|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự do – Hạnh phúc
|
Bản án số 25/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 18 - 6 - 2024
V/v “Ly hôn, nuôi con chung"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Ngôn, ông Nguyễn Quang Kim.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Ánh- Thư ký Toà án nhân dân thị xã Việt Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên: Ông Nguyễn Tiến Sỹ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Việt Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 290/2023/TLST-DS ngày 01/11/2023 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXX-ST ngày 02/5/2024; Quyết định hoãn phiên toà số 14/QÐST-HNGĐ ngày 31/5/2024 giữa các đương sự:
-
+ Nguyên đơn: Chị Đoàn Mai L, sinh năm 2001. Địa chỉ: thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
-
+ Bị đơn: Anh Trần Quang Đ, sinh năm 1997. Địa chỉ: TDP H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 30/10/2023 và trong quá trình xét xử, chị Đoàn Mai L vắng mặt tại phiên toà nhưng có lời khai trình bày:
Chị L với anh Trần Quang Đ kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 02/3/2023 tại UBND thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang; có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Trước khi kết hôn hai người được tự do tìm hiểu. Sau khi kết hôn chị L về làm dâu nhà anh Đ ngay ở địa chỉ thôn H, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Trong thời gian kết hôn vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm sống. Chị L và anh Đ đã ly thân nhau từ tháng 10/2023 đến nay không ai còn quan tâm đến ai. Chị L đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở tại thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang từ đó đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị L đề nghị Tòa án cho chị L được ly hôn với anh Đ.
Về con chung: Không có con chung.
Về tài sản và công nợ chung: Chị L không yêu cầu Toà án giải quyết.
Anh Trần Quang Đ vắng mặt tại phiên toà. Toà án đã triệu tập hợp lệ nhưng anh Đ không đến Toà án theo như thông báo. Đây là lần thứ 2 anh Đ vắng mặt tại phiên toà, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ theo thủ tục chung.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án tiến hành xác minh với ông Nguyễn Văn L1, tổ trưởng tổ dân phố H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang và bà Nguyễn Thị N là mẹ đẻ của anh Đ cho biết như sau: Chị L và anh Đ kết hôn với nhau năm 2023. Sau khi kết hôn được một thời gian thì vợ chồng về sống chung cùng bố mẹ chồng ở tại tổ trưởng tổ dân phố H, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang. Hai vợ chồng chưa có con chung. Trong thời gian kế hôn, vợ chồng thường bất đồng quan điểm sống, hai bên gia đình đã hoà giải nhưng không thành. Chị L đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ tháng 10/2023 đến nay. Nay chị L muốn ly hôn với anh Đ, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán từ khi thụ lý đến khi xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên Toà hôm nay, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân đã thực hiện đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tại phiên toà. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 56; 57 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Cho ly hôn giữa chị Đoàn Mai L và anh Trần Quang Đ.
Về án phí: Chị Đoàn Mai L phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm về ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu chứng cú khác do Toà án thu thập. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tại phiên tòa hôm nay chị L vắng mặt nhưng có đơn xin xử vắng mặt; anh Đ vắng mặt lần thứ 2 không có lý do. Do vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị L và anh Đ theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh Đ kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 02/3/2023 tại UBND thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang, có cưới hỏi theo phong tục địa phương nên xác định hôn nhân hợp pháp.
Trong thời gian chung sống hai bên thường xảy ra mâu thuẫn vợ chồng (Do hai người không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm sống) dẫn tới việc hai người ly thân từ tháng 10/2023 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Xét thấy tình trạng hôn nhân mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị L được ly hôn với anh Đ.
[3] Về con chung: hai vợ chồng chưa có con chung.
[4] Về tài sản chung, công nợ chung: Chị L và anh Đ không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Chị L phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 58 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí Tòa án;
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 144; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đoàn Mai L và anh Trần Quang Đ.
Về án phí: Chị Đoàn Mai L phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm về ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003111 ngày 01/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Việt Yên (nay là thị xã V). Xác nhận chị L đã nộp xong án phí sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: chị Đoàn Mai L và anh Trần Quang Đ được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Trường |
Bản án số 25/2024/HNGĐ-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 25/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
