên tham gia giao dịch.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ cho đến nay ông Huỳnh Quang T1 đã thanh toán cho ngân hàng số tiền là 4.591.220 đồng. (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông T1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã quy định tại Điều 02 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng nên ngày 08 tháng 4 năm 2023 ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo quy định tại Điều 23 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng. Vì vậy, ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T1 trả số tiền nêu trên là có căn cứ phù hợp với các điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015.

Hội đồng xét xử xét thấy: Để đảm bảo quyền lợi chính đáng cho Ngân hàng trong việc thu hồi nợ. Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc ông T1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tính đến ngày 19 tháng 4 năm 2024 tổng cộng số tiền: 83.592.832 đồng. Trong đó dư nợ 59.208.265 đồng và lãi quá hạn 24.384.567 đồng và lãi tiếp tục được tính kể từ ngày 20 tháng 4 năm 2024 theo mức lãi suất hai bên đã ký tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 30 tháng 11 năm 2022 cho đến khi ông T1 thanh toán xong các khoản nợ cho Ngân hàng.

[4] Về án phí DSST: Do chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên bị đơn ông Huỳnh Quang T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho ngân hàng số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại biên lai thu số 0001875 ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ.

[5] Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với ý kiến của HĐXX nên HĐXX chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên.

Vì các lẽ trên;

4

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, các điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 3 Điều 26, Điều 186, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về lệ phí, án phí Tòa án.

Tuyên bố: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S đối với ông Huỳnh Quang T1 về việc: “Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng”.

Xử:

  1. Buộc ông Huỳnh Quang T1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền: 83.592.832 đồng (Tám mươi ba triệu năm trăm chín mươi hai ngàn tám trăm ba mươi hai đồng). Trong đó dư nợ 59.208.265 đồng và lãi quá hạn 24.384.567 đồng (lãi tính đến ngày 19 tháng 4 năm 2024)
  2. Kể từ ngày 20 tháng 4 năm 2024 ông Huỳnh Quang T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

    Trường hợp trong hợp đồng thẻ tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Huỳnh Quang T1 có nghĩa vụ nộp là 4.179.641 đồng (Bốn triệu một trăm bảy mươi chín ngàn sáu trăm bốn mươi mốt đồng)
  4. Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu án phí. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền 1.617.976 đồng (Một triệu sáu trăm mười bảy ngàn chín trăm bảy mươi sáu đồng) đã nộp tại biên lai thu số 0001875 ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ.
  5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:
  • - Đương sự;
  • - VKS ND quận Cẩm Lệ;
  • - Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

5

Trương Thị Hai

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/DS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng

  • Số bản án: 25/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín yêu cầu ông Huỳnh Quang Tiến trả số tiền 83.592.832 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger