|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 25/2023/HNGĐ -ST
Ngày: 18 - 8 - 2023
V/v ly hôn, tranh chấp
về nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Quảng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Thúy Vinh.
- Bà Nguyễn Thị Loan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Ngày 18 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 42/2023/TLST - HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2023 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Hà M, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn L, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; có đơn giải quyết vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Dương Minh P, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn B, xã Hải P, huyện B, tỉnh Quảng Bình; hiện nay đang chấp hành án tại Trại giam Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; có đơn giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 14 tháng 6 năm 2023, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Hà M trình bày:
Chị Lê Hà M và anh Dương Minh P tự nguyện tìm hiểu nhau, được gia đình hai bên đồng ý và đăng ký kết hôn ngày 20 tháng 11 năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã P (Nay là xã H), huyện B, tỉnh Quảng Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2020, đến năm 2022 anh P bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xử phạt 19 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và hiện nay đang chấp hành án tại Trại giam Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, do đó mâu thuẩn vợ chồng không thể khắc phục, không còn cách nào để hàn gắn, xây dựng hạnh phúc gia đình. Nhận thấy tình cảm vợ chồng mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống nên chị Lê Hà M yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Hà M yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Dương Minh P.
- Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Dương Hà Tuệ N, sinh ngày 18/4/2018. Khi ly hôn chị M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị M không yêu cầu anh Dương Minh P cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 18/7/2023 bị đơn anh Dương Minh P trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Dương Minh P thống nhất với phần trình bày của chị Lê Hà M về thời gian tìm hiểu và thời gian chung sống. Sau khi kết hôn, anh P, chị M chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2020 phát sinh mâu thuẫn. Năm 2022 anh P bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xử phạt 19 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và hiện nay đang chấp hành án tại Trại giam Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Do anh P hiện nay đang chấp hành án vì vậy tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách nên trước yêu cầu xin ly hôn của chị M thì anh P đồng ý.
- Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Dương Hà Tuệ N, sinh ngày 18/4/2018, khi ly hôn anh P đồng ý giao con chung cho chị M được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh P không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Tòa án nhận định:
[I] Về tố tụng:
[1] Chị Lê Hà M có đơn yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Dương Minh P. Anh P là bị đơn có hộ khẩu đăng ký thường trú tại thôn B, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Tại phiên tòa, chị Lê Hà M và anh Dương Minh P có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
[II] Về nội dung vụ án:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Hà M và anh Dương Minh P tự nguyện tìm hiểu, được gia đình hai bên đồng ý và có đăng ký kết hôn ngày 20 tháng 11 năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã P (Nay là xã H), huyện B, tỉnh Quảng Bình đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, thời gian đầu chị M và anh P chung sống với nhau hạnh phúc. Khoảng năm 2020, giữa chị M và anh P phát sinh nhiều mâu thuẫn. Năm 2022 anh P bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xử phạt 19 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và hiện nay đang chấp hành án tại Trại giam Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình vì vậy hai người cũng không có biện pháp hàn gắn lại tình cảm. Hiện tại, chị M không còn sống chung với anh P và xác định không còn tình cảm với anh P nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn. Tại bản tự khai của anh Dương Minh P cũng xác định không còn tình cảm với chị M và đồng ý ly hôn. Như vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị M và anh P là thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị M yêu cầu được ly hôn với anh P là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2] Về con chung: Chị Lê Hà M và anh Dương Minh P thống nhất giữa chị M và anh P có một con chung tên Dương Hà Tuệ N, sinh ngày 18/4/2018. Khi ly hôn anh P đồng ý giao con chung cho chị M được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và chị M cũng có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung tên Dương Hà Tuệ N, sinh ngày 18/4/2018 cho chị Lê Hà M được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là đảm bảo quyền lợi và phù hợp với nguyện vọng của các đương sự.
[3] Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị M không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con và cam kết đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, ý kiến của chị M là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Lê Hà M và anh Dương Minh P không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí sơ thẩm:
Chị Lê Hà M phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Hà M về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Hà M được ly hôn với anh Dương Minh P.
- Về con chung: Giao con chung tên Dương Hà Tuệ N, sinh ngày 18/4/2018 cho chị Lê Hà M được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành hoặc khi có quyết định khác thay thế.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị M không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con và cam kết đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, ý kiến của chị M là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Hà M và anh Dương Minh P không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm:
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Chị Lê Hà M và anh Dương Minh P đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung, không ai được ngăn cản quyền thăm nom và chăm sóc con chung.
Khi cần thiết một trong hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
Chị Lê Hà M phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ vào số tiền đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 31AA/2021/0002755 ngày 14/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phú Quảng |
Bản án số 25/2023/HNGĐ-ST ngày 18/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 25/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Hà M về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con. [1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Hà M được ly hôn với anh Dương Minh P. [2] Về con chung: Giao con chung tên Dương Hà Tuệ N, sinh ngày 18/4/2018 cho chị Lê Hà M được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành hoặc khi có quyết định khác thay thế. Chị Lê Hà M và anh Dương Minh P đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung, không ai được ngăn cản quyền thăm nom và chăm sóc con chung. Khi cần thiết một trong hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định. [3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị M không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con và cam kết đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, ý kiến của chị M là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết. [4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Hà M và anh Dương Minh P không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
